Chùa
thường gọi là chùa Long Đọi, tọa lạc trên núi Long Đọi
thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Nam Hà. Chùa được
khởi dựng từ thời Lý. Theo sách Tự điển di tích văn hóa
Việt Nam (Hà Nội, 1993), vào năm 1118, Vua Lý Nhân Tông dừng
xem cảnh đẹp nơi đây, ý muốn dựng chùa và đặt tên núi
là Long Đọi. Gần 3 năm sau, chùa vàõ tháp hoàn thành với
quy mô to lớn và tráng lệ. Tháp mang tên Sùng Thiện Diên Linh,
cao 13 tầng, mở 40 cửa gió, tầng trên đặt hộp xá-lợi
nạm vàng, tầng dưới cùng đặt tượng Phật Đa Bảo. Vua
đã mở hội khánh thành vào tháng 4 - 1122, thổi cơm chay đãi
khách đói, cấp tiền giúp cho dân nghèo và dựng bia do Triều
liệt Hình Bộ Thượng Thư Nguyễn Công Bật soạn. Tấm bia
có chiều cao 2,66m, ngang 1,67m, dày 0,29m, đế bia là phiến đá
chạm rồng nổi dựng ở chùa và các pho tượng Kim Cang bằng
đá là những di vật và tượng quí từ thời Lý. Chùa đã
được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa
quốc gia.
BIỂU
TƯỢNG TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN Ở CHÙA ĐỌI
LẠI
PHI HÙNG
Đạo
Phật vào nước ta ngay từ những năm đầu công nguyên. Người
Việt cổ gặp gỡ Phật ở tinh thần bình đẳng bác ái, cứu
khổ, cứu nạn, mặt khác lại bản địa hóa Phật theo tín
ngưỡng của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, để Phật
trở về đời sống thực. Vua Lý Nhân Tông (Vua thứ tư thời
Lý) đã tích cực truyền bá đạo Phật trong sự kết hợp
hài hòa như vậy.
Tháp
Sùng Thiện Diên Linh do ông đích thân cho xây dựng (1118-1122)
là biểu tượng thiêng liêng về Phật, nhưng ý nghĩa tên gọi
của nó lại thể hiện sự sùng ái, cầu mong những điều
tốt đẹp trong cuộc sống. Bên cạnh tháp, ông để lại nhiều
di vật, văn vật mang biểu tượng dân gian bản địa, hàm
chứa nhiều ý nghĩa vừa sâu xa vừa hiện thực.
Biểu
tượng rồng: Được chạm khắc xung quanh và trên trán bia
Sùng Thiện Diên Linh, trên vách tháp cũng chạm khắc nhiều
mảng rồng ổ. Rổng biểu tượng tín ngưỡng của các cư
dân canh tác lúa nước, ẩn dụ sự cầu mong mưa thuận gió
hoà để phát triển sản xuất nông nghiệp. Trên trán bia chạm
hai con rồng đối xứng, chầu vào hàng chữ Đại Việt quốc
đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (Tháp
bia Sùng Thiện Diên Linh - nước Đại Việt, triều vua Lý thứ
tư). Rồng còn được dùng làm vật trang trí trên gạch đất
nung: thân hình tròn trịa với nhiều khúc uốn lượn, chân
dài và nhỏ dần về phía đuôi, vừa có dáng dấp của một
con rắn, vừa có hình thù của cá sấu. Hình rồng còn thô
sơ như vậy là do tái hiện tín ngưỡng của cư dân Việt
cổ sống ở đồng bằng sông nước với tục thờ rắn và
cá sấu, lấy các loài thuỷ tộc này làm vật tổ. Huyền
thoại họ Hồng Bàng (giải thích nguồn gốc các dân tộc
người Việt cổ) kể rằng, Lạc Long Quân (vị tổ của người
Việt đồng bằng) là từ một loài rắn hóa thân mà thành.
