THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 Các Ngôi Chùa 
Tỉnh Khánh Hòa
 
 
 
 
 
 
 

 

c
Những Ngôi Chùa Việt Nam
TỈNH KHÁNH HÒA

CHÙA KỲ VIÊN TRUNG NGHĨA
Tâm Không Vĩnh Hữu

Đứng Hòn Chồng trông ra Hòn Yến
Thăm Tháp Bà về viếng Sinh Trung
Giang sơn cẩm tú chập chùng…

Sinh Trung là tên của một ngọn núi nằm trong lòng thành phố biển Nha Trang, gần cầu Hà Ra, trên con đường Sinh Trung chạy bên cạnh Quốc Lộ I ra hướng Bắc. Trên ngọn núi này, từ xưa đã có một ngôi miếu hiển hiện tọa lạc trên đỉnh với một diện tích rộng có tường thành bao quanh, và cây xanh quanh năm tỏa rợp bóng mát. Đó là một ngôi miếu thờ thần, được thiết lập vào năm Ất Mão 1795 (có tư liệu chép là được xây dựng vào năm 1802), sau khi Nguyễn Ánh đánh chiếm lại được vùng đất Nha Trang và Thành Diên Khánh dưới thời Tây Sơn. Ngôi miếu này được dựng lên để thờ  những vị công thần và chiến sĩ trận vong đã có công với nhà Nguyễn. Năm Tự  Đức thứ 5 (1852), triều Nguyễn cho trùng tu lại và đặt tên là Trung Nghĩa Miếu. Từ năm1948 đến năm 1950,  Đoan Huy Hoàng Thái Hậu, thứ  phi của vua Khải Định, sinh mẫu của vua Bảo Đại, thường được gọi là Đức Bà Từ  Cung, đã đích thân nhiều lần đến viếng miếu, tổ chức những buổi tế lễ lớn, và sau đó đã cùng với một số hào lão của làng Vạn Thạnh vận động hiến cúng ngôi Trung Nghĩa Miếu cho Giáo hội Phật giáo tỉnh Khánh Hòa. Ngay sau đó, Giáo hội đã điều Hòa thượng Thích Thiện Minh về làm trụ trì, và hòa thượng đã đổi tên miếu thành Khuôn Hội Kỳ Viên. Trải qua liên tiếp mấy đời trụ trì sau là các Hòa thượng Thích Từ Mãn, Hòa thượng Thích Chí Tín, Đại đức Thích Viên Mãn, ngôi cổ miếu Trung Nghĩa đã trở thành một ngôi chùa phía trước có điện thờ Phật, và sau điện vẫn có thờ công thần tử sĩ với tên danh mới… Cho đến năm 1990, thượng tọa trụ trì Thích Trí Viên –Ban Đại Diện Khuôn Hội- đã cùng với đông đảo phật tử thuần thành phát nguyện hồi hướng công đức mở một cuộc đại trùng tu Khuôn Hội Kỳ Viên, xây dựng lại chánh điện khang trang, xây thêm nhà thờ Tổ, gác chuông, và rất nhiều công trình phụ khác trong khuôn viên chùa, làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của một chốn già lam thánh chúng, đến tháng 2 năm1992 thì làm lễ khánh thành, chính thức lấy tên là Kỳ Viên Trung Nghĩa Tự, dân địa phương thường chỉ gọi gọn là chùa Kỳ Viên.

Ngày hôm nay vãn cảnh chùa, bước lên những bậc tầng cấp rộng và dài được tu sửa hoàn chỉnh vào năm Đinh Sửu 1997, hai bên có bờ thành, lan can uốn lên lượn xuống được trang trí thêm những bức trang bằng đá mài, xem kẽ với những bệ trụ có chóp là hình búp sen thật trang nhã. Tỏa bóng mát cho những bậc tầng cấp suốt từ dưới lên trên đỉnh núi là những giàn hoa, cây xanh tán rợp cả hai bên, tạo nên sự bình yên thanh tịnh giữa trời đang nắng gắt gay, hay đang mưa bay lất phất… Thong thả từng bậc, trước khi vào trong khuôn viên chùa, khách nhàn du có thể dừng chân từng chặp để ngắm nghía  tượng đắp nổi một chú khỉ trông giống Tề Thiên như từ trong vách đá nhô người ra chào đón khách,  hay có thể đứng lại đọc và nghiền ngẫm những câu kinh Pháp Cú tuyệt diệu mà thật gần gũi dễ hiểu được khắc trên những tấm đá mài, như : “Người nào cầu yên vui cho mình, mà lấy đao đại não hại kẻ khác, thì sẽ không được yên vui”, hay câu:“ Giữ  lời nói đừng nóng giận, điều phục lời nói chánh chơn, xa lìa lời nói thô ác, dùng lời nói tu hành”… Bước qua cổng tam quan rộng lớn, vào đến sân chùa cũng rộng thênh thang, chánh điện mái cong trên thềm cao hiện ra trước mắt với ngói màu rêu phong, các con rồng uốn lượn trên nóc chầu pháp luân, và hai tháp nhỏ thấp thoáng nhô lên hai bên nóc điểm xuyết thêm cho vẻ cổ kính thiêng liêng, khoảng giữa là tên chùa được viết bằng chữ Hán nổi bật trên nền vôi màu ngà trước chánh điện. Trên thềm chánh điện là tượng của hai con thanh sư  (sư tử xanh) thật lớn án ngữ hai góc tả hữu. Trong góc sân phía bên phải cổng tam quan, một tượng Di Lặc Tôn Phật thật lớn được sơn phết nhũ vàng đang ngồi trên một hòn non bộ bằng đá núi, leo trèo đu bám trên thân Ngài là sáu đồng tử ngộ nghĩnh tượng trưng cho “Lục Tặc” (còn gọi là Lục Căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) đã được giáo hóa giác ngộ. Đối xứng với tượng Phật Di Lặc, phía góc trái là tượng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cũng thật cao lớn cưỡi trên lưng thanh sư. Tường thành bao quanh ngôi cổ miếu xưa kia,  nay chỉ thấy còn một đoạn lộ ra bên cạnh cây đa cổ thụ có trên vài trăm tuổi nằm bên trái chánh điện. Dựa theo dãy tưỡng thành mới chạy dài ra phía sau chùa là những ô linh cốt do Phật tử bốn phương đem lên chùa ký gửi với hướng nguyện vong linh người thân của mình được nương bóng Từ Bi đặng siêu thăng Tịnh Độ Quốc.

Vòng ra phía sau lưng chánh điện, bước qua cây cầu nhỏ bằng xi-măng bắc qua một hồ cá tai tượng có bố trí các hòn non bộ xinh xắn, sẽ thấy Gác Nhà Chuông sáu trụ  nằm giữa những chậu cây cảnh như sứ, bách tùng diệp, đại tùng diệp được bài trí hài hòa chen lẫn với những cây cao bóng mát như bồ đề xanh rì lá, phượng vĩ đỏ lòe hoa… Cạnh nhà chuôâng là một gian nhà nhỏ trống vách tứ bề, giữa có bàn ghế bằng đá dùng làm nơi cho khách nghỉ chân để có thể tiếp tục dạo bước vào sâu phía sau chùa, được chiêm bái tượng Bạch Y Quan Âm lộ thiên với dáng vẻ thanh thoát dịu hiền đứng trên một đài cao hướng nhìn về biển Đông… Tận cùng sân sau của chùa, trên triền dốc xổ xuống phía khu dân cư đông đúc bằng những bậc tầng cấp, chợt hiện lên một khu Ô Linh Cốt được thiết kế như những dãy nhà chung cư thu nhỏ, có mái che lợp ngói hồng, bao bọc chung quanh một điện nhỏ thờ  tượng U Minh Giáo Chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát như đang quy y đãnh lễ, chầu nghe Ngài thuyết pháp và tiếp dẫn để linh phách được về cõi miền rực  rỡ Ánh Đạo Vàng, tạo nên một không khí trang nghiêm và ấm áp. Lên đến bên trong chánh điện, các tượng Phật và Bồ Tát đều vàng rực lên giữa những tràng phang, bảo cái, phướng lọng, đèn hoa… Đặc biệt ở phía sau nhà hậu Tổ, nằm bên một góc im ắng là một bàn thờ  đầy linh vị và di ảnh của chư hương linh ký thác,  trên đó có di ảnh của Đức Bà Từ Cung và con trai của bà là vua Bảo Đại cùng nằm ở vị trí trung tâm. Được biết, Chi hội Nguyễn Phước Tộc tỉnh Khánh Hòa đã chọn chốn thiền tự thanh tịnh này để nương nhờ Tam Bảo qua các lễ cầu siêu, cầu an cho dòng dõi hoàng thân quốc thích nhà Nguyễn. Bên cạnh bàn thờ này, trên tường bên trái có treo hai khung kính lớn lồng bên trong là các thư tịch văn bản cổ giấy đã ố vàng, nhưng Hán tự vẫn còn rõ từng nét: “Đại Nam Quốc- Trung Hưng Công Thần Linh Vị”. Đó chính là bài vị liệt kê danh tánh của 350 vị công thần có công với triều đại nhà Nguyễn, nếu ai biết tiếng Hán sẽ đọc được tên của từng người.

Những năm qua, chùa Kỳ Viên đã được tu bổ xây dựng thêm nhiều công trình, cảnh sắc mới lạ để đón chân khách thập phương vào chốn già lam trên núi giữa thành phố du lịch Nha Trang. Từng bước chậm vãn cảnh Kỳ Viên Trung Nghĩa Tự, ngắm từng vết tích xưa cũ, trông từng cảnh sắc tân kỳ, mới thấy được rằng ngôi chùa này đúng là một “khu vườn kỳ lạ khác thường”, xứng đáng khi đã được Nhà Nước công nhận di tích lịch sử -văn hóa của Xứ Trầm Hương.


Nhìn từ ngoài cổng

Kinh Pháp Cú trên vách chùa

Lầu chuông

Chánh điện

Tượng Di Lặc

Tượng Địa Tạng

Tượng Quan Âm

TÂM KHÔNG- VĨNH HỮU
 

07-23-2008 04:23:55


 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap