Phần
1:
I.
Vị trí:
Chùa
Bảo Phong tọa lạc tại thôn Phong Ấp, xã Ninh Bình, huyện
Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Chùa cất trên một ngọn núi đá
thấp, hình giống như một con rùa đang vươn mình bò về phương
Nam. Trên núi có chùa nên núi mang tên núi Chùa, núi nằm cách
bờ Nam sông Dinh khoảng hơn 1 km và cách ga Ninh Hòa 500m. Đứng
trước cổng tam quan nhìn về phía Đông thấy con đường sắt
chạy qua cách chùa độ 100 m.
II.
Cảnh quan:
Núi
chùa còn nhiều cổ thụ nên thanh u, tĩnh mịch, cảnh chùa
trang nghiêm. Trầm mặc, ẩn trên núi đá, nên tuy ở gần phố
thị xóm làng mà chùa vẫn giữ được cảnh quan thanh thoát,
độc đáo.
Trước
chùa là tượng Bồ Tát Quan Thế Âm lộ thiên cao khoảng 4
mét, phía sau tượng là hồ nước nhỏ thả hoa súng, trong
hồ có non bộ, tiếp theo là cổng tam quan. Cổng thiết trí
mộc mạc nhưng nghiêm cẩn, hài hòa, trên mỗi đầu trụ cổng
đều có đính các hoa sen cách điệu trông khá xinh xắn. Tấm
biển lớn trên cổng giữa cẩn bốn đại từ bằng mảnh
bát xưa “Bát Nhã Môn Khai". Biển cổng bên phải đắp nổi
ba chữ “Đại Từ Bi" và cổng bên trái là "Năng Hỉ Xả".
Trên
hai trụ cổng chính đắp nổi đôi câu đối:
“Bảo
địa kỳ viên chúng điểu diệu tâm tuyên pháp ngữ"
“Phong
đầu hàng thụ duy phong xuy động tác kiêng tương"
Trụ
cổng hai bên cũng đắp nổi hai câu:
“Bửu
điện trang nghiêm triêu cổ mộ chung diệu pháp giới"
"Sơn
môn thanh tịnh hòa phong minh nguyệt hướng thiền đình".
Qua
cổng, theo hai lối đi nhỏ hình cánh cung tráng ciment dẫn vào
vuông sân gạch, trong sân bài trí nhiều chậu hoa, cây cảnh
tuy chẳng công phu lắm nhưng lại làm cho cảnh thêm vui.
Đứng
ở sân nhìn chùa thì Bửu Phong Tự không cổ kính lắm, vì
chùa đã được trùng tu nhiều lần và lần sau cùng vào năm
1953. Lần trùng tu này, các cụ trong làng đã cho thay ngói âm
dương bằng ngói móc tuy đã rêu phong nhưng vẫn pha nét tân
thời.
Biển
chùa treo trong hành lang trên đầu cửa chính được khắc vào
năm Tự Đức thứ 23. Biển sơn son, đề ba chữ lớn: “Bửu
Phong Tự", dòng lạc khoảng ghi câu" Tự Đức Nhị Thập Tam
Niên Tuế Thứ Canh Ngũ, Trọng Xuân San". Như vậy, biển chùa
được khắc từ năm 1870. Qua nghiên cứu chùa đã có rất
xưa, trong khoảng từ năm 1688 đến năm 1705 đời vua Lê Hy
Tông niên hiệu Chính Hòa (1680 – 1705). Chùa xây theo kiểu
tam quan, hai nhà đông tây thấp hơn ngôi chánh điện và được
bố trí theo lối đông tăng, tây tổ. Kết cấu gỗ bên trong
chánh điện gồm rường, cột, kèo, vì vẫn giữ y nguyên kiến
trúc cổ theo kiểu "Cối Gia Nguyên". Vì vậy, khi bước vào
chánh điện ta có ngay cảm giác uy nghi, sâu lắng; vừa sợ
sệt lại vừa thảnh thơi.
Chính
điện có ba gian: gian giữa là Đại Hùng Điện, bàn trên cao
thờ Phật Di Đà và chư vị Bồ Tát tượng Di Đà cao khoảng
0,8m trông rất uy nghi và cổ kính. Gian bên phải thờ Tổ Tây
Thiên với pho tượng Đạt Ma, gian bên trái thờ Thánh chúng
với tượng Quan Thánh. Hai tượng này hơi thấp hơn tượng
Phật Di Đà. Còn 3 bàn nhỏ ở hai đầu vách xông thì ở phía
đông thờ Thập Diện Diêm Vương, phía tây thờ La Hán Chư
Thiên.
Qua
cách bố trí những bàn thờ trong chánh điện chúng ta dễ
nhận ra ngay đây là cách thờ phụng trong các chùa thiền phái
Lâm Tế Trung Hoa.
Như
vừa nói trên, ngôi nhà phía tây chánh điện thờ Tổ Khai
Sơn. Trong gian nhà này còn giữ được nhiều cổ vật, trong
đó có các linh vị giúp ta tìm hiểu được lịch sử chùa
và một phần nhỏ lịch sử của Phật Giáo Đàng Trong cũng
như có thể hình dung được những bước chân của Tổ Tiên
ta trên bước đường Nam tiến khi qua vùng đất Khánh Hòa
ngày nay.
III.
Những Cổ vật:
Gần
đây chùa Bửu Phong đã được nhiều nhà nghiên cứu Phật
Giáo quan tâm, họ đều công nhận tại đây còn lưu giữ nhiều
cổ vật quý giá. Đáng tiếc do bảo quản chưa cao nên đã
hư hại và thất thoát khá nhiều. Hiện những cổ vậy qui
giá mang tính lịch sử và nghệ thuật cao gồm có:
1.