Rắn + cá sấu theo trí tưởng tượng dân gian được trừu
tượng hóa, dần trở thành hình tượng rồng, để rồi, rồng
cũng được các triều đại phong kiến Việt Nam chọn làm
biểu tượng của vương quyền, càng về sau vẻ mạo càng
thể hiện thế bậc uy quyền phong kiến của nó.
Khắc
rồng vào bia Sùng Thiện Diên Linh ghi hiệu triều đại mình
giữa nơi thờ Phật, phải chăng Lý Nhân Tông có ý tưởng
đưa tín ngưỡng dân gian - đặc điểm cơ bản của bản sắc
văn hóa dân tộc lúc đó-vào việc truyền bá đạo Phật;
để kết hợp giữa vương quyền và thần quyền nhằm củng
cố và xây dựng Nhà nước phong kiến tự chủ của mình,
làm hưng thịnh dân tộc, thực hiện giấc mơ rồng vàng của
Lý Thái Tổ ngay từ buổi rời đô về Thăng Long để mở
ra kỷ nguyên với nền văn hóa Đại Việt - Thăng Long rực
rỡ.
Biểu
tượng chim: Một di vật ở chùa Đọi gây được sự chú
ý của nhiều người là tượng "đầu người mình chim", di
sản văn hóa của người Chăm (người Chăm gọi là chim thần
Kinari). Tượng có bộ mặt giống con người hiện thực, thể
hiện sự trầm tư, vẻ đẹp dịu dàng nhưng lại rất rạng
rỡ, phảng phất hình bóng của người Chăm với chiếc khăn
quấn đầu rủ từ thái dương xuống vai. Có thể biểu tượng
chim thần Kinari được người Chăm lấy từ môtíp chim thần
Guruda trong thần thoại Ấn Độ và đã bản địa hóa nó về
nội dung, cách tân về nghệ thuật.
Theo
các nhà nghiên cứu dân tộc học và văn hóa dân gian thì trước
khi đạo Phật cùng văn hóa Ấn Độ du nhập vào Đông Nam
Á, các cư dân ở đây (kể cả người Việt - Mường cổ,
người Chăm cũng như nhiều tộc người khác cư trú ở vùng
rừng núi phía Bắc và vùng Tây Nguyên ở nước ta) đã có
tín ngưỡng khá phổ biến là tục thờ chim, chim trở thành
vật tổ. Trong mo Đẻ đất đẻ nước của người Mường
(cùng gốc với người Việt cổ) thì chim Tùng - chim trống,
chim Tót-chim mái (có dị bản gọi là chim Ấy, chim Ứa) là
vị tổ sinh ra người Mường, người Việt, người Dao… Bà
Âu Cơ trong huyền thoại họ Hồng Bàng là nhân vật hóa thân
từ nòi tiên (chim) trong tục thờ chim của người Lạc Việt.
Như
vậy tượng "đầu người mình chim" được các vua Lý đem
từ Chiêm Thành về và chạm khắc trên các cột trong kiến
trúc là do có sự tương đồng về tín ngưỡng dân gian giữa
người Việt và người Chăm trong bối cảnh văn hóa Đông
Nam Á thời viễn cổ.
So
sánh biểu tượng chim thần Guruda trong thần thoại Ấn Độ,
trong việc thờ Phật với biểu tượng chim trong tín ngưỡng
của các tộc người ở Đông Nam Á nói chung và ở Việt Nam
nói riêng thì thấy: Chim thần Guruda trong thần thoại Ấn Độ
là vật cưỡi của thần Vinus (thần huỷ diệt), lúc thì mang
hình dáng loài chim, lúc thì đầu chim, nửa dưới có chân
giống người, là kẻ thù của thần rắn. Cả chim thần và
rắn thần ở đây trước, sau vẫn là "vị thần", không có
gốc gác gì liên quan đến sự hình thành các tộc người.
