THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 Các Ngôi Chùa 
Tỉnh Khánh Hòa
 
 
 
 
 
 
 

 

c
Những Ngôi Chùa Việt Nam
TỈNH KHÁNH HÒA

CHÙA HẢI ẤN (CHÙA HANG)
Tâm Không Vĩnh Hữu

PHẦN THỨ NHẤT:
TIỂU SỬ CỐ SƯ BÀ KHAI SƠN CHUA HẢI ẤN

Cố Sư bà khai sơn chùa Hải Ấn pháp danh là Thích Nữ Tâm Hải, pháp hiệụ Chánh Lượng, thuộc dòng thiền Lâm Tế đời thứ 43, tục danh Mai Thị Hồng Hà, tức Đào, sinh ngày mồng 8 tháng 8 năm Bính Thìn (1916) tại làng La Hà- huyện Quảng Trạch- tỉnh Quảng Bình, xuất thân từ một gia đình Nho học, tin Phật. Thân phụ của Sư bà là cụ Mai Hữu Tập, giữ chức Thượng Thư Bộ Lễ dưới triều vua Thành Thái. Thân mẫu là cụ bà Võ Thị Tuân. Mồ côi cha khi mới 7 tuổi, được mẹ nuôi nấng giáo dưỡng và học hành đầy đủ. Sư bà lại thường theo mẹ đi lễ chùa bái Phật nên đã sớm huân tập hạt giống Bồ Đề trong tâm hồn vô tư trong sáng. Khi trưởng thành, thuận theo ý mẹ nên Sư bà lập gia đình, nhưng trong thâm tâm luôn gìn giữ lòng tôn kính Tam Bảo, và vẫn hướng về một nẻo Chánh Giác để mong cầu một cuộc sống được giải thoát khỏi bi lụy khổ đau...

Đến thời đất nước kháng chiến chống Pháp, Sư bà theo mẹ rời quê cha Quảng Bình vào cư ngụ sinh sống với anh trai là Mai Hữu Khôn đang tòng sự tại Khánh Hòa, từ đó cuộc đời Sư bà gắn bó với mảnh đất nổi tiếng là Xứ Trầm Hương đầy thiêng liêng và huyền bí này, như là quê hương thứ hai.

