Chùa
tọa lạc ở thôn Điềm Tịnh, xã Ninh Phụng, huyện Ninh Hòa,
tỉnh Khánh Hòa, cạnh dòng sông Lốt, dưới cầu Bến Gành.
Chùa do Thiền sư Tế Hiển, hiệu Bửu Dương, đời 36 dòng
Lâm Tế chánh tông khai sơn vào giữa thế kỷ XVIII, là tổ
đạo đầu tiên của chi phái Thiền Liễu Quán tại huyện
Ninh Hòa. Chùa được kiến trúc theo kiểu chữ "Môn" gồm chánh
điện, Đông lang, Tây lang, chánh điện có 3 gian, bài trí tôn
nghiêm. Ơở phía Tây ngôi chùa có 6 ngôi bảo tháp, đặc biệt
là tháp Tổ Bửu Dương 7 tầng có long chầu, lân phục. Tháp
hình bát giác, cao 4m, chung quanh có thành cao 0,80m, 56 mặt trên
tầng tháp là 56 bức chạm trổ có giá trị cao về mỹ thuật.
I.
VỊ
TRÍ, ÐỊA ÐIỂM:
Chùa
Thiên Bửu còn có tên là Tổ Ðình Thiên Bửu, dân gian quen
gọi Chùa Kỳ, gồm Thiên Bửu Thượng tọa lạc tại làng
Ðiềm Tịnh, xã Ninh Phụng, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
và Thiên Bửu Hạ tọa lạc tại Thị Trấn Ninh Hòa, Khánh
Hòa. Hai chùa như 2 anh em, có cùng 1 tên và cùng một vị Thiền
sư khai sơn sáng lập trong khoảng thời gian từ năm 1653-1687,
thời Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần, (1648 -1687), cách nay trên
300 năm, thuộc vào hàng những ngôi chùa cổ nhất từ Ðèo
Cả đến Mủi Cà Mau.
*
THIÊN BỬU THƯỢNG (TBT): nằm trên bờ hửu ngạn sông Lốt
tại đầu làng Ðiềm Tịnh, cảnh trí thơ mộng, yên tĩnh.
Từ con đường đất liên xã Ninh Phụng - Ninh Trung người
ta nhìn thấy cây me đại thụ cao sừng sững đứng trước
sân chùa, gốc xù xì to bằng 5 người ôm không xuể, tuổi
thọ ước tính khoảng trên 300 năm. Bước vào Cổng Tam Quan
những ngày đầu Xuân, du khách nghe lòng lâng lâng thoát tục.
Mùi trầm hương, mùi hoa lan, hoa sứ...hòa quyện cùng với
tiếng chuông tiếng mõ và câu kinh tiếng kệ tạo thành một
thế giới huyền ảo khiến tâm hồn lắng đọng dễ dàng
quên đi bao cái tầm thường ô trọc của cuộc đời vô thường
bể khổ dù chỉ trong giây lát. Cây sứ đứng bên lối gạch
phủ đầy hoa trắng có dáng nghiêng trước gió trông thật
tao nhã, đuợc trồng từ thời Tổ Phước Tường về trụ
trì chùa cách nay cũng đã trên 100 năm.
Chùa
nằm trên khu đất rộng thoáng chừng 2 hecta trải dài từ
bờ sông Lốt đến đường liên xã, đó là chưa tính gần
nửa hecta tư điền do một nữ Phật tử thời trước dâng
cúng cho chùa mà ngôi bảo tháp của bà vẫn còn đó, nhưng
hiện nay tất cả những tư điền tư thổ của chùa không
còn nữa.
Cách
chùa hơn 100 mét, bên kia đường, là nơi an nghỉ của Tổ
khai sơn và các vị trụ trì, quy tụ cả chục ngôi bảo tháp
rêu phong trầm mặc đứng bên cây gạo Ðình làng ước chừng
200 tuổi thọ có tàn lá sum sê như chiếc lộng, hằng năm
cứ đến cuối Ðông tán lá rụng hết, cây đứng trơ cành,
nhưng sang Xuân lại đâm chồi nẩy lộc mặc chiếc áo mới
màu nhũ đồng được điểm tô bằng những bông hoa đỏ rực
như lửa.