Trong việc thờ Phật, Guruda biểu tượng cho sức mạnh Phật
pháp, phò Phật về cõi hư vô, tịch diệt. Chim theo tín ngưỡng
dân gian của các tộc người cư trú trên rừng núi nước
ta bởi được coi là vật tổ nên biểu hiện cho sự sinh sôi
nảy nở. Theo quan niệm lưỡng hợp, lưỡng phân của người
Việt cổ thì, chim và rắn tuy khác nòi nhưng lại có thể
hỗn mang với nhau. Vì vậy, huyền tích về Âu Cơ - vị tổ
của các cư dân sống trên rừng núi hôn phối với Lạc Long
Quân - vị tổ của các cư dân sống ở đồng bằng sông nước,
là âm hợp dương để sinh 100 trứng, nở ra 100 người con
trai và sau đó lại phân chia: 50 con theo mẹ (âm) lên rừng
núi (dương), 50 con theo cha (dương) xuống đồng bằng (âm)
(1).
Thời
Lý, tín ngưỡng này chỉ gặp gỡ quan niệm của Phật ở
chỗ đều coi loài vật gần gũi với loài người, có thể
hóa kiếp thành nhau trong vòng chuyển hóa luân hồi. Vì thế
mà các vua Lý đã đem tượng "đầu người mình chim" vào chùa
(ở một số chùa nước ta thời Lý - Trần thường trang trí
nơi bệ đá Phật ngự bốn góc có bốn chim thần Guruda nâng
Phật bay lên).
Biểu
tượng rùa vàng: Phần đầu bia Sùng Thiện Diên Linh dành đoạn
ngắn giảng giải về "cái diệu thể huyền tịch" và lịch
sử đạo Phật. Phần chủ yếu còn lại ca ngợi công lao,
tài trí của vua Lý Nhân Tông, đặc biệt là tài thiết chế
các mô hình kiến trúc: "… Gặp lúc trung du cảnh đẹp, muôn
việc nghỉ ngơi thì vua vận dụng "sự kỳ diệu của mưu
thần" vào việc chế thuyền ngự nguy nga, to đẹp như cảnh
thần tiên trên bể, chế tạo mô hình rối nước rùa vàng
mà mọi cảnh đều sinh động như người gỗ đánh chuông,
đài sen 7 tầng có bánh xe chuyển động…".
Đoạn
văn miêu tả trên đã cường điệu tài trí của vua Lý Nhân
Tông trong sự vận dụng "sự kỳ diệu của mưu thần". Vậy
mưu thần ở đâu, do ai phò giúp? Có phải ở nơi Phật?
Trong
tín ngưỡng của một số tộc người cư trú ở vùng núi
nước ta thời viễn cổ có tục thờ thần rùa. Sử thi Đẻ
đất đẻ nước của người Mường cho biết, nhân vật có
tài thiết kế, xây dựng chính là thần rùa vàng. Thần rùa
vàng giúp con người dựng ngôi nhà theo kiểu cấu trúc giống
cái mai của mình, nguyên vật liệu thì có gỗ để làm kèo
cột, luồng nứa làm sàn nhà, còn lá tranh làm mái. Ở Rùa,
theo tư duy về vũ trụ của người Việt cổ, đã hợp đủ
các yếu tố âm dương (vừa sống trên cạn vừa sống dưới
nước, vừa cứng lại vừa mềm, vừa động lại vừa tĩnh)
nên ẩn dụ về sự kết cấu vững bền, về sức sinh sôi,
về trường tồn. Vì thế, nhà nước Văn Lang chuyển thành
nhà nước Âu Cơ ở trình độ tổ chức cao hơn là do tộc
người có tục thờ rùa (có thể là các tộc Tày - Thái) đã
dung hợp với con cháu của bà Âu Cơ (chim) và ông Lạc Long
Quân (rắn - rồng). Vua Thục Phán - An Dương Vương có nguồn
gốc từ tộc người thờ thần rùa nên ông mới có được
"sự kỳ diệu của mưu thần" trong việc xây loa thành và chế
tạo nỏ thần (nói khác đi là trong việc xây dựng và bảo
vệ nhà nước Âu Lạc).
