Đứng
Hòn Chồng trông ra Hòn Yến
Thăm
Tháp Bà về viếng Sinh Trung
Giang
sơn cẩm tú chập chùng…
Sinh
Trung là tên của một ngọn núi nằm trong lòng thành phố biển
Nha Trang, gần cầu Hà Ra, trên con đường Sinh Trung chạy bên
cạnh Quốc Lộ I ra hướng Bắc. Trên ngọn núi này, từ xưa
đã có một ngôi miếu hiển hiện tọa lạc trên đỉnh với
một diện tích rộng có tường thành bao quanh, và cây xanh
quanh năm tỏa rợp bóng mát. Đó là một ngôi miếu thờ thần,
được thiết lập vào năm Ất Mão 1795 (có tư liệu chép là
được xây dựng vào năm 1802), sau khi Nguyễn Ánh đánh chiếm
lại được vùng đất Nha Trang và Thành Diên Khánh dưới thời
Tây Sơn. Ngôi miếu này được dựng lên để thờ những
vị công thần và chiến sĩ trận vong đã có công với nhà
Nguyễn. Năm Tự Đức thứ 5 (1852), triều Nguyễn cho trùng
tu lại và đặt tên là Trung Nghĩa Miếu. Từ năm1948 đến
năm 1950, Đoan Huy Hoàng Thái Hậu, thứ phi của vua
Khải Định, sinh mẫu của vua Bảo Đại, thường được gọi
là Đức Bà Từ Cung, đã đích thân nhiều lần đến
viếng miếu, tổ chức những buổi tế lễ lớn, và sau đó
đã cùng với một số hào lão của làng Vạn Thạnh vận động
hiến cúng ngôi Trung Nghĩa Miếu cho Giáo hội Phật giáo tỉnh
Khánh Hòa. Ngay sau đó, Giáo hội đã điều Hòa thượng Thích
Thiện Minh về làm trụ trì, và hòa thượng đã đổi tên
miếu thành Khuôn Hội Kỳ Viên. Trải qua liên tiếp mấy đời
trụ trì sau là các Hòa thượng Thích Từ Mãn, Hòa thượng
Thích Chí Tín, Đại đức Thích Viên Mãn, ngôi cổ miếu Trung
Nghĩa đã trở thành một ngôi chùa phía trước có điện thờ
Phật, và sau điện vẫn có thờ công thần tử sĩ với tên
danh mới… Cho đến năm 1990, thượng tọa trụ trì Thích Trí
Viên –Ban Đại Diện Khuôn Hội- đã cùng với đông đảo
phật tử thuần thành phát nguyện hồi hướng công đức mở
một cuộc đại trùng tu Khuôn Hội Kỳ Viên, xây dựng lại
chánh điện khang trang, xây thêm nhà thờ Tổ, gác chuông, và
rất nhiều công trình phụ khác trong khuôn viên chùa, làm thay
đổi hoàn toàn diện mạo của một chốn già lam thánh chúng,
đến tháng 2 năm1992 thì làm lễ khánh thành, chính thức lấy
tên là Kỳ Viên Trung Nghĩa Tự, dân địa phương thường chỉ
gọi gọn là chùa Kỳ Viên.
Ngày
hôm nay vãn cảnh chùa, bước lên những bậc tầng cấp rộng
và dài được tu sửa hoàn chỉnh vào năm Đinh Sửu 1997, hai
bên có bờ thành, lan can uốn lên lượn xuống được trang
trí thêm những bức trang bằng đá mài, xem kẽ với những
bệ trụ có chóp là hình búp sen thật trang nhã. Tỏa bóng
mát cho những bậc tầng cấp suốt từ dưới lên trên đỉnh
núi là những giàn hoa, cây xanh tán rợp cả hai bên, tạo nên
sự bình yên thanh tịnh giữa trời đang nắng gắt gay, hay
đang mưa bay lất phất… Thong thả từng bậc, trước khi vào
trong khuôn viên chùa, khách nhàn du có thể dừng chân từng
chặp để ngắm nghía tượng đắp nổi một chú khỉ
trông giống Tề Thiên như từ trong vách đá nhô người ra
chào đón khách, hay có thể đứng lại đọc và nghiền
ngẫm những câu kinh Pháp Cú tuyệt diệu mà thật gần gũi
dễ hiểu được khắc trên những tấm đá mài, như : “Người
nào cầu yên vui cho mình, mà lấy đao đại não hại kẻ khác,
thì sẽ không được yên vui”, hay câu:“ Giữ lời nói
đừng nóng giận, điều phục lời nói chánh chơn, xa lìa lời
nói thô ác, dùng lời nói tu hành”… Bước qua cổng tam quan
rộng lớn, vào đến sân chùa cũng rộng thênh thang, chánh
điện mái cong trên thềm cao hiện ra trước mắt với ngói
màu rêu phong, các con rồng uốn lượn trên nóc chầu pháp
luân, và hai tháp nhỏ thấp thoáng nhô lên hai bên nóc điểm
xuyết thêm cho vẻ cổ kính thiêng liêng, khoảng giữa là tên
chùa được viết bằng chữ Hán nổi bật trên nền vôi màu
ngà trước chánh điện. Trên thềm chánh điện là tượng
của hai con thanh sư (sư tử xanh) thật lớn án ngữ hai
góc tả hữu. Trong góc sân phía bên phải cổng tam quan, một
tượng Di Lặc Tôn Phật thật lớn được sơn phết nhũ vàng
đang ngồi trên một hòn non bộ bằng đá núi, leo trèo đu
bám trên thân Ngài là sáu đồng tử ngộ nghĩnh tượng trưng
cho “Lục Tặc” (còn gọi là Lục Căn : mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý) đã được giáo hóa giác ngộ. Đối xứng với tượng
Phật Di Lặc, phía góc trái là tượng Văn Thù Sư Lợi Bồ
Tát cũng thật cao lớn cưỡi trên lưng thanh sư. Tường thành
bao quanh ngôi cổ miếu xưa kia, nay chỉ thấy còn một
đoạn lộ ra bên cạnh cây đa cổ thụ có trên vài trăm tuổi
nằm bên trái chánh điện. Dựa theo dãy tưỡng thành mới
chạy dài ra phía sau chùa là những ô linh cốt do Phật tử
bốn phương đem lên chùa ký gửi với hướng nguyện vong linh
người thân của mình được nương bóng Từ Bi đặng siêu
thăng Tịnh Độ Quốc.
Vòng
ra phía sau lưng chánh điện, bước qua cây cầu nhỏ bằng
xi-măng bắc qua một hồ cá tai tượng có bố trí các hòn
non bộ xinh xắn, sẽ thấy Gác Nhà Chuông sáu trụ nằm
giữa những chậu cây cảnh như sứ, bách tùng diệp, đại
tùng diệp được bài trí hài hòa chen lẫn với những cây
cao bóng mát như bồ đề xanh rì lá, phượng vĩ đỏ lòe hoa…
Cạnh nhà chuôâng là một gian nhà nhỏ trống vách tứ bề,
giữa có bàn ghế bằng đá dùng làm nơi cho khách nghỉ chân
để có thể tiếp tục dạo bước vào sâu phía sau chùa, được
chiêm bái tượng Bạch Y Quan Âm lộ thiên với dáng vẻ thanh
thoát dịu hiền đứng trên một đài cao hướng nhìn về biển
Đông… Tận cùng sân sau của chùa, trên triền dốc xổ xuống
phía khu dân cư đông đúc bằng những bậc tầng cấp, chợt
hiện lên một khu Ô Linh Cốt được thiết kế như những
dãy nhà chung cư thu nhỏ, có mái che lợp ngói hồng, bao bọc
chung quanh một điện nhỏ thờ tượng U Minh Giáo Chủ
Địa Tạng Vương Bồ Tát như đang quy y đãnh lễ, chầu nghe
Ngài thuyết pháp và tiếp dẫn để linh phách được về cõi
miền rực rỡ Ánh Đạo Vàng, tạo nên một không khí
trang nghiêm và ấm áp. Lên đến bên trong chánh điện, các
tượng Phật và Bồ Tát đều vàng rực lên giữa những tràng
phang, bảo cái, phướng lọng, đèn hoa… Đặc biệt ở phía
sau nhà hậu Tổ, nằm bên một góc im ắng là một bàn thờ
đầy linh vị và di ảnh của chư hương linh ký thác,
trên đó có di ảnh của Đức Bà Từ Cung và con trai của bà
là vua Bảo Đại cùng nằm ở vị trí trung tâm. Được biết,
Chi hội Nguyễn Phước Tộc tỉnh Khánh Hòa đã chọn chốn
thiền tự thanh tịnh này để nương nhờ Tam Bảo qua các lễ
cầu siêu, cầu an cho dòng dõi hoàng thân quốc thích nhà Nguyễn.
Bên cạnh bàn thờ này, trên tường bên trái có treo hai khung
kính lớn lồng bên trong là các thư tịch văn bản cổ giấy
đã ố vàng, nhưng Hán tự vẫn còn rõ từng nét: “Đại
Nam Quốc- Trung Hưng Công Thần Linh Vị”. Đó chính là bài
vị liệt kê danh tánh của 350 vị công thần có công với
triều đại nhà Nguyễn, nếu ai biết tiếng Hán sẽ đọc
được tên của từng người.
Những
năm qua, chùa Kỳ Viên đã được tu bổ xây dựng thêm nhiều
công trình, cảnh sắc mới lạ để đón chân khách thập phương
vào chốn già lam trên núi giữa thành phố du lịch Nha Trang.
Từng bước chậm vãn cảnh Kỳ Viên Trung Nghĩa Tự, ngắm
từng vết tích xưa cũ, trông từng cảnh sắc tân kỳ, mới
thấy được rằng ngôi chùa này đúng là một “khu vườn
kỳ lạ khác thường”, xứng đáng khi đã được Nhà Nước
công nhận di tích lịch sử -văn hóa của Xứ Trầm Hương.
Nhìn
từ ngoài cổng
Kinh
Pháp Cú trên vách chùa
Lầu
chuông
Chánh
điện
Tượng
Di Lặc
Tượng
Địa Tạng
Tượng
Quan Âm
TÂM
KHÔNG- VĨNH HỮU
07-23-2008
04:23:55