* THIÊN
BỬU HẠ (TBH): rộng rãi khang trang tọa lạc bên bờ hửu
ngạn sông Dinh, cạnh Cầu Sắt, thuộc Thị Trấn Ninh Hòa,
hiện do Thượng Tọa Thích Hạnh Hải trụ trì.
Cả
2 chùa thờ phượng giống nhau. Gian giữa Ngôi Chánh Ðiện
đặt pho tượng Phật Thích Ca ngồi cao lớn sơn son thếp vàng,
cùng nhiều tượng Phật khác như Phật A Di Ðà, Phật Di Lặc
v.v... Gian bên trái thờ Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát, gian bên
phải thờ Ông, tức Quan Công. Nhà Tây thờ Vị Sơ Tổ Thiền
Tông Bồ Ðề Ðạt Ma, cùng bài vị của Tổ Bửu Dương và
các vị Trụ Trì.
II.
LỊCH
SỬ THÀNH LẬP:
Chùa
Thiên Bửu (TB) cũng giống như bao chùa cổ khác tại Khánh
Hòa không lưu lại tiểu sử, nhưng căn cứ vào: Bài Vị của
Tổ khai sơn và các Tổ kế thừa hiện thờ tại chùa TB, cũng
như tại một số chùa khác trong huyện, (như chùa làng Nhĩ
Sự, chùa làng Thạch Thành, chùa làng Bình Thành, chùa làng
Phước Thuận, chùa làng Phụng Cang…), Ðại Hồng Chung cổ
đúc thời Chúa Nguyễn khắc tên chùa Thiên Bửu và tên làng
Ðiềm Tịnh còn lưu tại chùa làng Nhĩ Sự, xã Ninh Thân, Ngôi
Cổ Tháp Bửu Dương tại Thiên Bửu Thượng và Bức Giới
Ðao Ðộ Ðiệp của Ðại đức Huệ Thân, vị trụ trì đời
thứ ba của chùa còn lưu tại TB Hạ, chúng ta có thể biết
được lịch sử thành lập chùa, sau khi đối chiếu qua một
số sử liệu.
Năm
1653, Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần chiếm vùng đất của Chiêm
Thành từ Ðèo Cả đến sông Phan Lang, đặt dinh Thái Khang
tức Khánh Hòa ngày nay, gồm 2 phủ Thái Khang (Ninh Hòa) và
Diên Ninh (Diên Khánh), cử quan cai cơ Hùng Lộc làm thái thú
và đưa dân vào định cư theo chính sách di dân. Chính sách
này đã có từ thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng khi chiếm Phú
Yên năm 1611, đã được thực hiện liên tục, bền bỉ qua
8 đời Chúa, đến năm 1759 thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (vị
Chúa thứ tám) thì hoàn tất cuộc Nam Tiến: mở mang, di dân
và đặt nền cai trị lên cả một dải đất mới bao la trù
phú chạy dài từ đèo Cù Mông tới mủi Cà Mau.
Thời
Chúa Nguyễn ở xứ Ðàng Trong, Phật giáo rất hưng thịnh,
chùa chiền mọc lên như nấm. Ngay các Chúa cũng rất sùng
đạo (như Chúa Tiên, Chúa Sãi... đặc biệt Chúa Nguyễn Phúc
Chu đã quy y, thọ Bồ Tát giới tại gia với thiền sư Thạch
Liêm, Chúa có pháp danh Hưng Long, đạo hiệu Thiên Túng Ðạo
Nhân, là tác giả của 1 bài minh được khắc trên bia đá
năm 1714 tại chùa Thiên Mụ).
Theo
chính sách di dân, những người nghèo khổ không có ruộng
đất, được chia thành toán, mỗi toán 50 người được cấp
lương thực, dụng cụ đến định cư khai hoang tại các vùng
đất mới để lập làng. Ruộng đất khẩn được họ được
quyền canh tác làm ăn miễn thuế trong 3 năm đầu. Tuy nhiên
người lưu dân trong thời gian đầu rất đau khổ vì nỗi
buồn nhớ quê hương cộng với bao lo âu nhọc nhằn phải
đối diện hằng ngày với thú dữ, thiên tai, dịch bệnh...
nơi vùng đất lạ, nên họ cần hơn ai hết sự giúp đỡ,
an ủi, bảo vệ, nhất là ở lãnh vực tâm linh, tinh thần.