Nếu
như chuyện họ Hồng Bàng giải thích nguồn gốc dân tộc,
thì chuyện rùa vàng đề cập đến nhiều vấn đề trọng
yếu trong nghiệp dựng nước và giữ nước trên tất cả
các mặt văn hóa, chính trị, quân sự, ngoại giao… của người
đứng đầu đất nước đối với vận mệnh của quốc gia.
Nhà
Lý mở ra kỷ nguyên Đại Việt nhưng vẫn dựa vào văn học
dân gian (văn hóa dân gian nói chung) làm nền tảng tinh thần
để củng cố quốc gia độc lập, tự chủ của mình. Phải
chăng bài học rùa vàng lúc nào cũng có trong ý thức của
các vua Lý: "sự kỳ diệu của mưu thần" mà văn bia Sùng Thiện
Diên Linh nhắc tới chắc có sự liên tưởng đến câu chuyện
rùa vàng? Và tài trí của Lý Nhân Tông trong thiết chế các
mô hình kiến trúc (xây dựng đất nước) được ví như sự
kỳ diệu trong việc xây thành Cổ Loa và chế tạo nỏ thần
của vua An Dương Vương xưa kia.
Trở
về với rối nước rùa vàng thời Lý, mà văn bia đã miêu
tả, ta dường như thấy "… Lòng sóng rung rinh. Rùa vàng nổi
lên đội ba quả núi. Nước chảy nhịp nhàng, rùa nở phô
vảy đẹp, chuyển động bốn chân và nhe răng, trợn mắt
phun nước biểu diễn, điệu sáng sủa trên mặt nước tràn
đầy. Động này, cửa nọ tranh nhau mở, xuất hiện nhiều
thiên thần nhuần nhị, nét mặt thanh tân, há đâu phải vẻ
đẹp người dương thế. Tay nhỏ nhắn mềm mại múa điệu
hồi phong, mắt nhìn mây biếc và ca khúc vân hội. Chim phượng
có sừng hợp nhau thành đôi. Tất cả đều múa phô diễn".
Rối nước là sản phẩm văn hóa dân gian của người Việt
canh tác lúa nước, là sinh hoạt văn hóa phổ biến trong hội
hè ở các làng quê sau những vụ mùa bội thu. Nghệ thuật
này được Lý Nhân Tông phát triển, ông cho chế tạo mô hình
rối nước rùa vàng làm trò diễn trong cung đình, nơi thiêng
liêng Phật ở như chùa Đọi. Lý Nhân Tông tuy đi theo đạo
Phật nhưng không phải để hướng về cõi niết bàn cực
lạc hư vô mà tìm về thú vui đời thực. Đó là biểu hiện
ý nguyện của cư dân nông nghiệp nước ta đã có từ xa xưa,
luôn cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân
cường vật thịnh. Điều đó cũng giải thích rằng: bên cạnh
việc đưa đất nước thành quốc gia Phật giáo, Lý Nhân Tông
rất chú trọng đến phát triển sản xuất nông nghiệp (nghề
trồng lúa nước và trồng dâu nuôi tằm), biến nước Đại
Việt thành một quốc gia văn minh nông nghiệp thuở ấy.
Qua
phân tích ý nghĩa một số biểu tượng tín ngưỡng dân gian
còn lưu lại trong các di vật ở chùa Đọi, có thể khẳng
định rằng: thời Lý, tín ngưỡng dân gian thấm sâu vào mọi
thiết chế xã hội, làm cho vua, dân, Phật gần nhau và Phật
giáo được dân gian hóa, được biểu hiện ra thành ước
vọng về cuộc sống hiện thực tốt đẹp.
Qua
đây, chúng ta thấy Lý Nhân Tông thực sự tiêu biểu cho các
ông vua phong kiến Việt Nam trong lịch sử biết tiếp thu có
chọn lọc văn hóa - tư tưởng nước ngoài để làm giàu cho
văn hóa dân tộc Việt Nam.
L.P.H
_______________
1.
Xin xem Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam,
Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 2001.