Các pho tượng cổ:
Trong
số này, đẹp nhất là pho tượng Phật Di Đà, tượng bằng
gỗ cao khoảng 0,8m thoạt trông ai cũng nói tượng đồng vì
tượng được dát vàng, màu vàng cũ lâu năm ngã sang màu đồng
thau. Tượng toát lên vẻ uy nghi, vừa bình an vừa trí tuệ,
thật không bút nào tả xiết. Theo lời một tu sĩ đã có dịp
thăm thú nhiều chùa ở miền Trung thì tượng Di Đà ở chùa
Bảo Phong Khánh Hòa và tượng Di Đà ở chùa Thiên Mụ Huế
rất giống nhau cả về phong cách tạc tượng và các đường
nét hoa văn trên đài sen.
2.
Các linh vị:
Những
linh vị của chư tổ và chư sư đã từng trù trì tại chùa
Bảo Phong cũng như các bài vị của các bận tiền hiền có
nhiều công đức với chùa còn khá đầy đủ. Trong số có
hai linh vị của Tổ Khai Sơn là một bằng chứng xác tín giúp
ta phỏng định được năm xây chùa.
a.
Linh vị Tổ Khai Sơn chùa Phổ Bửu:
(Phổ
Bửu là tiền thân của chùa Bửu Phong)
Linh
vị ghi: Tự tam thập tứ thế Phổ Bửu đường thượng, húy
thượng Minh hạ Lương, Nguyệt Ân hòa thượng. Bên dòng lạc
khoản ghi: Tứ nguyệt, nhị thập tứ nhật hóa.
Theo
các sách như: Việt Nam Phật Giáo sử lược của Thích Mật
Thể và Việt Nam Phật Giáo sử luận của Nguyễn Lang tức
Thiền Sư Thích Nhất Hạnh thì Hòa Thượng Minh Lượng Nguyệt
Ân là người Trung Hoa (?).
Qua
Đại Việt cùng thời kỳ với Thiền sư Nguyễn Thiều Siêu
Bạch - vị sơ tổ của tông Lâm tế tại Trung kỳ, khai sơn
chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định. Hòa Thượng Minh Lượng
Nguyệt Ân là một trong những thiền sư thời thứ 34 của
phái thiền Lâm Tế hoằng đạo ở miền trung, đứng sau ngài
Nguyên Thiều Siêu Bạch một bậc, theo như bài kệ truyền
thừa của ngài Vạn Phong:
Tổ
Đạo Giới Định Tông
Phương
Quảng Chứng Viên Thông
Hành
Siêu, Minh Thiệt Tế
Liễu,
Đạt, Ngô Chơn Không;
và
tham cứu kỹ các sách đã dẫn thì Hòa Thượng Minh Lương
Nguyệt Ân là đệ tử của ngài Nguyên Thiều Siêu Bạch bằng
sư thúc hay sư bá qua Đại Việt vào năm 1665 tức năm ngài
Siêu Bạch đến Bình Định, hoặc năm 1687 là năm Hòa Thượng
Thạch Liêm mở đại giới đàn ở chùa Thiên Mụ - Huế.
b.
Linh vị Tổ Thiệt Địa:
Thiệt
Địa Pháp Ấn là vị Hòa thượng đã di chùa Phổ Bửu từ
lưng rùa ra phía trước trấn lên cổ rùa và đổi tên Phổ
Bửu ra Bửu Phong (việc di chùa sẽ được nói kỹ ở phần
truyền thuyết). Linh vị ghi:
Lâm
Tế Phổ tam thập ngũ thế Bảo Phong đường thuợng húy Thiệt
Địa, thượng Pháp hạ Ấn Hòa thược Giác Linh. Bên dòng
lạc khoản ghi: Mạo tọa tam nguyệt, nhị thập tứ nhật.
Hòa thượng thế danh và năm sinh đều không rõ, chỉ biết
ngày mà ngài làm lễ trà tỳ (tự hóa thân theo nghi thức Phật
Giáo) có ghi trên bia tháp là ngày 24 tháng 3 năm canh Tuất (1790).
Ngài xuất gia ở chùa Phổ Bửu và thọ giới với ngài Minh
Lượng Nguyệt Ân.
Bình
sinh Hòa Thượng Thiệt Địa đã khai sơn nhiều chùa ờ Khánh
Hòa. Đầu tiên là chùa Kim Sơn ở thôn Ngọc Hội Nha Trang,
tiếp theo được người làng An Ấp (tức Phong Ấp) thỉnh
trở lại Phổ Bửu và lập ra Bảo Phong. Sau đó Hòa Thượng
có đến làng Thạnh Danh xã Ninh Diêm và lập một cảnh chùa
ở đó, sau đó lại về Bửu Phong và đứng chứng minh lập
chùa Kim Ấn ở thôn Phú Gia, chùa Linh Quang thôn Xuân Hòa, Riêng
chùa Kim Sơn đã được chúa Nguyễn Phúc Khoát ban sắc tứ
vào năm 1740. Tính đến năm 2005 Hòa Thượng Thiết Địa Pháp
Ấn đã tạ thế đúng 215 năm.
3.
Những cổ vật bằng gốm sứ:
Gốm
sứ cổ của chùa Bửu Phong không nhiều. Có vài món qúi giá
như lộc bình, lư hương, đĩa quả tử … có niên đại khoảng
đầu nhà Thanh. Duy chỉ có nắp chiếc bình Phạn của Tổ
Thiệt Địa là đáng trân trọng nhất vì nó là di vật của
Tổ còn sót lại.
Nguyên
trước năm 1951 thì bình Phạn còn đủ bộ, có cả chiếc
thìa bằng trầm hương. Do sự bất cẩn của thầy chùa dùng
bình Phạn đựng nước để chữa bệnh (!) nên bình rơi vỡ
chỉ còn lại nắp, thìa trầm cũng lạc mất luôn. Hiện nay
nắp Phạn được đậy trên chiếc tô xưa đặt trên bàn Tổ
phía trước các linh vị.
Nắp
bình Phạn làm bằng đất nung. Màu hồng nhạt, dáng bầu bĩnh
xinh xắn. Tuy không tráng men nhưng có lẽ vì nung với hỏa
lực cao nên đất sành lại, mặt ngoài đất như chảy ra sờ
thấy mượt mà. Tuy tính sử dụng không còn, nhưng bà con trong
làng, ai ai cũng quí cũng trọng vì nói là di vật tinh thần
của Tổ.
4.
Tranh vẽ:
a.
Bộ tranh thiền tịnh song tu:
Tất
cả năm bức, vẽ trên giấy nét vẽ linh hoạt. Bức chính
giữa vẽ một vị Phật nửa giống Di Đà, nửa giống Thích
Ca ngồi trên lưng thú bốn bức ở hai bên vẽ các vị Bồ
Tát như: Quán Âm Thế Chí, Văn Thù và Phổ Hiền, tất cả
đều ngồi kiết già trên lưng thú như thanh sư, bạch hổ
… Bộ tranh được đặt trên bàn kính trong chánh điện, qua
thời gian giấy hơi bị mủn ở bìa và gốc, phần nào có
nét vẽ đè lên thì giấy vẫn trắng nguyên; màu mực và màu
sơn vẫn tươi và sáng. Đây là phát hiện của Thạc Sĩ Võ
Văn Tường, theo ông thì đây là một trong hai bộ tranh xưa
còn lại ở miền Nam vẽ theo đề tài Thiền Tịnh Song Tu và
cũng theo lời ông, bộ tranh ở chùa Bửu Phong đẹp hơn. Nghe
khen, người viết cứ lân la ngắm mãi, mong tìm một ần ngữ
trong tranh nhưng vô hiệu! Mãi gần đây mới hiểu: Nếu nhất
tâm niệm Phật thì hành giả sẽ nhập vào cảnh giới tịch
tỉnh và an lạc, như vậy thiền và tịnh không thể tách rời
nhau.
b-Bức
chân dung Hòa Thượng Thiệt Địa:
Bức
tranh này nghe nói do thầy Ngộ Giao - Phổ Châu vẽ lại theo
mẫu bức chân dung tự họa của Hòa Thượng Thiệt Địa đã
cũ rách. Tranh này đã cũ lắm, tác người trong tranh khoảng
80 tuổi.
Phần
2:
5.Cổ
tháp:
a-Tháp
của Hòa Thượng Minh Lượng - Nguyệt Ân
Trước
năm 1992 dáng tháp bị nghiêng một bên, chung quanh tháp có xây
lan can, tạo thành một sân vuông, bốn gốc có bốn trụ, cửa
vào sân tháp hình như quay về hướng Đông Nam. Thân tháp và
thành tháp rêu phong mọc đầy. Ốc Sên bám lên ăn rêu, chúng
bào mòn luôn lớp vôi hồ ô - dước làm cho tháp loang lổ
trông hoang phế lắm! Tuy vậy, tháp vẫn còn giữ được những
cạnh, góc và đường nét giống với tháp của Hòa Thượng
Thiệt Địa. Vào khoảng thập niên 60 của thế kỷ thứ 20
bỗng rộ lên "phong trào" tìm vàng Hời, người tìm vàng tưởng
tháp này là tháp Hời, họ đào bên dưới tháp làm cho tháp
nghiêng về phía Tây. Tôi có hỏi một người …, họ
bảo: "tro không hà!".
Sau
1992, tháp được sửa lại - Đến năm 2000 ni cô Chơn Tâm cho
làm một bia đá xanh, trên bia ghi: Tự Lâm Tế Chánh Tông tam
thập tứ thế, khai sơn Bảo Phong tự". Dòng thứ hai ghi: "Huy
Thành Đẳng thượng Minh hạ Lượng hiệu Nguyệt Ân Hòa Thượng".
Dòng
lạc khoản bên phải ghi: " Sinh Bính Dần niên, tứ ngoạt thập
lục nhật, ngọ thời - 1686" Dòng lạc khoản bên trái ghi:
"Tịch kỷ Sửu niên, tứ ngoạt, nhị thập tứ nhất – 1769".
Ni cô căn cứ vào quyển sách các ngôi chùa Việt Nam (đã quên
tác giả) để khắc bia như trên, trong khi linh vị của Hòa
Thượng thờ trong chùa chỉ ghi:" Tự tam thập tứ thế Phổ
Bửu đường thượng, húy thượng Minh hạ Lượng Nguyệt Ân
Hòa Thượng - Tứ nguyệt, nhị thập tứ nhất hóa”. Tôi
có đọc cuốn sách vừa nêu trên, tôi nhớ hình như ngày tịch
ghi trong sách và ngày hóa khắc trên linh vị của Thiền sư
là không giống nhau. Một điều nữa, xin ghi ra luôn: Trong hai
quyển Sử Phật Giáo Việt Nam là Việt Nam Phật Giáo sử luận
và Việt Nam Phật Giáo sử lược cũng không thống nhất với
nhau, khi thì ghi: Minh Lương (không có dấu nặng) Nguyệt Ân,
khi thì ghi: Minh Lượng - Nguyệt An (chữ A) …, cũng không thấy
ghi rõ Minh Lượng là người Trung Hoa hay người Việt Nam …
chúng ta có dễ dàng với nhau trên nhiều vấn đề, nhưng đối
với lịch sử thì không thể vô bằng cớ.
Một
ý nữa, nhằm giải quyết thắc mắc ngôi tháp đang đề cập
đây là tháp Hời (Chiêm Thành) hay tháp của chùa Việt, thú
thật tôi cũng có sự nghi ngờ nên tìm hỏi một cụ lão người
làng Thạch Thành xã Ninh Quang là một đạo hữu rất gắn
bó với chùa Bửu Phong, ông lớn hơn tôi gần 40 tuổi. Ông
kể: "Tôi từ Bình Định bỏ quê lên Lâm Đồng rồi xuống
đây, lúc đó tôi mới hai mưới mấy tuổi. Tôi quy y ở chùa
này vì ở quê tôi cũng có chùa Bảo Phong"… Ông tiếp:’
Tháp này (tức tháp Minh Lượng) không phải tháp Hời đâu!
Lúc trước tôi có theo thầy Hải Tràng (chùa Sắc Tứ Thiên
Bửu) và các thầy khác đến xem tháp này, lúc ấy bia tháp
còn sót vài chữ Nho. Nếu tháp người Chàm sao ghi chữ Nho,"
Trong ký ức mù mờ của vài cụ già làng Phong Ấp thì: "Hình
như tôi có nghe tháp đó là tháp của ông thầy chùa sau!".
Trong
hồ sơ xin xếp hạng di tích cho chùa tôi có ghi Hòa Thượng
Minh Lượng Nguyệt Ân là người Trung Hoa và tháp đang nêu
là tháp Minh Lượng, đến giờ tôi vẫn không phủ nhận điều
đó vì tôi chỉ kể lại chứ không sáng tác. Vấn đề vừa
nêu vẫn đang tồn nghi, rất mong được gặp tài liệu xác
thực!
b-Tháp
của Hòa Thượng Thiệt Địa:
Ngôi
tháp xinh xắn có 3 tầng, cao hơn 4 m, hình bát giác, đỉnh
tháp trổ hình búp sen chớm nở. Tầng tháp dưới cùng cao
lớn hơn hết hình lăng trụ thẳng, tám góc tháp đắp nổi
tám chân hình giống như chân rùa. Tất cả khối kiến trúc
đặt trên bệ vuông cao, khoảng 0,6m xây bằng gạch, Nhìn toàn
bộ kiến trúc của tháp khiến chúng ta liên tưởng đến toàn
bộ tư tưởng Phật Giáo được xây dựng trên nền móng vững
chắc là Tứ Diệu Đế và bát chánh đạo ! Bia là một trong
tám mặt của tháp xoay về phía Đông Nam. Trên bia khắc dòng
chữ Hán theo chiều thẳng đứng, chữ khắc ép cho lùn lại
cho vừa với than bia: " Tự lâm tế chánh tông, tam thập ngũ
thế, húy Thiệt Địa hiệu Pháp Ấn Hòa thượng bảo pháp.
Bên dòng lạc khoản ghi: Canh tuất niên, tam nguyệt nhị thập
tứ nhật tạ hóa. Các mặt khác chung quanh tháp có khắc ba
bài thi thập ngôn tứ tuyệt, khắc theo lối nhứt cách nhứt
chiếu, nghĩa là một mặt tháp khắc thi thì một mặt để
trống. Ba bài thi này nhà văn Hải Thiêu có đăng trên báo
Giác Ngộ (xin xem phần nguyên văn chữ Nho ở sau).
Về
vị trí, tháp ở trước chùa và nằm dưới chân núi, cách
chùa khoảng 30m cạnh dốc đá, đi lên chùa. Bên cạnh tháp
ở phía tây có nhiều cổ thụ che ánh nắng chiều. Hiện nay
còn gốc thị già tương truyền do chính Tổ trồng. Với lòng
tôn kính và mến mộ vị thiền sư có nhiều công đức với
làng, cho nên từ xưa tới giờ, bà con nhân dân cứ cách năm
lại quét vôi cho tháp và cách năm bảy năm lại gia cố một
lần, vì vậy cách đây đã 215 năm kể từ ngày xây tháp mà
cổ tháp vẫn giữ y dáng cũ.
c-Tháp
của đại sư Từ Mẫn:
Tháp
ở gần chùa nằm về phía Tây, đại sư họ Phùng người
thôn Phong Ấp. Trước 1975 tháp sạt lở, người họ Phùng
và bà con góp công xây lại, tháp ba tầng, ngang ngang sở thẳng
nên không có gì đặc biệt lắm, Đại sư viên tịch đến
nay đã quá 100 năm.
IV.Theo
dòng lịch sử đất nước và sử Phật Giáo để phỏng định
thời gian xây dựng chùa
Đi
tìm năm xây dựng chùa Phổ Bửu (chùa núi sau) cũng như năm
dời chùa ra núi trước và đổi tên thành Bửu Phong, cùng
hoạt động hoằng pháp của các vị thiền sư thời trước
là một việc làm rất khó. Ở đây chúng tôi chỉ căn cứ
vào các linh vị, bia tháp, cộng với sự tham quan thực tế
của nhiều người đem so sánh, đối chiếu với các sử liệu
mà các học giả, nhà văn, nhà sư đã đúc kết từ nhiều
sử sách cũ để khẳng định hoặc phỏng đoán các sự kiện
đã diễn ra ở Bửu Phong.
Các
sách tham khảo:
Việt
Nam Phật Giáo sử luận của Nguyễn Lang
Việt
Nam Phật Giáo sử lược của Thích Mật Thể
Xứ
trầm hương của Quách Tấn
Đặc
san Giác Ngộ số 100 ra ngày 15-2-1995
Các
sử liệu liên quan đến chùa Bửu Phong vốn không nhiều lại
rải rác mỗi chỗ một ít. Trong khi tập hợp còn có chỗ
nghi ngờ vì không liên kết được, chúng tôi có tham cứu
thêm những lời truyền miệng trong làng giữa các bô lão với
nhau hoặc bô lão với người hậu sinh. Dù sao sự việc này
cũng là bước khởi đầu. Xin được tóm lược như sau để
tiện theo dõi:
Phật
giáo dưới thời Hậu Lê trở lại hưng thịnh, bởi trong sự
việc tranh bá đồ vương của hai họ Trịnh, Nguyễn các chúa
đều xem Phật Giáo như chỗ dựa tinh thần và linh thiêng.
Riêng trong cuộc Nam tiến của các chúa Nguyễn thì việc xây
chùa, đúc chuông cũng là một phần trong kế sách định quốc,
an dân, tiếng chuông dễ dàng an ủy lòng người xa xứ vốn
đã mang sẳn một phần tâm linh Phật giáo làm hành trang.
Các
mốc lịch sử:
Năm
1653, Hùng Lộc hầu ổn định việc cai trị di dân, lấp ấp
ở xứ Kanthara (Khánh Hòa)
Năm
1665, Thiền Sư Nguyên Thiều Siêu Bạch từ Trung Hoa đến Bình
Định Đại Việt. Có thể thiền sư Minh Lượng Nguyệt Ân
cùng đi theo.
Năm
1683, Thiền Sư Nguyên Thiều Siêu Bạch hoàn tất việc xây
chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định.
Năm
1687, Hòa Thượng Thạch Liêm mời các cao tăng ở Trung Hoa sang
Đại Việt cùng chủ trì Đại giới đàn ở chùa Thiên Mụ
- Huế theo yêu cầu của chúa Nguyễn Phúc Tần. Có Thể Hòa
Thượng Minh Lượng Nguyệt Ân qua Đại việt trong đợt này.
Sau
đại giới đàng mãn, chư sư một số về lại Tàu, một số
tỏa ra vấn du và lập chùa hành đạo dưới sự bảo trợ
của chúa Nguyễn. Như vậy, chùa Phổ Bửu (tiền thân của
chùa Bửu Phong) do vị thiền sư hàng chữ Minh khai sơn, có
lẽ được xây dựng sớm nhất là vào năm 1688 tức sau đại
giới đàn một năm.
Có
hai khả năng xảy ra:
1.
Có thể xây xong Phổ Bửu vài ba năm thì Minh Lượng trở lại
Hội An xây chùa Vạn Đức và ngài vẫn đi lại giữa hai chùa
này chứ chưa giao hẳn cho đệ tử nào. Điều này cũng phù
hợp truyền thuyết trong làng rằng:
"Xưa,
vị thầy ở chùa sau tài năng lắm! ông đi không ai hay biết,
lúc về cung chẳng ai hay!"
2.
Có thể sau đại giới đàn, thiền sư Minh Lượng đến Hội
An (Quảng Nam) là nơi dân cư đông đúc, buôn bán sầm uất
thời bấy giờ để lập chùa hành đạo và khoảng năm mười
năm sau chúa Nguyễn với thỉnh cầu ngài vào dinh Thái Khang
để lập chùa an dân.
Dù
khả năng nào thì chùa Bảo Phong cũng là một trong vài chùa
được xây dựng sớm nhất ở Khánh Hòa ngày nay.
Theo
quyển sách Khánh Hòa, Nha Trang một tiềm năng một hiện thực,
tác Vũ Ngọc Phương phán một câu thế này:
"Chùa
Bửu Phong (Ninh Hòa) do, thiền sư Minh Lượng Nguyệt Ân, Trung
Quốc đời 34 tạo dựng năm 1683” (trang 110 dòng cuối, trang
117 dòng đầu). Như vậy thì chùa Bửu Phong và chùa Thập Tháp
Di Đà xây cùng một năm rồi. Xin trưng bằng chứng?! Hèn chi
thầy Đạt Bổn nói với tôi:" chiếc trống sấm của chùa
Thập Tháp, chùa Bửu Phong và chùa làng Phụng Cang làm cùng
một thân cây; chùa Thập Tháp phần gốc, chùa Bửu Phong đoạn
giữa, và trống ở chùa Phụng Cang là khúc ngọn!
Còn
việc thầy Minh Lượng viên tịch ờ chùa nào xin gát lại,
sợ dài dòng.
Vấn
đề tiếp theo là chùa được dời từ núi sau ra núi trước
năm nào?