Ðó là lý do và cũng là động lực thúc đẩy các vị Thiền
Tăng nhanh chóng lên đường dấn thân vào các vùng đất mới
theo chính sách của Chúa Nguyễn để kịp thời đáp ứng nhu
cầu Ðức tin Tôn giáo của lưu dân. Nhờ thế mà đời sống
của lưu dân được mau chóng ổn định cả về 2 mặt vật
chất và tinh thần, góp phần làm cho công cuộc Nam Tiến của
các Chúa Nguyễn thành tựu rực rỡ như một phép lạ.
Trước
bối cảnh đó, vào năm 1653 khi Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần
lập ra dinh Thái Khang đưa dân vào định cư, thì Thiền sư
Tế Hiển Bửu Dương có lẽ cũng sớm rời chùa Thiên Mụ
ở Thuận Hóa (Huế) lên đường vào đất Thái Khang (Ninh Hòa)
chèo ghe ngược dòng sông Dinh, sông Lốt, thấy cây cỏ tốt
tươi, cư dân sống cần cù rải rác ven sông, ngài lập ra
một ngôi chùa nằm dưới bóng me bên bờ hửu ngạn sông Lốt
đặt tên là Thiên Bửu Tự (TB Thượng). Và sau đó vì tình
hình lưu dân đòi hỏi ngài lại lập tiếp bên bờ hữu ngạn
sông Dinh một ngôi chùa thứ hai cũng lấy tên là Thiên Bửu
Tự (TB Hạ). Nhìn cách thức đặt tên cũng đủ thấy tình
cảm của Ngài gắn bó sâu nặng với ngôi chùa cũ Thiên Mụ
biết bao!
Từ
những luận cứ trên chúng ta có thể kết luận rằng chùa
Thiên Bửu đã được Tổ Bửu Dương tạo dựng trong thời
Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), sớm nhất là năm 1653 và
trễ nhất là năm 1687, cách nay trên 300 năm.
Tổ
Tế Hiển Bửu Dương là một trong 5 vị đệ tử mang chữ
Tế của Thiền sư Thiệt Diệu Liễu Quán là vị Tổ khai sáng
Chi phái Thiền Liễu Quán VN theo bài kệ:
“Thiệt
Tế Ðại Ðạo, Tánh Hải Thanh Trừng...”
Tổ
Liễu Quán người Phú Yên xuất gia từ nhỏ, trụ trì Chùa
Thiên Mụ, có nhiều đệ tử tài đức tham gia Phong trào Nam
Tiến. Ơû một ngôi chùa tại Phú Yên, báo Giác Ngộ, Sài
Gòn có đăng tài liệu ghi chép danh tánh 5 vị đệ tử của
Tổ Liễu Quán trong đó có Tế Hiển Bửu Dương, Tế Dưỡng
Tổ Huấn....
Ðại
hồng chung cổ còn lưu tại chùa Nhĩ Sự, cho biết Tổ Bửu
Dương đã có sự liên hệ mật thiết với ngôi chùa này.
Tất
cả các bài vị của Tổ Bửu Dương hiện thờ tại nhiều
chùa khác nhau đều ghi giống nhau: “Ðại Lão Hòa Thượng
Tế Hiển, hiệu Bửu Dương” do đó, tuổi thọ của ngài
tối thiểu cũng phải 80.
Qua
2 ngôi chùa cổ kính và có tầm vóc do Ngài tạo lập, qua ngôi
bảo tháp 7 tầng của Ngài được kiến trúc kỳ công, chúng
ta có thể biết được Ngài là một vị Thiền sư đạo cao
đức trọng danh tiếng một thời được lưu dân mến mộ.
Ngài là người đầu tiên truyền bá Chi phái Thiền Liễu Quán
tại Ninh Hòa, vì thế chùa TB được gọi là Tổ Ðình TB.