Mùa hạ năm 1940, sau khi đến chùa Hải Đức dự lễ cầu siêu cho thân mẫu nhằm ngày vía đức Quán Thế Âm Bồ Tát, Sư bà đã thành tâm phát nguyện xin quy y thọ ngũ giới với Hòa thượng Thích Bích Không (pháp danh Trừng Đàn, còn được gọi là Giác Phong Đại Sư). Bấy giờ, Hòa thượng Bích Không vừa nhận lãnh nhiệm vụ trụ trì chùa Hải Đức từ Hòa thượng Thích Phước Huệ, bắt đầu công cuộc trùng tu và di dời ngôi chùa này từ dưới chân núi lên đồi Trại Thủy. Sư bà với tư cách là một Phật tử thuần thành, và là một trong những đệ tử tục gia tinh tấn đã góp công sức không nhỏ của mình cùng với bổn sư suốt mấy năm trời xây dựng một chùa Hải Đức hoàn toàn mới mẻ… Cho đến năm 1944, đất nước rơi vào cảnh chiến tranh loạn lạc, Hòa thượng Bích Không tản cư ra Bắc, Sư bà ở lại Nha Trang và xin xuất gia thế phát với Hòa thượng Thích Phước Huệ. Sau khi thọ giới Sa Di Ni, Sư bà được Hòa thượng Phước Huệ gửi vào Phan Rang tu học trong suốt 5 năm tại Tổ Đình Diệu Ấn của Ni Trưởng Thích Nữ Đàm Hương. Năm 1953, Sư bà về huyện Ninh Hòa thọ Cụ Túc giới tại Giới Đàn Tổ đình Thiên Bửu do Hòa thượng Thích Phước Huệ làm Đàn đầu, sau đó được đưa ra Huế học Luật tại Phật học đường Diệu Đức. Năm 1956, Sư bà thọ Bồ Tát giới, rồi quay trở vào lại Nha Trang cùng ni giới làm Phật sự, hoằng dương Chánh pháp. Đến năm 1958, Sư bà là một trong những người tiên phong trong việc sáng lập Ni viện Diệu Quang, với đạo hạnh sáng ngời được ni chúng tín nhiệm nên được giữ chức Quản trị Ni viện trong liền 6 năm. Năm 1960, Sư bà được Giáo hội Phật giáo Trung phần cử làm Giám đốc Cô Nhi viện Phật giáo tại chùa Bửu Tịnh (huyện Tuy Hòa- Phú Yên). Đến năm 1962, vì lý do sức khỏe suy yếu, Sư bà về lại Nha Trang để dưỡng bệnh, nhưng vẫn hoạt động Phật sự không ngơi nghỉ. Năm 1968, đáng kể nhất là cuộc vận động ráo riết của Sư bà trong việc xây dựng ni tự An Tường (Đồng Đế-Nha Trang), sau đó đã cùng với Sư Cô Thiện Tín và đạo hữu xây dựng chùa này hoàn tất mỹ mãn, góp thêm một nền móng vững chắc trong công cuộc chấn hưng Phật giáo nước nhà. Năm 1971, được sự ủng hộ và khích lệ của tăng ni, đặc biệt là của Hòa Thượng Thích Trí Thủ (bậc cao tăng đạo hạnh đã viết giấy giới thiệu để Sư bà Chánh Lượng mở cuộc vận động quyên góp, và cũng là người đóng góp đầu tiên với số tiền 5.000 đồng), cũng như sự hưởng ứng đóng góp nhiệt thành của Phật tử trong tỉnh, Sư bà đã từng bước khởi công xây dựng xong một ngôi chùa tọa lạc ngay trên mảnh đất nằm ven triền của núi Sạn hướng ra sông biển, thuộc địa phận làng Cù Lao, và đặt tên là Hải Quang Tịnh Thất. 

Sau, nhân chuyến ghé thăm chùa, Hòa thượng Thích Trí Thủ đã đặt lại tên là Hải Ấn Tự. Từ đó, chùa chính thức mang tên là Hải Ấn, dân bản địa và Phật tử ở khắp nơi lại thường gọi bằng một cái tên rất đỗi gần gũi thân quen mà đầy cung kính: Chùa Hang.

Trong suốt quãng thời gian từ khi ngôi tịnh thất trở thành một ngôi chùa lớn, với sức vóc nhỏ bé, chân yếu tay mềm, nhưng Sư bà lại luôn dốc hết tâm sức ra để từng bước xây dựng chốn già lam dành cho ni chúng: đúc đại hồng chung nặng 175 ký vào năm 1974, sửa sang xây dựng nhà trù, tăng xá, cổng tam quan, tường thành, quy tập các mộ sư cô về một nơi gần bên chùa, trồng cây ăn trái và các loại hoa, bài trí cây cảnh, trồng cây gây rừng ven triền núi phía sau lưng ngôi chùa… dường như không biết mệt mỏi, tạo nên một không khí thanh khiết lạ thường, một thế giới an vui tĩnh lặng bên dòng đời nhộn nhịp xôn xao…

Sau năm 1975, khi đất nước được thống nhất thanh bình, Sư bà xin Giáo hội cho thôi giữ mọi chức vụ để chuyên tâm tịnh tu pháp môn Tịnh Độ.

Đến mùa hạ năm 1991, lúc 16 giờ 15 ngày mồng 9 tháng 5 năm Tân Mùi (1991), Sư bà nhẹ nhàng xả bỏ uẩn thân, thong dong đi về cõi Phật, hưởng thọ 78 tuổi, với 38 tuổi đạo, được an táng tại ngôi bảo tháp nằm bên phải của ngôi chùa do chính đôi bàn tay nhỏ nhắn và tâm nguyện lớn lao của Sư bà tạo lập nên.