Tương
truyền sau đời Hòa Thượng Minh Lượng thì chùa trở nên
khó ở, làng thỉnh thầy đến ở vài tháng thì mất, vị
khác thì đau bệnh phải bỏ đi, không ai trụ quá một năm,
sự việc lập đi lập lại nhiều lần, kể cả các vị bô
lão trong làng. Vì vậy, làng phải vào Ngọc Hội chùa Kim Sơn
thỉnh thầy Thiệt Địa trở lại chùa (theo lời kể các cụ
thì thầy Thiệt Địa giỏi khoa phong thủy, thầy giỏi mà
thầy nói ra nên ngày nay chùa phải chịu nhiều chuyện dỡ)
Chính thầy chủ trương dời chùa từ lưng rùa ra trước trấn
lên cổ rùa. Ngài đặt tên chùa là Bửu Phong với hàm ý dặn
dò đời sau rằng núi chùa là ngọn núi báu.
Công
việc này diễn ra năm nào, cần phải tham cứu sách Trầm Hương
của Quách Tấn để đối chiếu!
Theo
tác giả xứ Trầm Hương thì chùa Kim Sơn là chùa xưa nhất
Tỉnh, ông phỏng định năm xây dựng chùa này là năm 1735.
Năm
1740 chúa Nguyễn Phúc Khoát cải tên Kim Sơn ra Qui Tôn và ban
sắc tứ. Chùa Kim Sơn do Thiền sư Thiệt Địa Pháp Ấn khai
sơn.
Năm
1790 Hòa Thượng Thiệt Địa Pháp Ấn hóa thân tại chùa Bửu
Phong, giả định lúc đó ngài 80 tuổi (xem chân dung tự họa)
Ta
thử làm phép tính:
Năm
1790 ngài 80 tuổi, tự hóa
Năm
1740 ngài 30 tuổi, đang trù trì ở chùa Kim Sơn và được chúa
Nguyễn sắc tứ. Có thể năm mười năm sau đó ngài lại được
thỉnh về lại Phổ Bửu và ngài ở đây lâu dài hơn vì thời
gian sau đó ngài còn lập ra ba cảnh chùa nữa.
Phần
3:
Mặt
khác chúng ta không thể bảo việc dời chùa diễn ra sau năm
1770 được. Bởi lẽ từ năm 1771 đến năm 1802 tại vùng đất
mà nay là Khánh Hòa có sự khốc liệt và đẫm máu giữa hai
họ Nguyễn Gia Miêu và Nguyễn Tây Sơn.
Tóm
tắt:
1.
Chùa Phổ Bửu được xây cất trong khoảng từ 1688 đến 1705
đời vua Lê Hy Tôn niên hiệu Chính Hòa (1680 – 1705)
2.
Việc dời chùa và đổi tên thành Bửu Phong diễn ra trong khoảng
từ năm 1745 – 1770 và ổn định đến bây giờ.
V.
Những truyền thuyết dân gian về chùa Bửu Phong và các vị
Tổ khai sơn:
Việc
kể lại những giai thoại và truyền thuyết liên quan đến
chùa và các vị Hòa Thượng đầu tiên trù trì ở đây, chúng
tôi không nhằm mục đích tô vẽ thêm để chùa mang tính linh
thiêng, huyền bí mà chỉ hoàn toàn "thuật nhi bất tác" để
làm sáng thêm một vài sự kiện nho nhỏ, đồng thời thấy
được sinh hoạt của dân cư khoảng giữa thế kỷ 18 về
các mặt chính trị tôn giáo và nông nghiệp.
1.
Đối với chùa Phổ Bửu và ngài Minh Lượng truyền thuyết
không nhiều lời bởi lẽ đã quá xưa nên ít người nhớ
được. Mặt khác nếu quả thật Thiền sư Minh Lượng là
người Trung Hoa thì ắt có một sự trở ngại do ngôn ngữ
vì thế mà tình cảm cũng thiếu mặn nồng. Thỉnh thoảng
vào ngày giỗ Tổ còn có bà con vui miệng nhắc lại câu nói:
" Hồi xưa, nghe nói các vị thầy ở chùa sau tài giỏi lắm
…như đã thuật ở trên, đại để ăn cổ thì nhắc lại
cái ý thán phục người được cúng, thực tế họ cũng chẳng
biết vị thầy xưa là ông nào!"
Về
lý do dời chùa cũng đã có nói ở trên, việc chùa khó ở,
người thời ấy nghi rằng chùa có quỉ, người khác lại
nói rùa thiêng không chịu đội chùa nên quay đầu cắn phá
vì thế mà chùa bị động, sự việc quá xưa, nhắc vậy đủ
nhiều. Theo sự phỏng đoán, chùa cũ cất xong chưa được
lâu lắm thì đã dời đi. Hiện hai nền chùa cũ và mới cách
nhau khoảng 50m.
2.Còn
những truyền thuyết về Hòa Thượng Thiệt Địa, nội dung
hàm chứa những tình cảm đậm đà, người ta thi nhau kể
nhưng chưa từng được kể:
a.
Truyền rằng Hòa Thượng Thiệt Địa là vị Thiền sư đắc
đạo cho nên, trên từ chúa Nguyễn đến các quan và nhân dân
đều vô cùng kính mộ. Thời ấy, các quan tri phủ, tri huyện
khi đến lỵ sở Tân Định trấn nhậm đều tìm đến chùa
ra mắt ngài. Duy chỉ có một vị tri phủ nghi ngờ việc ngài
đắc pháp nên tìm cách thử: Ông quan này nhân việc mở đàn
chẩn tế trong phủ, ông mời Hòa Thượng Thiệt Địa đến
chứng minh. Khi tiếp đón ngài, vị quan phủ đã ngầm viết
chữ Phật (chữ Hán) đặt trên bộ ván rồi trải chiếu phủ
lên và thỉnh Hòa Thượng lên ngồi. Nhưng Hòa Thượng chỉ
đứng chấp tay hướng về bộ ván, tuyệt chẳng chịu ngồi.
Thấy vậy vị quan nọ mời thúc, Hòa Thượng liền bảo "
Trên ván Phật đã chứng rồi."
b.
Một giai thoại khách kể rằng: Hòa Thượng Thiệt Địa tác
người vạm vỡ, tướng mạo phương phi vì chùa trên núi không
có giếng nên ngài thích đi tắm ở mương; phía trước và
phía sau chùa đều có mương nước, một mương dẫn nước
về làng Phong Phú, một mương dẫn nước về làng Thanh Châu.
Trưa hè nóng bức, Hòa Thượng hay ra tắm một trong hai mương
này. Một hôm, nông dân làng Thanh Châu thấy mương đứt nước
nên ngờ rằng người làng Phong Ấp đắp trộm nước bèn
rũ nhau cả làng kéo lên hòng chống cự. Lên đến nơi, vỡ
lẽ, họ dở cười dở mếu vì thấy Hòa Thượng nằm ngang
mương phía trên nước dâng cao chẳng chảy, còn Hòa Thượng
cười bảo: “Chi dữ vậy, đợi ta tắm một chốc rồi nước
chảy về!”.
Chuyện
vui nhỏ tưởng thừa, nhưng qua đó chúng ta thấy được vào
giữa thế kỷ 18, hệ thống kênh mương giữa hai đập nước
bảy xã và mười xã đã được thiết lập ổn định và
hệ thống kênh mương khoa học ấy hiện vẫn còn đắc dụng.
c.
Cuối cùng, con người rồi ai cũng phải chết dẫu làm Hòa
Thượng cũng không tránh khỏi qui luật vô thường. Khác hơn
nhiều bật sư sãi khác, ngài tỵ thế bằng phép tự hóa thân.
Để
chuẩn bị cho ngày tạ hóa, ngài tự họa nhiều bức chân
dung rồi gọi những trẻ em là các mục đồng ngày ấy vào
chùa ăn chuối xem tranh. Ngài hỏi: " Các con thấy bức hình
nào giống ông?" Hễ bức nào được xem giống thì ngài giữ
lại để gởi đi các chùa ngài đã khai sơ. Bức mà mục đồng
khen đẹp nhất ngài treo tại chùa.
Trước
ngày hóa thân, ngài dặn dò bà con nhân dân chỗ sẽ xây tháp,
đoạn chỉ cây me và cây thị mới trồng cạnh bên gốc gạo,
ngài nói:" Thầy trồng mấy cây này để mai này ra trái, trẻ
nhỏ đến hái ăn cho vui”.
Cây
me quá già, gốc bọng to, phần trên phải gánh chịu sức nặng
của dây thanh long và cây da bá nên đã bị đổ cách đây
chỉ quá mười năm. Ngay đúng gốc cũ lại mọc lên cây me
khác nay đã sum xuê. Cây gạo gốc hai người ôm do bị bật
rễ lúc mở đường nên trong trận bão 1992 đã vào thiên cổ.
Cây thị vẫn còn gốc bọng, ngọn gãy nhưng trong phần thân
xương xẩu đâm ra một cành nhỏ che là là bên bắc tháp,
cành lá xanh tươi như thách thức với thời gian.
Nghĩ
cũng thiệt hay! một vị sư già lo chuyện trăm năm, nghĩ rằng
mai sau nơi mình ghi dấu, gởi tro sẽ là nơi tụ tập vui chơi
của bọn mục đồng, của lũ học trò nên đã lo trước nào
trái ngọt, trái ngon làm quà, để chúng trèo lên mộ mình
với tay hái trái cười vui, la hét cho vang vọng núi đồi.
Tổ
ơi! chính con cũng đã bị trận đòn đau của nghiêm phụ vì
dám trèo lên tháp của Tổ hái trái thị non xuống đập ăn
làm bẩn tháp.
Chiều
qua lên chùa mong tìm ký ức, thấy cảnh đổi thay; sáng nay
ngồi viết mấy dòng này mà trào lệ cảm ở lòng con cứ
dâng lên, chảy mãi, chảy mãi! Người ta hay nói dòng nước
mắt chảy xuôi, con mong sao gốc thị già bên tháp cổ sống
mãi, sống mãi thật nhiều năm, ra hoa, kết trái để lũ trẻ
con quanh đây cũng sẽ đến đây hái trái, thừa hưởng được
chút tế bào, chút năng lượng của Tổ luân lưu trong cơ thể
chúng để chúng ngoan hơn chăm học hơn và thông minh hơn để
khi lớn lên chúng giúp ích cho làng xóm, đất nước! Tổ có
biết con nghĩ vậy không!
Thế
rồi, ngày 24 – 3 năm Canh Tuất đến, theo lời kể lại, hôm
ấy tất cả đệ tử của Ngài cùng chư tăng ni các nơi tề
tựu đông đủ. Bà con quanh vùng cũng lũ lựợt đến để
vĩnh biệt vị thầy kính yêu.
Sau
khi làm lễ trong chùa, Ngài thảnh thơi bước ra trước đàn
ân cần dặn dò mọi người lần cuối:" phải tinh tấn và
dũng mãnh trong việc tu thân, lấy lòng thương yêu và tha thứ
để đối nhân xử thế cho làng xóm được yên vui”, đoạn
Ngài nói tiếp:" Thầy sẽ để lại ngón tay trỏ và chiếc
dùi đánh mõ này dùng làm tín vật để các con vững tin vào
đạo pháp." Và Ngài ung dung bước lên đàn, tự tay châm lửa,
ngọn lửa vàng rực từ từ bốc cao đến khi phủ cả thân
Ngài bà con vẫn thấy Ngài ngồi tự tại, an nhiên, tiếng
mõ, tiếng kinh vẫn vang lên nhẹ nhàng, êm dịu.
Khi
lửa tàn, các đệ tử lo việc thu gom tro cốt, trước sự
chứng kiến của đám đông là một sự kiện huyền diệu!
Chiếc dùi đánh mõ bằng gỗ và lóng ngón tay trỏ vẫn còn
y nguyên!
Trước
sự mầu nhiệm, phật tử và nhân dân ba thôn Ngọc Hội, Thạnh
Danh và Phong ấp đều có ý tranh nhau hai báu vật này (lóng
ngón tay và chiếc dùi gõ mõ) việc cớ là khi sanh tiền Hòa
thượng tu ở chùa làng họ là chính; Hòa Thượng là người
của làng họ. Sự việc không cùng nhau giải quyết được,
nên phải đưa lên phủ đường phân giải Quan tri phủ thời
ấy xử rằng:" Hòa Thượng hóa thân tại chùa nào thì lóng
ngón tay và chiếc dùi mõ nhập tháp tại chùa đó. Số tro
cốt chia đều để nhập vào tháp tại các chùa ngài đã khai
sơn".
Tương
truyền từ thời vua Khải Định trở về trước thì ngày
giỗ tổ Thiệt Địa là ngày hội lớn trong vùng, toàn thể
chư tăng ni trù trì ở khắp các chùa trong tỉnh đều tự
động về Tổ đình Bửu Phong từ trước ngày 23 để lo việc
cúng Tổ mà không cần ai nhắc nhở thông báo. Giỗ diễn ra
hai ngày, ngày 23 khai hội cúng tiên thường, tối đến bà
con và nhất là trẻ em được dịp xem các vị sư sãi chạy
kinh đàn. Sáng ngày 24 chính giỗ, thường tổ chức trai đàn.
Đây là dịp đề nhân dân quanh vùng đến chùa lễ phật và
xem hội vui vẻ.
Xét
ra thời gian độc sáng của chùa Bửu Phong, kéo dài từ Minh
Lượng Nguyệt Ân, Thiệt Địa Pháp Ấn đến Từ Mẫn Đại
Sư. Về sau, chùa chiền các nơi đã sản sinh nhiều vị danh
tăng. Chùa Bửu Phong tuy vẫn được tôn trọng là Tổ đình
vì đó là nơi giòng Thiền Lâm Tế được truyền lan ra xa
khắp tỉnh, nhưng thật chất hoạt động ở chùa chỉ là
vang bóng.
VI.
Những điều còn tồn nghi:
Trước
đây tôi có đưa bản thảo cho một số thân hữu xem và góp
ý, trong đó anh Trần Đặng, Ban hộ pháp chùa Trường Thọ
là góp chân tình nhất.
1.Theo
anh đệ tử không đổi tên chùa mà thầy mình đã sáng lập.
Vậy chùa Phổ Bửu toạ lạc nơi đâu?
2.Việc
ni sư Chơn Tâm căn cứ vào sách những ngôi chùa Việt Nam để
ghi ngày tháng năm sinh của Hòa Thượng Minh Lượng là Bính
Dần 1686 là hình như chưa xác thực vì khi ấy Hòa Thượng
chưa sinh để theo Nguyên Thiều sang Bình Định, cũng chưa đủ
tuổi để Hòa Thượng Thạch Liêm mời đến chùa Thiên Mụ
- Huế để cùng chứng minh Đại giới đàn, chưa đủ tuổi
để xây chùa. Sách nói vậy tôi nghĩ có hai Thiền Sư Minh
Lượng Nguyệt Ân!? Tin sách không bằng không có sách! …và
điều tồn nghi đã nói ở trên. Và cũng để có tài liệu
tham khảo xin quý vị liên hệ với chùa Trường Thọ để
xem bản chánh pháp nhãn tạng của thầy Ngộ Chiến để biết
thêm một nhành truyền pháp của các thầy Minh Lương và Thiệt
Địa.
VII.Chùa
Bửu Phong hiện nay:
Sau
khi thầy Nguyên Độ rời chùa, làng thỉnh Ni Sư Chơn Tâm đến
ở, rồi cô Chơn Hiển đến thay, nhờ nữ tính nên các cô,
các bà trong làng đến chùa tụ tập khá đông, đây là thành
thích của các Sư Cô; đặc biệt trong thời kỳ này ở chùa
đã đào được giếng nước, có dịp chúng tôi sẽ giới
thiệu. Hiện Sư Cô Chơn Hiển đã xây thành bao quanh chùa nhưng
còn dang dở, chùa xưa tỏ ra ngày càng nhỏ hẹp cho sự tu
tập của bổn đạo! Ý định của cô còn nhiều và khá thích
nghi cho sự phát triển nhưng còn phải đợi túc duyên.
Viết
xong chiều ngày 16/9/2005
Trần
Đình Khôi
*Chùa
Bửu Phong được trung tâm quản lý di tích và đanh lam thắng
cảnh Khánh Hòa xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật
năm 2001.
http://www.ninh-hoa.com