Những công đức mà ngài đã xả thân vì Ðạo vì Ðời, vì
Lưu Dân, vì Phong Trào Nam Tiến thật là lớn lao.
III.
TRUYỀN
THỪA
Chỉ
xin ghi lại 1 số vị tiêu biểu:
Ðại
lão Hòa thượng Tế Hiển Bửu Dương: Khai sơn và trụ trì,
có bài vị và bảo tháp 7 tầng, giỗ ngày 20/2 ÂL.
Ðại
lão Hòa thượng Ðại Trì Phước Khánh: Trụ trì, có bài vị,
không có bảo tháp.
Ðại
đức Liễu Bửu Huệ Thân: Trụ trì, có bài vị và bảo tháp
3 tầng, hiện còn lưu 1 Giới Ðao Ðộ Ðiệp do triều đình
cấp, sau khi Ðại đức Huệ Thân trúng tuyển Cuộc Thi Khảo
hoạch tại Ðại Giới Ðàn và Lễ Cầu Siêu Chiến Sĩ Trận
Vong tổ chức ở Huế năm 1835, có đóng dấu triện của vua
Minh Mạng.
Hòa
thượng Thanh Chánh Phước Tường: Trụ trì, trong thời Pháp
thuộc, gốc người Phú Yên, đạo cao đức trọng đã mang
lại sự thạnh mậu cho chùa. Năm 1932, ngài tổ chức Ðại
Giới Ðàn tại Thiên Bửu Thượng. Chùa có một Ban Múa Lục
Cúng nổi tiếng đi trình diễn khắp các chùa trong tỉnh. Ngài
có trên 30 vị đệ tử tài đức đi hoằng pháp lập chùa
nhiều nơi (như Hòa thượng Nhơn Duệ, Nhơn Hoằng ở Nha Trang,
Hòa thượng Nhơn Hưng ở Cam Ranh, Hòa thượng Nhơn Thứ ở
Ðà Lạt, Hòa thượng Nhơn Tri ở Sài Gòn tức là Hòa thượng
Thích Quãng Ðức tự thiêu năm 1963...). Ngài tịch ngày 28/7
ÂL. có bài vị và bảo tháp 5 tầng.
Ðại
đức Nguyên Hoa hiệu Minh Tâm, người làng Quang Ðông, xuất
gia từ nhỏ, hiện trụ trì chùa, có công đức trong việc
trùng tu chùa năm 1989 và xây cất lại chùa hoàn toàn mới
nguy nga đẹp đẽ theo kiểu mái cong năm1996.
IV.
TÀI LIỆU, DI TÍCH
1.*
Cổ
Tháp BỬU DƯƠNG:
Tọa
lạc tại khu Mã Tháp đầu làng Ðiềm Tịnh. Không có tài
liệu ghi chép năm xây dựng ngôi cổ tháp, nhưng căn cứ ở
phần: Tổ Bửu Dương thành lập Chùa Thiên Bửu vào thời
Chúa Nguyễn Phúc Tần như đã trình bày ở trên, chúng ta đưa
ra 2 thời điểm để làm mốc cho quãng thời gian Tổ viên
tịch và Tháp được xây dựng:
- Thời
điểm sớm nhất chùa được tạo lập: tức năm 1653, giả
dụ khi đó Tổ BD đã 80 tuổi và sống thọ tới 100 tuổi,
thì năm viên tịch của ngài là: 1653+20= 1673, năm này thuộc
thời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687).
-
Thời điểm trễ nhất chùa được tạo lập: tức năm 1687,
giả dụ khi đó Tổ BD mới 25 tuổi và sống thọ tới 100
tuổi, thì năm viên tịch của ngài được tính là: 1687+75
= 1762, năm này thuộc thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765).
Từ
cơ sở đó, dựa trên các đặc tính về vật liệu, kỷ thuật,
hình thức kiến trúc của ngôi Cổ Tháp, chúng ta có thể mạnh
dạn kết luận rằng: Tháp Bửu Dương được xây dựng trong
quãng thời gian từ thời Chúa Nguyễn Phúc Tần đến cuối
thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, cách nay trên 238 năm, là một
di tích cổ kính nhất của tiền nhân còn lưu tại Ninh Hòa.
Tháp
được kiến trúc bằng vật liệu thô sơ: vôi, cát... Chung
quanh Tháp xây một bức thành hình vuông, tại cửa đặt 2
tượng kỳ lân nằm phủ phục và trên 2 trụ đứng 2 bên
có khắc 2 câu đối chữ Nho nhưng chỉ còn đọc được 4
chữ: “Văn Pháp Văn Kinh” nghĩa là Nghe Pháp Nghe Kinh. Trên
thân tháp hình bát giác cao 7 tầng gồm có 56 mặt là 56 bức
phù điêu được chạm trỗ rất sinh động, tuyệt vời hình
mai lan cúc trúc long lân quy phụng, đàn, sáo, chữ Phạn. Tháp
bị thời gian tàn phá nặng nề có nguy cơ sẽ bị sụp đổ.
2.
Tháp HUỆ THÂN: 3 tầng kiến trúc đơn giản, chỉ còn đọc
được 2 chữ Huệ Thân trước cửa Tháp, không ghi năm xây
cất nhưng chúng ta có thể ước đoán Tháp được xây dựng
trong thời đại Nhà Nguyễn từ năm 1935 trở về sau.
3.
Tháp PHƯỚC TƯỜNG: 5 tầng kiến trúc quy mô thời Vua Bảo
Ðại có xây thành khang trang đẹp mắt.
4.
Ðại Hồng Chung cổ: còn lưu tại chùa làng Nhĩ Sự, Ninh Thân.
5.
Giới Ðao Ðộ Ðiệp: của Ðại đức Huệ Thân còn lưu tại
TBH.
6.
Những Bài Vị: của Tổ Bửu Dương và các vị Trụ Trì.
7.
Cây me đại thụ: tại TBT.
V.
THƠ
VĂN VIẾT VỀ CHÙA và THÁP
Thanh
thủy đoạn phiền não
Cô
thôn hiện già lam
(
Tạm dịch:Nước trong dứt phiền não
Thôn
vắng hiện già lam)
Phạm
Ðài (Ông Cửu Ba)
THIỀN
ÐẠO
Thiền
đạo vấn mai hoa
Thái
hòa thuyết Phật gia
Hương
trà yên chính noản
Trần
lự bán tiêu ma.
(Tạm
dịch:Thiền đạo hỏi mai hoa
Hòa
bình thuyết Phật gia
Hương
trà vừa bốc khói
Niềm
tục nửa tiêu ma)
Phạm
Ðài (Ông Cửu Ba)
Ðiềm
lãng phất khai kim thế giới
Tịnh
trần lộ xuất ngọc lâu đà
(Tạm
dịch: Ðiềm lành khai mở kim thế giới
Tịnh
tâm lộ hiện ngọc lầu đài)
Phạm
Ðài (Ông Cửu Ba)
VỊNH
CHÙA THIÊN BỬU
Lưng
trời xanh tán lá me ra
Tháp
trổ rêu hoa nét tự già
Sứ
trắng nghiêng mình bên cổng phụ
Ðào
hồng tỏa bóng góc sân qua
Aâm
vang tiếng mõ rung miền tục
Ngân
vọng hồi chuông động giấc gà
Thiên
Bửu xiển dương nguồn đạo pháp
Lòng
thanh tịnh vút chạm trời xa.
Ðiềm
Ca
THÁP
BỬU DƯƠNG
Nắng
tắt nhìn lên tháp Bửu Dương
Xa
xa ngọn núi lẫn mù sương
Cành
me nhẹ nhẹ đưa theo gió
Bông
gọa hăng hăng rụng cách đường
Lân
phục ngoài thành đeo đạc ngửng
Rồng
chầu trước cửa hóa mây nương
Ðâu
đây từng tiếng chuông chùa vọng
Xao
động trăng đồng quyện khói hương.
Ðiềm
Ca
CHÙA
THIÊN BỬU
Ba
trăm năm trầm mặc phương Ðông
Tháp
cổ, me già ôm mái cong
Lối
gạch trăm hương nhòa xứ đạo
Chày
kình một tiếng động tầng không
Dòng
sông trong trẻo mây in bóng
Tán
gạo tơ non ráng tụ đồng
Khách
đã đi rồi chùa tĩnh lặng
Me
vàng lả tả rớt bên song
Vinh
Hồ
BÊN
THÁP BỬU DƯƠNG
Chiều
xuống ngồi bên tháp Bửu Dương
Bâng
khuâng hoa điệp nở ven đường
Long
chầu lân phục văn kinh pháp
Hạc
nội mai vàng lẩn khói sương
Cây
gạo bao năm rồi trút lá
Dòng
sông một thoáng hiện vô thường
Về
đâu trong vạn trùng sinh tử?
Cát
vữa âm thầm đêm nhả hương.
Vinh
Hồ
VI.
KẾT LUẬN:
Nhắc
Huế, du khách nhớ sông Hương, núi Ngự, Lăng Tự Ðức, cửa
Ngọ Môn, chùa Thiên Mụ, Tháp Phước Duyên v.v... Nhắc Ninh
Hòa người ta cũng không quên sông Dinh, núi Vọng Phu, Lăng
Bà Vú, Hòn Khói, Chùa Thiên Bửu, Tháp Bửu Dương v.v...
Tháp
Bửu Dương là một di tích cổ kính quý hiếm có giá trị
về lịch sử và kiến trúc tuyệt vời được xây dựng từ
thời Trịnh - Nguyễn, cách nay khoảng trên 238 năm.
Chùa
Thiên Bửu trên 300 năm lịch sử đã trải qua những năm tháng
u trầm.
Năm1989
dân làng Ðiềm Tịnh đã đồng tâm hiệp lực kẻ của người
công quyết chí trùng tu lại Ngôi Cổ Tự đã bị dột nát
hư hại nặng nề, và sau đó cũng mạnh dạn tổ chức một
ngày Giỗ Tổ Bửu Dương trọng thể sau mấy mươi năm trầm
lặng. Dân làng áo khăn chỉnh tề lũ lượt về chùa từ sáng
sớm, ai nấy đều lộ vẻ hân hoan trên nét mặt. Các Tăng
Ni Phật tử từ khắp nơi trong huyện, tỉnh kể cả Ðà Lạt,
Sài Gòn cũng về dự có tới năm, sáu trăm người. Hàng trăm
xe gắn máy, hàng chục xe khách lớn nhỏ đậu chật cả khuôn
viên chùa, tràn lên tới khu Mã Tháp làm cho các cụ già phải
rơi lệ vì cảm động. Cảm động nhất là Lễ Viếng Tháp
Bửu Dương! Ðoàn hành hương gồm cả chục vị Hòa thượng,
Thượng tọa, Ðại đức đi đầu mặc áo cà sa vàng, có hương
hoa cờ lộng chiêng trống trang nghiêm, theo sau có hàng trăm
nam nữ Phật tử xếp thành 2 hàng nối đuôi nhau hướng về
Cổ Tháp. Khi đến Tháp, từng người chấp tay cung kính, khấn
vái, dâng hương và đặt hoa lên bệ Tháp, rồi đi 1 vòng quanh
Tháp... Tất cả đồng niệm: Nam Mô A Di Ðà Phật... râm ran
vang động cả một vùng u tịch khói hương nghi ngút...
Dù
cuộc đời có đổi thay, tình đời có vọng động, nhưng
Chùa xưa, Tháp cũ vẫn còn đó, ấp ủ mối tình quê tình
nước, là cội nguồn thâm sâu, là y uyên tịch tịnh trong
tâm tưởng của những kẻ tha hương phiêu bạt muốn quay về:
Chùa
xưa ấp ủ tình dân tộc
Tháp
cũ u hoài cuộc bể dâu
Ly
khách dừng chân trên bến vắng
Về
đâu? Tóc bạc trắng giang đầu!
VINH
HỒ
(Orlando
5/2003)
http://www.ninh-hoa.com
Tài
liệu tham khảo:
-
Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Ðôn.
-
Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim.
-
Sài Gòn 300 Năm Cũ của Nguyên Hương Nguyễn Cúc.
-
Báo Giác Ngộ (nhiều số).