PHẦN THỨ HAI:
LỊCH SỬ CHÙA HẢI ẤN

Trong cẩm nang du lịch vòng quanh đất nước, cũng như cẩm nang du lịch tỉnh Khánh Hòa, du khách chắc hẳn đã không tìm thấy tên của chùa Hải Ấn, có thể nói đó là một thiếu sót. Bởi, có thử một lần đặt chân vào khuôn viên chùa để tận mắt ngắm nhìn từng tảng đá khóm hoa, và tận tai nghe kể về những câu chuyện kỳ ảo của ngôi chùa này từ ngày khai sơn lập tự đến nay, mới thấy được nơi đây đúng là một chốn thiền môn huyền diệu, xứng đáng trở thành một địa điểm tuyệt vời của Xứ Trầm Hương thu hút khách thập phương trong hiện tại và tương lai.

Hãy đi theo một con đường chạy bọc phía sau lưng Tháp Bà nổi tiếng, qua khu dân cư đông đúc, ngược dòng trôi của con sông Lau, chạy dài dài theo chân một ngọn núi, dẫn đên khu du lịch Suối Khoáng Nóng –Tắm Bùn đang thu hút khách, sẽ thấy cổng tam quan của một ngôi chùa nằm sát bên lề tay phải hiện ra. Sừng sửng trên triền núi xanh um cây lá, chùa Hải Ấn nổi bật lên với tường màu vàng nhạt và những vòm mái cong cong màu đỏ. Dân quanh vùng cũng thường gọi chùa bằng hai tiếng thân quen mà đầy cung kính: chùa Hang, vì trong chùa có một cái hang động.

Năm 1968, vào một buổi chiều trời trong gió mát êm ả, Sư Bà Thích Nữ Chánh Lượng nhẹ bước khoan thai tản bộ từ chùa An Tường men theo sườn núi Sạn về phía dòng sông Lau đang lặng lờ trôi ra cửa biển Nha Trang, và dừng chân nghỉ ngơi tại một hang đá nhỏ bên dưới của chân núi này. Phóng tầm mắt tinh tường nhìn ngắm xung quanh, Sư Bà nhận ra ngay chính nơi đây đang sẵn có cảnh vật tĩnh mịch, địa thế phong quang, hòa hợp với núi sông mây gió thật là vô cùng thích hợp cho sự tu niệm của một tu sĩ xuất thế gian mà bất ly thế gian. Sư Bà khởi lên ý nguyện xây dựng một ngôi tự viện trên khu đất đá hoang sơ, ngay khi còn tĩnh tọa trong hang đá còn đẫm hơi lạnh dìu dịu này.

Ngay sau đó, Sư Bà tiến hành ngay việc mua lại khu đất lý tưởng, để bắt đầu từng bước tạo dựng một chốn già lam theo ý nguyện rộng lớn của mình. Đầu tiên, Sư Bà lập một am thờ Phật ngay bên trong hang đá. Đây là một hang đá ăn sâu lên trên đỉnh núi, những bô lão sống quanh vùng kể rằng đó là một “hổ huyệt”. Một đôi vợ chồng cọp an trú trong hang đá này, thỉnh thoảng gầm lên vang động, và vào những đêm trăng sáng chúng thường xuất động hạ sơn xuống uống nước bên bờ sông, giỡn đùa với nhau trên bãi lau sậy phía trước hang. Qua một thời gian dài sau, đến khi quân đội Nam Triều Tiên đến chiếm đóng tại khu vực núi rừng hoang vu này, một con cọp bị sát hại, con còn lại bỏ đi biệt dạng, để lại một hang động trống trơn u tối. Sau đó, hang động bị san bít bằng mìn, không còn ăn thông lên đỉnh núi nữa, chỉ còn lại cửa hang phía dưới dẫn lên trên lòng núi khoảng vài mươi mét. Bên trong hang không khí khác hẳn, lành lạnh, im ắng, và chừng như nghe được tiếng thì thầm của những tảng đá trắng nhám sần sùi vô tri. Sư Bà đã ở trong hang đá này suốt hai năm liền. Hằng ngày, ngoài giờ tọa thiền, Sư Bà còn trì tụng kinh Pháp Hoa, cứ mỗi chữ một lạy (nhất tự nhất bái) để cầu nguyện được lập nên một ngôi chùa mà Sư Bà ao ước. Thời gian thấm thoắt trôi qua, chùa Hải Ấn dần dần được xây dựng trên khoảng đồi phía bên ngoài cạnh hang động, và đến năm 1971 thì hoàn thành đúng như ước nguyện của Sư Bà… 

Ngày hôm nay, hang động nay vẫn còn đó, nằm khép nép bên cạnh ngôi chùa nguy nga, hai bên cửa hang có bộ tượng “Khuyến Thiện –Trừng Ác” trấn giữ, vào bên trong hang có thể thấy những tượng thờ Di Lặc Tôn Phật, Quán Thế Âm và Thiện Tài Đồng Tử, Bồ Đề Đạt Ma Sư Tổ, và tượng thờ Cố Sư Bà khai sơn lập tự do chúng đệ tử phụng lập để ghi nhớ công ơn và đạo hạnh của sư thầy.

Bãi lau sậy xưa kia bên kia con lộ phía trước chùa trở thành một ruộng lát của chùa tăng gia sản xuất, sau sang nhượng cho xưởng đóng tàu. Bên phải ngôi chùa, có một chiếc tháp màu xanh của đá núi mọc lên giữa những khóm hoa lạ, những hàng cây dương liễu tỏa bóng râm, đó là bảo tháp của tổ khai sơn đã được xây sẵn lúc Sư Bà còn tại thế. 

Từ khi Sư Bà khai sơn lập tự viên tịch, chùa vẫn được tu bổ xây dựng thêm rất nhiều công trình mới bởi hàng đệ tử kế tục giỏi dang và đạo hạnh, tạo nên một chốn thiền môn đầy hoa sắc, rộng rãi hơn, tráng lệ hơn và trở thành một ngôi đại tự của Phật giáo tỉnh nhà. Các công trình Chánh điện, nhà hậu Tổ, Tăng xá, hành đường, tường thành, cổng Tam quan… đều đã được tu sửa nâng cấp ngày càng khang trang và tiện dụng hơn trước. Một “hang động nhân tạo” nho nhỏ cũng được thiết kế và bài trí ngay bên lối đi lên “hang động thiên tạo”, tạo thêm cảnh sắc núi non hoa lá hài hòa. Phía trước hang động, bên trái còn có một tượng Phật Di Đà uy nghiêm và nhân từ được an vị trên một tảng đá cao cao ngay vị trí mà trước kia đặt tháp xá lợi. Ngoài điện Quán thế Âm ngoài sân phía trước chánh điện, còn có một đài Quán Thế Âm khác trên một tảng đá lớn trên sườn núi với lối đi lên bằng những bậc cấp bên cạnh hang động. Tượng Quán Thế Âm này lộ thiên, lớn hơn, tay niêm ấn, tay cầm cam lồ thủy, đứng trên một quả địa cầu nhìn ra hướng biển Đông như luôn sẵn sàng “tầm thanh cứu khổ” cho chúng sanh trên những chuyến tàu ra khơi xa vốn luôn đầy gian nan trắc trở… 

Đặc biệt nhất là giếng nước trong khuôn viên chùa. Giếng nằm bên ngoài phía trước dãy nhà trù, trên một tảng đá xanh rì rất lớn, giữa nhưng cây mít thân to đã xấp xỉ ba mươi tuổi. Những ngày đầu tạo dựng ngôi chùa, Sư Bà Chánh Lượng đã cho đào một giếng nước, nhưng nước bị nhiễm mặn nên không sử dụng được, giếng này đã được lấp kín. Tất cả các giếng nước quanh vùng này đều lâm tình trạng chung như vậy vì ở gần cửa biển. Sư Bà đã rước thầy thợ chuyên nghiệp đến để thăm dò tìm nguồn nước ngọt, nhưng ai cùng cho rằng tìm nguồn nước ngọt ở địa phận này là một chuyện hết sức vô lý, viễn vông. Không đầu hàng, nhiều đêm trăn trở, Sư Bà quyết định niệm trì “Ngũ Bách Phật Danh Kinh”(Năm trăm danh hiệu Phật, cứ mỗi lần xưng tán một danh hiệu Phật thì phải đảnh lễ một lạy), phát nguyện cầu tìm nguồn nước ngọt cho chùa cũng như cho dân chúng trong vùng. Vào một ngày trời quang mây tạnh, Sư Bà đã chỉ cho đám thợ khoan giếng địa điểm để lấy nguồn nước: ngay bên trên tảng đá khổng lồ. Ban đầu, thợ khoan giếng lắc đầu không dám nhận công việc phi lý này, vì họ đoan chắc rằng sẽ hao tài tốn của nhà chùa mà sẽ không tìm được gì, nhưng sự quả quyết của Sư Bà đã thuyết phục được họ, vậy là họ bắt đầu khoan xuống tảng đá xanh cứng. Thật kỳ diệu, như chuyện thần thoại, khoan sâu xuống lòng đá hơn mười mét thì gặp trúng mạch nước ngọt mát lạnh và trong vắt. Giếng nước ngọt được tìm thấy, nguồn nước tràn trề quanh năm, người dân quanh khu vực ngày đêm quẫy gánh xách thùng đến xin nước về dùng từ ngày ấy cho đến nay, và dân chúng bất kể là tôn giáo nào cũng phải nghiêng mình cung kính gọi đó là Giếng Phật. Nếu không để ý, du khách sẽ không nhận ra tảng đá có giếng nước ngọt trong chùa mang dáng dấp của một con voi, cùng với một tảng đá lớn khác bên ngoài hàng rào của chùa tạo nên một cặp voi chầu, người ta gọi đó là “Hai ông tượng chầu Phật”. Hai “ông tượng” huyền thoại này được gọi tên cung kính là Hắc Đô và Hắc Giang, và còn có nhiều người bằng tuệ nhãn nhìn ra rằng tảng đá phía bên ngoài đường có hình dạng như chiếc thuyền lớn đang cập bến, nên gọi đó là Thuyền Bát Nhã.

Đến hôm nay, các vị đồng trụ trì cùng ni chúng chùa Hải Ấn đã và đang mở mang thêm chùa bằng cách xây dựng xong vườn Lâm –Tỳ- Ni có mái che mát bốn mùa xanh tươi, hay tượng Thái tử cưỡi ngựa Kiền Trắc vượt sông xuất gia cùng Xa Nặc theo hầu, còn có những dãy bậc cấp dẫn lên tận phía trên đỉnh núi cho đúng nghĩa “du sơn”, để khách có thể ngắm nhìn những tượng đài Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, vườn Lộc Uyển, đức Phật thành đạo… giữa một cảnh quan độc đáo xứng đáng là một chốn danh lam truyền lưu hậu thế. 

TÂM KHÔNG- VĨNH HỮU


Vườn Lâm Tỳ Ni

Tượng Phật Thành Đạo

Bia chùa

Cảnh chùa Hải Ấn ngày xưa

Cửa vào hang cọp

Điện Quan Âm

Giếng Phật

Sư bà

Tháp mộ Sư bà

Tam quan mới xây

Chánh điện

Tượng thái tử xuất gia

Vường Lộc Uyển

07-23-2008 04:23:56
 


 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap