CHÙA TỪ
ĐÀM
Chùa
tọa lạc ở phường Trường An, thành phố Huế, tỉnh Thừa
Thiên - Huế. Chùa do Hòa thượng Minh Hoằng - Tử Dung dựng
vào khoảng năm 1695. Năm 1703, Chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho chùa
tấm biển "Sắc Tứ Ân Tôn Tự". Đến năm 1841, Vua Thiệu
Trị đổi tên chùa là Từ Đàm. Cấu trúc chung của chùa gọi
là "kiểu chùa Hội". Sau cổng tam quan, có cây Bồ-đề do bà
Karpeles, Tổng thư ký Viện Phật học Phnom-pênh (Campuchia) thỉnh
từ Ấn Độ qua Việt Nam tặng, được trồng vào năm 1939.
Vào năm 1936, chùa là trụ sở của hội An Nam Phật học. Năm
1951 chùa là nơi họp 51 đại biểu Phật giáo toàn quốc chuẩn
bị thống nhất Giáo hội Phật giáo. Chùa hiện đặt văn
phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Thừa Thiên - Huế. (BBT TVHS)
Từ
Đàm là ngôi chùa cổ mà không cổ. Chùa cổ, nếu tính theo
năm khai sinh, khoảng 1690. Khi chùa khai sinh, Trịnh Nguyễn hãy
còn phân tranh, mỗi mái chùa dựng lên ở phương Nam là mỗi
bước chân mở đường Nam tiến sống chết của dân tộc.
Lúc đó, chùa chỉ là tranh và nứa với tên gọi là Ấn Tôn.
Đến thời Thiệu Trị, năm 1841, chùa được trùng tu và đổi
tên là Từ Đàm.
Khang
trang hẳn, nhưng chùa vẫn phải xây thêm lần nữa, mở rộng
ra, cùng với phong trào chấn hưng Phật giáo năm 1935. Bởi
vậy chùa không cổ, kiến trúc 1935 không phải là kiến trúc
cổ, nhưng hợp với nhu cầu của một chùa hội trong thời
thế mới, một ngôi chùa để làm trụ sở cho Hội Phật giáo
của cả xứ Trung kỳ trong vận hội chấn hưng Phật giáo
Bắc – Trung – Nam. Từ đó đến nay, chức năng của chùa
Từ Đàm vẫn thế, vẫn là chùa hội, vẫn là nơi hội họp
của đông đảo quần chúng, nhưng không gian kiến trúc của
thuở chấn hưng đã trở thành chật chội với lượng Phật
tử ngày càng đông của thời phát triển. Nhân dịp tu sửa
vì dột nát, năm nay chùa mở rộng tầm vóc thêm lần nữa,
nhưng vẫn giữ duyên xưa trong khung cảnh cũ.
Từ
Đàm là mây lành. Đức Phật như mây lành, đem bóng mát đến
cho thế gian. Trên bước đường Nam tiến của dân tộc, hãy
tưởng tượng đến những người đầu tiên chọn đất xây
dựng chùa. Trước mắt là đất mới, trên đầu là trời
xanh. Có lẽ người đặt tên chùa đã tưởng tượng như vậy.
Trên bầu trời xanh của nắng mới phương Nam, có đám mây
lành tỏa bóng im xuống mặt đất. Đây rồi, nơi bóng im này,
tiếng lành của Đức Phật sẽ âm vang trên đất mới. Từ
Đàm là nghe được tiếng lành của mây, mây chọn đất cho
người dựng chùa. Hãy tưởng tượng nỗi vui của người
vừa chọn được đất: người đó chắp tay nhìn chỗ bóng
mây in dấu khi nãy, thầm cám ơn, bỗng thấy bóng của hai
bàn tay mình chắp lại như hai tháp chuông của một ngôi chùa
sẽ dựng. Từ Đàm mai đây sẽ có hai tháp chuông như thế.
Ai nghe tiếng chuông Từ Đàm sẽ thấy trong tiếng chuông có
mây, mây bay theo tiếng chuông, ngân nga trong không trung tiếng
lành từ thuở dựng chùa.
Trong
đời sống bình dị như thế của Từ Đàm, bống nhiên lịch
sử chọn nơi này làm khởi điểm cho một phong trào quật
khởi, chống kỳ thị tôn giáo. 1963! Lịch sử thế giới bùng
lên ngọn đuốc Việt Nam, và Từ Đàm là đốm lửa xuất
phát. 1963 để lại cho Phật tử một bài học lớn: khi uất
ức của Phật giáo cũng là uất ức của quần chúng, khi tiếng
nói của Phật giáo vang lên tiếng nói từ mọi trái tim, khi
đó Phật giáo mới thật là xứng đáng với lịch sử. Ba
trăm năm trước, mây Từ Đàm để lại bóng im; ba trăm năm
sau, trăng tròn Phật đản hiện ra trên mái chùa. Trăng nói
gì? Hãy hành động, hãy dũng cảm, nhưng đừng quên dũng cảm
là một với từ bi, cho nên bất bạo động là thái độ duy
nhất đúng. Bởi vậy, hãy đọc lại những biểu ngữ trương
ra trên sân chùa năm ấy, hãy nghe lại lời hiệu triệu rắn
rỏi của người chỉ huy: trong quắc thước của quyết tâm,
lời nói vẫn là lời nói lành, vì phương châm vẫn là bất
bạo động. Cho nên “lửa từ bi” đã đi vào văn thơ Việt
Nam, đã làm thế giới bàng hoàng sực tỉnh. Suốt mùa tranh
đấu, Từ Đàm nằm trong dây kẽm gai, nhưng tuyệt thực trong
chùa vẫn làm xôn xao bát cơm của người dân trong thành phố.
Trong tiếng chuông Từ Đàm hôm nay, có mây bay qua, có trăng
hiện ra, cả mây và trăng đều nói lên lời lành, trong bình
thường của cuộc sống cũng như trong bất thường của biến
động. Nơi đây vẫn lưu dấu hai vầng nhật nguyệt của sử
sách Từ Đàm: Hòa thượng Thiện Siêu và Hòa thượng Trí
Quang.
Chùa
không phải là cổ tự, kiến trúc không phải là nét độc
đáo của Từ Đàm so với các ngôi của lớn khác ở Huế.
Đặc điểm của Từ Đàm, lạ thay, chính là cái sân chùa
và cây bồ đề giữa sân. Sân chùa là nơi hàng ngàn quần
chúng đã tụ họp trong ngày Phật đảm 1963 để bắt đầu
viết lên một trang sử lớn. Cây bồ đề cổ thụ, to bằng
cả bốn, năm vòng tay, tỏa bóng mát xuống sân, vững hơn
cột đồng Mã Viện, tượng trưng cho sức sống Phật giáo
giữa lòng dân tộc. Hai biểu tượng đó của chùa Từ Đàm
phải giữ, để kỷ niệm 1963 không phai với thời gian. Cùng
với hai biểu tượng đó, một phòng lưu niệm phải được
thiết kế trong kiến trúc mới, có chức năng như một viện
bảo tàng, để gìn giữ và trưng bày tất cả những kỷ vật,
dù lớn dù nhỏ, dù chỉ là một bài báo, một tranh ảnh,
một băng ghi âm, một bài nhạc, một trái lựu đạn, một
băng tang, tất cả những gì có liên quan đến một thời đứng
dậy. Từ Đàm là như vậy, là tinh thần 1963 phải giữ, không
phải chỉ là tường vách ngày xưa.
Từ
Đàm là như vậy. Du khách đến viếng Từ Đàm sẽ thấy Huế
của 1963, nhỏ nhắn, hiền lành, nhưng khi quật khởi thì cả
cái đèo Hải Vân cũng chỉ là chiếc cầu rửa chân cho một
cô công chúa. Ai nghe trong tiếng chuông Từ Đàm sẽ thấy mây
bay ba trăm năm trước, trăng tròn Phật đản ba trăm năm sau,
và tiếng gió đong đưa trong lá cây bồ đề trước sân, như
gieo tiếng an vui vào lòng mọi người. Từ Đàm thay đổi để
Từ Đàm còn mãi.
Cao
Huy Thuần
(Tạp
chí Văn hóa Phật giáo 20)
30.09.2006
VAI TRÒ, VỊ
TRÍ CHÙA TỪ ĐÀM
THEO
DÒNG LỊCH SỬ XỨ HUẾ
Thích
Hải Ấn
Kể
từ khi Tổ Minh Hoằng Tử Dung cắm tích trượng khai sơn Ấn
Tôn thiền thất đến nay đã gần 300 năm. Lúc đầu là Ấn
Tôn Tự rồi sau hơn 1 thế kỷ rưỡi trở thành Từ Đàm Tự.
Khí thiêng sông núi un đúc, làm cho đạo mạch Ấn Tôn - Từ
Đàm lưu trường. Tùy cơ duyên khế hợp của từng thời đại,
chùa Từ Đàm đã thể hiện triết lý “Tùy duyên bất
biến” của đạo Phật rốt ráo
“Ai
đi qua miền Trung, sớm hôm chuông chùa nhẹ rung...
Ôi!
anh linh bóng chùa Từ Đàm,
Nơi
Bắc Nam nối nguồn đạo vàng... Từ Đàm ơi!...”.
Đó
là một bài hát nổi tiếng của người Phật tử miền Trung
xuất hiện sau biến cố 1963; một bài hát nói lên được
nhưng nỗi niềm của mọi người con Phật miền Trung và ngay
các tỉnh miền Nam đối với ngôi chùa mà họ hằng yêu dấu;
nó ghi khắc sâu đậm dấu ấn lịch sử của các giai đoạn
chuyển biến lớn của Phật giáo Việt Nam, đó là giai đoạn
Chấn hưng Phật giáo của những thập niên 1930-1940, giai đoạn
thống nhất Phật giáo 1951và giai đoạn chống đàn áp Phật
giáo vào thời chính quyền Ngô Đình Diệm 1963. Như vậy thì
vị trí và vai trò của ngôi chùa Từ Đàm đã ăn sâu vào
tâm khảm của mọi người Phật tử miền Trung cũng như miền
Nam, mà mỗi khi nhắc đến Phật giáo xứ Huế thì không ai
không nghĩ đến ngôi chùa lịch sử này.
I.
VÀI NÉT LỊCH SỬ:
Cách
đây hơn 300 năm, vào đời chúa Nguyễn Phúc Thái (1687-1691),
không rõ chính xác vào năm nào trong khoảng 10 năm: từ 1683
đến 1693, một vị Tổ từ Trung Quốc sang, vào đất Thuận
Hóa và đến tại Hoàng Long Sơn, cắm tích trượng, dựng một
thảo am để hoằng hóa Phật giáo Thiền Lâm Tế. Vị tổ
sư đó chính là ngài Minh Hoằng Tử Dung, và thảo am của Ngài
lúc đó là Ấn Tôn thiền thất, địa vực là chùa Từ Đàm
hiện nay. Đến năm Quý Vị (1703) niên hiệu Chính Hòa thứ
24 đời Lê Hy Tôn ở Bắc Hà, nhằm vào năm thứ 13 đời Minh
Vương Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) thì thảo am đã được sắc
tứ trở thành ngôi chùa có biển hiệu đề Sắc tứ Ấn Tôn
Tự. Biển hiệu chùa hiện nay đang còn. Chùa Ấn Tôn có mặt
trên đất Thuận Hóa cho đến 173 năm sau. Vào năm Thiệu Trị
nguyên niên triều nhà Nguyễn (1841) có lẽ vì kỵ húy Hoàng
gia, nên nhà vua đã hạ chỉ đổi tên chùa thành Từ Đàm
Tự, biển hiệu này cũng đang còn treo tại nhà Tổ chùa Từ
Đàm. Mãi đến năm 1938 thì chùa Từ Đàm được chư Sơn môn
nhường lại cho An Nam Phật Học Hội làm chùa Hội quán và
được tái thiết theo đồ án như ngôi chùa hiện ta đang thấy.
Hiện tại, trước tiền đường chùa Từ Đàm còn có biển
đề “An Nam Phật Học Hội - Thừa Thiên Tỉnh Hội” do “Ninh
Thuận tỉnh, Phật Học Hội cúng dường” vào tháng hai năm
Tân tỵ (1941). Vào các thập niên 50 cho đến cuối thế kỷ
XX, GHPG Thừa Thiên đã kiến thiết thêm cổng chùa, nhà thiền,
tăng xá, nhà khách, nhà bếp; phần khác là “giảng đường”
và văn phòng Tỉnh Giáo Hội.
Về
cách thờ tự thì chùa Từ Đàm có nét đặc biệt từ năm
1940 đến nay là trong chùa chỉ thờ độc tôn một pho tượng
đức Phật Thích-ca bằng đồng cao khoảng 1m30, ngự trên tòa
sen, tay bắt ấn Tam-muội. Đây là công trình nghệ thuật của
ông Mai Trang Nguyễn Khoa Toàn và nhà đúc tượng Nguyễn Hữu
Tuân. Trong điện Phật có bức hoành đề Ấn Tôn tự; phía
Tây sát chùa có nhà Tổ, trong nhà Tổ có một chân dung ngài
Minh Hoằng Tử Dung là Tổ khai sơn Ấn Tôn tự và nhiều long
vị khác của Chư Tổ, cũng như nhiều bài vị bằng chữ quốc
ngữ của các đạo hữu quá cố của An Nam Phật Học Hội
ngày xưa. Phía đông chùa có nhà thiền; trong vườn hoa trước
thiền đường có một pho tượng bán thân của Bác sĩ Lê
Đình Thám, người rất có công với cuộc chấn hưng Phật
giáo Huế và miền Trung; tại văn phòng tỉnh GHPG Thiên Thiên
Huế ở tầng dưới của nhà giảng có pho tượng bán thân
của Ngài Thích Quãng Đức người đã vị pháp thiêu thân
cúng dường mười phương chư Phật trong cơn pháp nạn 1963,
tại ngã tư Phan Đình Phùng - Lê Văn Duyệt - Sài Gòn. Tại
sân chùa Từ Đàm có một cây Bồ-đề thiêng rất lớn, chiết
từ gốc Bồ-đề tại Bồ-đề đạo tràng Ấn Độ đem về
trồng tại đây. Ngoài ra chùa Từ Đàm còn có một câu đối
của nhà yêu nước Phan Bội Châu; một câu đối của Bác
sĩ Lê Đình Thám hiện khắc ở các trụ trước mặt tiền
đường... Tất cả những gì nói trên đây đều biểu hiện
những nét đặc trưng trong kiến trúc và trong cách thờ tự;
tuy mới thoạt nhìn thì có vẻ khác lạ, nhưng “nhìn” kỹ
thì chùa Từ Đàm vẫn theo truyền thống tâm linh Châu Á và
đặc biệt là Việt Nam ta có đầy đủ Phật, Tổ truyền
Pháp đăng, có Hộ pháp.... một cư sĩ là B.S Lê Đình Thám,
và một Tăng sĩ là Ngài Quảng Đức.... chuyển hiện vào thực
tế chứ không phải chỉ là những pho tượng tượng trưng,
và một cây thiêng có ý nghĩa đặc thù của Phật giáo.
II.VỊ
TRÍ TRONG TRUYỀN THỐNG THIỀN TÔN:
Nguồn
suối Phật giáo Lâm Tế ở Nam Hà đã xuất sinh từ vùng đất
thiêng của Ấn Tôn Tự vào cuối thế kỷ thứ XVII đầu thế
kỷ thứ XVIII, tại Nam Hà có một vị Đại sư đã xả thân
đi từ Phú Yên ra Thuận Đô [1] tìm cầu pháp học đạo. Vị
Đại sư ấy sơ khởi tìm đến tham lễ Giác Phong Lão Tổ
ở Báo Quốc thảo am xin cầu học, sau khoảng hơn mười năm,
Ngài đến chùa Thiền Lâm thọ Sa-di với Thạch Liêm Hòa thượng
(1695), hai năm sau, Ngài lên Từ Lâm xin thọ Cụ túc giới với
Từ Lâm Lão Tổ (1697). Khi đã trở thành Tỳ-kheo, vị Đại
sư tìm đến tham lễ cầu học với Tổ Minh Hoằng-Tử Dung
ở Ấn Tôn thiền thất (1699). Năm Nhâm Ngọ (1702) Tổ trao
công án cho Ngài tham: “Vạn pháp qui nhất, nhất qui hà xứ”
(萬法歸一一歸 何處). Mười năm sau, vào mùa hạ năm Nhâm
thìn (1712) chư Tăng hai đạo Thuận Quảng về an cư kiết hạ
tại Thiền Lâm viện, cung thỉnh Tổ Minh Hoằng Tử Dung làm
thiền chủ. Trong kỳ an cư kiết hạ này, vị Đại sư trình
kệ “Dục Phật” được Tổ ấn khả, truyền tâm ấn. Vị
Đại sư người Đại Việt ở Nam Hà đắc đạo thiền Lâm
Tế từ đó, và được kế truyền theo pháp kệ của tổ Minh
Hoằng-Tử Dung, để có pháp danh là Thiệt Diệu, và pháp hiệu
là Liễu Quán. Chính giờ phút này đạo mạch thuộc Ấn Tôn
Từ Đàm tự ở Hoàng Long Sơn đã được trao truyền và tiếp
nhận giữa sơ Tổ Tử Dung và đệ nhị tổ Liễu Quán để
phát huy rực rỡ trên dải đất Nam Hà tức suốt từ Thuận
Hóa vào Nam, từ thế kỷ thứ XVIII đến hiện nay. Bởi vì
sau đó, Tổ Liểu Quán đã hoằng truyền giáo pháp và biệt
xuất một dòng kệ 48 chữ: “THIỆT TẾ ĐẠI ĐẠO, TÁNH
HẢI THANH TRỪNG, TÂM NGUYÊN QUẢNG NHUẬN, ĐỨC BỔN TỪ PHONG...”
Tổ đã khai sơn chùa Thuyền Tôn, một Tổ đình lớn của
Phật giáo Huế từ thời Lê Cảnh Hưng (1708) đến nay. Vào
các năm Quý Sửu (1733), Giáp Dần (1734), Ất Mão (1735), tại
Tổ đình Thuyền Tôn, và đến mùa xuân năm Nhâm Tuất (1742)
tại chùa Viên Thông, Tổ đã khai bốn đại giới đàn truyền
giới cho hàng vạn tín đồ. Trong số theo tu học với Tổ,
có 49 Ngài cao đệ tử đắc pháp. Bốn mươi chín vị này
đã tỏa ra, vân du hóa đạo khắp các tỉnh từ Thuận Đô
vào tận vùng đất mới được các chúa Nguyễn tiếp nhận
của Chăm-pa. Chỗ nào có dân mới từ Tiên Bình Thuận Hóa
vào khai hoang lập ấp là dường như có các ngài đi theo để
dắt dẫn, an ủi người dân mới tới nơi đất lạ xứ người.
Riêng tại Thuận Đô, tức là xứ Huế hiện nay, thì sau khi
Tổ Liễn Quán thị tịch vào mùa thu năm Nhâm Tuất (1742),
có hai cao đệ tử nỗi danh ở lại Tổ đình để tùy duyên
hóa độ nơi đây, đó là ngài Tế Mẫn Tổ Huấn và ngài
Tế Hiển Trạm Quang; ba ngài ra Báo Quốc là Tế Ân Lưu Quang,
Tế Nhơn Hữu Bùi và Tế Hiệp Hải Điện; sau ngài Tế Nhơn
đã cùng với ngài Từ Chiếu vào Phú Yên. Riêng tại Huế
thì ngài Tế Mẫn Tổ Huấn có hai đệ tử đắc pháp là ngài
Đại Huệ Chiếu Nhiên và ngài Đại Nghĩa Trí Hạo. Ngài Đại
Huệ Chiếu Nhiên truyền xuống cho hai đệ tử là Đạo Minh
Phổ Tịnh, được bà Hiếu Khương Hoàng Thái Hậu mời ra
trú trì Tổ đình Báo Quốc được đổi tên là Hàm Long Thiên
Thọ Tự; và Ngài Đạo Tâm Trung Hậu ra trùng hưng tổ đình
Ấn Tôn dưới thời Gia Long, dấu ấn của Ngài còn để lại
trên quả chuông đồng thời Gia Long hiện chùa Từ Đàm đang
bảo quản, từ ngài Đạo Minh Phổ Tịnh truyền xuống rất
nhiều đệ tử đắc pháp, nỗi danh nhất là ngài Tánh Thiên
Nhất Định khai sơn An Dưỡng Am, đến Tự Đức nguyên niên
(1847) được xây dựng thành chùa và được Sắc tứ là Từ
Hiếu Tự. Tổ Tánh Thiên Nhất Định có ba đệ tử sáng chói
là các ngài Hải Thuận Lương Duyên, Hải Thiệu Cương Kỹ,
Hải Toàn Linh Cơ [2]. Hằng trăm ngôi chùa Huế hiện nay, kể
cả những ngôi chùa làng được tái thiết, đều do đệ tử
hoặc pháp điệt của ba ngài này hoặc khai sơn, hoặc trùng
kiến, hoặc kế thế trú trì, làm cho Phật giáo Huế long thịnh
rực rỡ. Kể từ chư Tổ ngày xưa và nhiều thế hệ Tăng
sĩ hiện nay đều có pháp húy theo dòng kệ của Tổ Liễu
Quán, và đều hoằng hóa giáo pháp Lâm Tế Tử Dung - Liễu
Quán vốn phát tích từ Ấn Tôn Từ Đàm vào thời các chúa
Nguyễn. Phật giáo Lâm Tế Tử Dung Liễu Quán chẳng phải
chỉ thực hiện việc tôn sư tuyền tâm ấn cho đệ tử mà
thôi, mà Tổ Tổ tương truyền một nền giáo dục tại các
chùa rất khác với nền giáo dục thời ấy; lại có nhiều
điểm tương cận với giáo dục học hiện đại như dựa
trên tâm sinh lý đối tượng để giáo huấn; tập động thân
thể với khai mở trí tuệ quân bình không thiên về phần
trí mà bỏ phần thể... chư Tổ và chư Tăng cũng đã đóng
góp trong ngành kiến trúc chùa chiền, ngành mỹ thuật trong
việc trang trí chùa tháp, đúc chuông chú tượng làm cho các
ngành nề, mộc, sơn vẽ, chạm gỗ, chạm đá phát triển.
Chư Tổ trong Phật giáo Huế cũng rất chú trọng đến kinh
tế tự túc tự cấp. Tổ Đại Huệ Chiếu Nhiên đã thống
suất tăng chúng chùa Thuyền Tôn về làm ruộng chùa ở xã
Thần Phù; lúa dư ăn, còn nạp tô cho phủ chúa như là một
hộ nông dân tập thể trong địa phương.
Lần
thứ nhất chùa Từ Đàm đã có vai trò trọng yếu trong việc
làm phát sinh cả một Thiền phái của người Đại Việt ở
Nam Hà vậy.
III.
VỊ TRÍ TRUNG TÂM TRONG PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO:
Sử
kiện đáng ghi nhớ là vào năm 1938 cho đến năm 1944, Vào lúc
10 giờ 30 sáng ngày 27 tháng 10 năm Bảo Đại thứ 13, nhằm
ngày 18 tháng 12 năm 1938 T.L, An Nam Phật Học Hội làm lễ đặt
đá để xây dựng chùa Từ Đàm theo đồ án còn lại cho đến
nay mà hồi đó gọi là chùa Hội quán Hội Phật Học Thừa
Thiên và cũng là trụ sở An Nam Phật Học Hội. Hội này được
lập vào năm 1932, gồm có 5 vị Trưỡng Lão Hòa Thượng, mà
Hòa Thượng Giác Tiên đứng đầu, và 17 vị cư-sĩ mà B.S
Tâm Minh Lê Đình Thám đứng đầu, cuộc vận động chấn
hưng Phật giáo đồng loạt xuất hiện khắp cả nước. Hội
Nam Kỳ nghiên cứu Phật Học thành lập năm 1931, và đầu
năm 1932 thì Hội này cho ra báo Từ Bi Âm; cũng trong năm 1932
này thì An Nam Phật Học Hội ra đời tại Huế và qua năm
1933, hội cho ra tạp chí Viên Âm để làm cơ quan ngôn luận
truyền bá đạo Pháp theo đường hướng mới. Năm 1934 Hội
Phật giáo Bắc Kỳ thành lập và năm 1935, hội cho xuất bản
tạp chí Đuốc Tuệ làm cơ quan ngôn luận.
Chúng
tôi cần nói đến hai tiếng An Nam. Chữ này từ đời nhà
Đường trở lui dùng để chỉ nước ta [3]. Nhưng từ khi Pháp
lấy mất nước, thì chúng chia đất nước làm ba phần và
gọi miền Bắc là Tonkin và dịch là Bắc Kỳ, miền Nam là
Cochinchine và dịch là Nam Kỳ; còn An Nam chúng dành để chỉ
miền Trung và dịch là Trung Kỳ. Như thế An Nam Phật Học
Hội chính là Hội Phật Học của dải đất Trung Kỳ kể
tử Thanh Hóa vào tới Bình Thuận.
Vai
trò của Chùa Từ Đàm lần này quan trọng không kém lần thứ
nhất; vì chùa Từ Đàm từ đây (1938) là nơi phát tích nguồn
chấn hưng Phật giáo cho cả 13 tỉnh suốt dải đất miền
Trung. Đặc biệt, hai Nho gia Huỳnh Thúc Kháng và Phan Bội Châu
là những chí sĩ yêu nước sôi nổi lúc bấy giờ cũng đã
nhiệt tình cổ vũ cho công cuộc chấn hưng Phật giáo. Vì
thế hai vế đối mà cụ Phan đề ở tiền đường chùa mang
nhiều ý nghĩa của chủ trương này:
“Nghiệp
duyên bình hiệp, niên niên bạch phát thôi; đối diện tức
không, ninh bả thiều hoa phó lưu thủy”
(業緣萍合|年年白髮催,對面即空寧把韶華付流水).
“Thế
sự kỳ phân, xứ xứ hoàng lương mộng; hồi đầu thị ngạn,
nguyện phiên bối diệp xuất ưu đàm.”
(世事棋分處處黃粱夢,回頭是岸願翻貝葉出優曇)
(Thân
này bèo hợp, năm năm tóc trắng thêm; đối mặt liền không,
há để tuổi xanh theo giòng nước?
Thế
sự bàn cờ, xứ xứ đều mộng ảo, quay đầu là bến, nguyện
phiên kinh Phật tỏa hương Đàm.)
Từ
chùa Từ Đàm phát tích về cách kiến trúc kiểu mẫu kiến
thiết chùa Hội quán và cách thờ tự độc tôn, việc chấn
hưng Phật giáo lan truyền rất nhanh. Chỉ sau bốn năm hoạt
động, tức là khoảng năm 1941 thì “.... ở Thừa Thiên cũng
như khắp 13 Tỉnh Trung Kỳ, dân chúng tự động nhập hội,
tự động cổ động tổ chức Hội ở khắp các địa phương...”[4].
Kết quả khắp dãi đất miền Trung có đến 10 tỉnh Hội,
30 chi Hội và ngót một nghìn Khuôn Hội Tịnh độ. “Không
đầy 20 năm mà toàn cõi Trung Việt, đâu cũng có Tỉnh hội,
Tỉnh hội nào cũng có các Chi hội, Chi hội nào cũng có Khuôn
hội Tịnh độ. Khuôn Tịnh độ hầu hết đều có Niệm Phật
Đường” (Sách đã dẫn, trg 32). Về mặt tinh thần thì Hội
Phật Học đã thiết lập Phật Học Đường từ 1932, xuất
bản tạp chí Viên Âm (1933); lập Phật Học Tùng thư tại
chùa Từ Đàm để phát hành, soạn và in ấn Kinh sách (1938)
và đi diễn giảng lưu động. Đặc biệt là Trường Ni học
đã được thiết lập tại chùa Từ Đàm vào năm 1932, về
sau chuyển đến chùa Diệu Đức. Sư bà Diệu Hương làm Giám
đốc trường này từ ngày đầu. Tất cả mọi đồ án kiến
trúc “chùa Hội quán” nhất là Niệm Phật Đường của
các Khuôn Hội thì đều theo mẫu chùa Từ Đàm; thiết trí
cách thờ tự độc tôn theo cách thờ ở chùa Từ Đàm Huế.
Nếu so sánh với cách thờ tự ở chùa làng thì ta thấy Niệm
Phật Đường trong sáng, nhẹ nhỏm và thoáng hơn nhiều! Hội
Phật Học đặt Hội quán ở chùa Từ Đàm đã cùng với Giáo
Hội Tăng già lập ra Phật Học Đường Kim Sơn (1944). Và “tinh
thần ảnh hưởng của Kim sơn bây giờ tỏa khắp mọi phương
trời, mọi tổ chức, mọi Phật sự (....). Người của Kim
Sơn (tức Tăng sĩ của Phật giáo được đào tạo ở Phật
Học Đường Kim sơn) cùng khắp Trung Nam Bắc, đem Kim ngôn
đức Phật truyền bá khắp nơi dưới tất cả hình thức...”
(Sách đã dẫn, tr 33). Lại có nhiều học Tăng từ Phật Học
Đường Long Xuyên ra theo học, về sau trở thành các vị cao
Tăng của Phật giáo Miền Nam như các Hòa thượng Thiện Hoa,
Thiện Hòa, Hiễn Thụy, Bữu Ngọc v.v... Trong dân gian toàn
vùng Trung Bộ từ Thanh Hóa tới Bình thuận, lến tới các
tỉnh Di Linh, Đồng Nai thượng đều có những kết quả trong
đời sống như bỏ các tập tục mê tín, không đốt vàng
mã nữa, dân sống hòa thuận với nhau, không kiện cáo như
thời trước. Tỉnh nào cũng có một Ban Trị Sự Tỉnh Hội,
mỗi năm về họp tại chùa Từ Đàm Huế một lần để bầu
Ban Trị Sự Tổng Hội.
Riêng
với tuổi trẻ thì từ năm 1940, ở Huế đã có Ban Đồng
Ấu rồi có đoàn Thạnh Niên Phật Học Đức Dục của Bác
sĩ Lê Đình Thám lập ra, tụ hội được nhiều phần tử
trí thức tân học thời đó để dạy Phật pháp cho họ. Năm
1943, có Gia đình Phật Hóa Phổ ra đời; đến năm 1951 đổi
thành gia đình Phật tử. Đây là “một Tổ chức giáo dục
thiếu nhi quan trọng và có sắc thái độc đáo, có thể nói
đó là một trong những nét đặc biệt nhất của đạo Phật
tại Việt Nam. Tại các nước Phật giáo trên thế giới chưa
có tổ chức thiếu niên nào đông đảo và có tổ chức khéo
léo như thế...” (Nguyễn Lang, VNPGS luận III trg 256). Tổ chức
này đã đặt trụ sở tại chùa Từ Đàm, và lan rộng tới
cả miền Nam lẫn miền Bắc. Ngoài Bắc các cư sĩ Nguyễn
Văn Nhã, Lê Văn Lãm, Vũ Thị Đính đã tạo dựng cơ sở đầu
tiên cho GDPH Phổ tại Hà Nội và Hải Phòng. Trong Nam các cư
sĩ Tống Hồ Cầm và Nguyễn Văn Thục đã xây dựng các đơn
vị GDPH Phổ trong phạm vi Hội Phật Học Nam Kỳ.
Hiện
nay, bài hát “Từ Đàm Quế Hương Tôi” của Nguyên Thông
như trên đã nói. Bài hát đã nhắc nhở đến một sử kiện
quan trọng từ chùa Từ Đàm Huế xuất phát ra: đó là cuộc
Hội nghị Thống nhất Phật giáo Việt Nam vào năm 1951. Đây
là một Hội nghị lớn mà tầm quan trọng của nó thật vô
cùng lớn lao. Năm mươi mốt (51) đại biểu của sáu tập
đoàn Tăng già và Cư sĩ cả ba miền đất nước về họp
tại chùa Từ Đàm Huế để làm việc chung trong bốn ngày
ròng rã; lại có hơn 300 Phật tử gồm có nhiều vị trong
Giáo Hội Tăng Già Sơn Môn Thừa Thiên và các Khuôn Hội khắp
tỉnh Thừa Thiên về dự thính. Giáo hội Phật giáo Thừa
Thiên lo sắp xếp nơi ăn ngủ, nơi làm việc từng tiểu ban,
và nơi họp Đại Hội đồng và lo chương trình nhiều khóa
lễ tại chùa Từ Đàm cho toàn Đại biểu dự Đại Hội.
Sau thời gian bàn thảo, toàn Hội nghị để thống nhất Phật
giáo Việt Nam đã ra bản Quyết nghị như sau:
“Chúng
tôi Đại biểu của các tập đoàn Phật Giáo sau đây:
Tăng
già Trung Việt-- Tăng già Bắc Việt-- Tăng già Nam Việt, Hội
Việt Nam Phật Giáo Bắc Việt, Hội Việt Nam Phật Học Trung
Việt- Hội Phật Học Nam Việt; hội họp tại chùa Từ Đàm
(Thuận Hóa) ngày 01, 02, 03, 04, 05 tháng Tư Phật lịch 2514 tức
là ngày 6, 7, 8, 9, 10 tháng Năm, 1955 đồng công nhận Bản Điều
Lệ Hội Phật Giáo Việt Nam rất hợp lý và biểu hiện sự
thống nhất PGVN một cách cứu cánh. Để thực hiện bản
Điều Lệ ấy, chúng tôi cùng nhau quyết nghị những khoản
sau:
Khoản
I. Cùng nhau lập một Tổng Hội y theo Bản Điều Lệ trên
lấy tên là Hội Phật Giáo Việt Nam.
Khoản
II Cung thỉnh một ban chứng minh gồm có:
1.
Hòa Thượng Mật Ứng (BV); Hòa Thượng Tuệ Tạng (BV)
2.
Hòa Thượng Giác Nhiên (TV); Hòa Thượng Giác Tiên (TV)
3.
Hòa Thượng Tuệ Chân (NV); Hòa Thượng Đạt Thanh (NV)
Để
chỉ đạo phần Đạo Pháp cho Tổng Hội, chứng minh các Đai
lễ và các sách báo của Tổng Hội.
Khoản
III: Bầu một Ban Quản Trị Trung Ương gồm có:
1.
Hội chủ: Hòa Thượng Tường Vân Thích Tịnh Khiết.
2.
Phó hội chủ: Thượng Tọa Trí Hải; Đạo hữu Lê Văn Định.
1 Tổng
thư ký; 2 Phó thư ký; 1 Chưởng quỹ và 1 Kiểm lý ngân sách
8 Ủy viên; 3 Ủy viên; 3 Ủy viên dự khuyết (tất cả đều
có tên người giữ chức vụ nhưng đây lược bớt).
Khoản
VI. Gia nhập Hội Phật giáo Thế giới.
(Trích
Viên Âm số 104 (08-04 Tân mão) năm thứ X, trang 3, 4, 5, 6, 7)
Tây lịch là năm 1951.
|
Sau
khi Hội nghị bế mạc thì có một bài hát của nhạc sĩ Lê
Cao Phan, huynh trưởng trong Ban Hướng Dẫn GĐPT cấp tỉnh,
đã vang lên những câu reo vui như: “Phật giáo Việt Nam thống
nhất Bắc Nam Trung từ đây... Tiến lên vì Đạo thiêng...”
v.v... nói lên được ước nguyện của Phật giáo đồ Việt
Nam đã được các đại biểu ba miền thực hiện có thành
quả tại dưới mái chùa Từ Đàm Huế. Từ đó Phật giáo
khắp mọi miền đất nước đã sinh hoạt rất có qui cũ và
chặt chẽ; và lá cờ Phật giáo Quốc Tế có 5 màu rực rỡ
được treo lên ở chỗ nào có thờ Phật là có cờ Phật
giáo tung bay; vì Phật giáo Việt Nam là một thành viên của
Hội Phật giáo Quốc Tế. Và cũng từ đó, Ban Quản Trị Trung
Ương của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam đóng trụ sở tại
chùa Từ Đàm Huế.
IV.
VAI TRÒ BẢO VỆ ĐẠO PHÁP:
Một
lần nữa ngôi chùa Từ Đàm Huế lại giữ vai trò xuất sinh
của một sử kiện trọng đại: Bảo vệ Đạo Pháp. Sự kiện
này tuy xảy ra trong vòng có mấy tháng; nhưng hậu quả vô
cùng hệ trọng, làm đảo lộn cả chính trường miền Nam
và đem lại cho toàn nhân loại trên Thế giới một nỗi lòng
kính phục vô biên đối với Phật giáo Việt Nam nói riêng,
và dân tộc Việt Nam nói chung.
Vào
ngày Phật Đản năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm từ Sài
gòn điện ra khẩn cấp buộc dân Huế hạ cờ Phật giáo;
sự việc xảy ra vào chiều ngày 07-05-1963. Sáng hôm sau Phật
giáo đồ Huế vân tập về làm lễ Phật Đản tại chùa Từ
Đàm. Tối hôm đó (08-05-1963) xảy ra cuộc đàn áp đẫm máu
tại đài Phát thanh Huế, vì chính quyền Ngô Đình Diệm không
cho phát đi chương trình buổi lễ lúc ban sáng, mà đã nhiều
năm GHPG Thừa Thiên Huế đã được quyền làm như thế. Quần
chúng Phật tử đấu tranh đòi hỏi, chính quyền đàn áp,
bắt giết.
“Ngày
10-05-1963 các vị Lãnh đạo Phật giáo họp tại Từ Đàm hoạch
định đường lối và phương pháp tranh đấu bảo vệ Phật
giáo và đòi hỏi công bình xã hội. Một bản Tuyên Ngôn được
soạn thảo, nêu ra năm nguyện vọng của Phật giáo đồ. Bản
Tuyên Ngôn này được gởi tới Tổng Thống Ngô Đình Diệm
qua trung gian ông Đại biểu Chính Phủ Trung nguyên Trung phần”...
(Nguyễn Lang, sđd. trang 346).
Ngày
15-05-1963 tại chùa Từ Đàm, một Bản phụ đính của Tuyên
Ngôn 10-05-1963 được công bố;
Ngày
25-05-1963 cũng tại chùa Từ Đàm, một Phụ trương của Bản
Phụ đính được công bố; dưới tờ phụ trương có chư
ký của “Đại diện 5 cấp Trị sự Phật giáo: Toàn Quốc,
Trung Phần, Thừa Thiên”.
Từ
đó, cuộc đấu tranh bảo vệ Đạo Pháp chuyển vào Sài gòn
và đặt trung tâm tại chùa Xá Lợi. Khởi đi từ chùa Từ
Đàm Huế, lan đến Sài gòn, nơi đóng Thủ đô của chế độ
Ngô Đình Diệm; sau đó lan ra thế giới. Lúc đầu chỉ có
Phật giáo đồ làm lễ với Chư Tăng ở chùa Từ Đàm, sau
lan đến quần chúng: tiểu thương, binh lính; cuối cùng chuyển
đến các trường Trung học và Đại học và trở thành cuộc
đấu tranh của sinh viên toàn quốc đấu tranh cho chân lý và
tự do tín ngưỡng. Chế độ quanh co chối cãi và cứ đàn
áp, làm cho toàn xã hội miền Nam thời bấy giờ tê liệt,
dẫn đến việc Liên Hiệp Quốc lập phái đoàn đến điều
tra; chế độ Diệm đánh dẹp các chùa chiền vào khuya 20-08-1963
làm cho toàn dân, toàn quân phẩn nộ và quân lính nổi dậy
làm binh biến vào ngày 01-11-1963, lật đổ luôn chế độ Ngô
Đình Diệm.
Sau
hai biến cố trọng đại nêu trên, ngôi chùa Từ Đàm đã
trở thành trung tâm của mọi người con Phật; và vì thế
khi nói đến Phật giáo xứ Huế người ta thường nghĩ đến
nơi đây như là một trung tâm của Phật giáo, thậm chí có
người còn cho Huế là thủ đô của Phật giáo Việt Nam vậy.
V.
KẾT LUẬN:
Kể
từ khi Tổ Minh Hoằng Tử Dung cắm tích trượng khai sơn Ấn
Tôn thiền thất đến nay đã gần 300 năm. Lúc đầu là Ấn
Tôn Tự rồi sau hơn 1 thế kỷ rưỡi trở thành Từ Đàm Tự.
Khí thiêng sông núi un đúc, làm cho đạo mạch Ấn Tôn - Từ
Đàm lưu trường. Tùy cơ duyên khế hợp của từng thời đại,
chùa Từ Đàm đã thể hiện triết lý “Tùy duyên bất biến”
của đạo Phật rốt ráo. Bởi vậy, nhìn theo góc độ tùy
duyên bất biến ấy, ta thấy vai trò của chùa Từ Đàm thật
là hệ trọng đối với mạng mạch Phật giáo Thừa Thiên
Huế nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung. Tuy thời đại
và hình thức có khác, song chiều sâu thì Từ Đàm vẫn là
nơi phát xuất của những giai đoạn phát triển và bảo tồn
Phật giáo. Vừa bảo tồn vừa phát huy Phật giáo Thừa Thiên
Huế và nói rộng là cả miền Trung; chùa Từ Đàm rõ ràng
đã đóng vai trò nơi chốn Tổ phát tích đạo mạch của vùng
Hóa Châu xưa. Tuy không phải là nơi thắng cảnh vào hàng nhất
nhì của chùa Huế, song khi chùa Từ Đàm đã làm trọn vai
trò của mình hơn 300 năm, đã qua nhiều giai đoạn và dưới
nhiều hình thức khác nhau cho hợp căn cơ của từng thời
đại, thì lẽ dĩ nhiên chùa Từ Đàm đã, đang và sẽ có
một vị trí tương xứng, nếu không nói là vị trí hàng đầu
trong sự nghiệp truyền bá giáo pháp của đức Phật Thích-ca
Mâu ni. Cho nên, chúng tôi xin kết luận bài này bằng một
kết ý ngắn gọn là nếu ai đến Huế, muốn xem phong cảnh
chùa tháp của Huế thì lên chùa Thiên Mụ, ở đó có đủ
núi, sông, đồi, cây cao, chùa tháp cổ sái, bầu trời xanh
có mây trắng nhẹ nhàng bay v.v... nhưng muốn hiểu vì sao người
ta gọi Huế là “Thiền Kinh” tức là Kinh Đô chùa chiền,
cũng tức là nói đến phong cách Phật giáo xứ Huế, tinh thần
Phật giáo xứ Huế, thì nên về chùa Từ Đàm; nơi uyên nguyên
dẫn xuất anh linh tú khí của cõi Hóa Chân xưa để giữ cho
đạo mạch Phật giáo trong cõi lưu trường với thời gian
vô tận vậy./.
[1]
Chữ trong bia ký tại tháp Tổ Liễu Quán
[2]
Thích Mật Thể, VNPGSL, bản đồ I, ở trang 219, Bản in của
Minh Đức Đà Nẳng, 1960
[3]
Thực sự đây là chữ do người đô hộ Trung Hoa đặt ra gọi
là An Nam độ hộ phủ; còn quốc hiệu do các triều vua độc
lập đặt ra thì lại khác; nhưng không hiểu sao trong thông
tục lại cứ gọi là An Nam!
[4]
Thích Kim Sơn, Viên Âm Nguyệt san số 89-90, số Đặc san về
kỷ niệm lễ Vía Xuất gia và đệ Thập bát chu niên của
Hội Việt Nam Phật Học, năm thứ 9 trang 27, Huế 1950
Thích
Hải Ấn (Theo Nội san Liễu Quán 01)
25.03.2007
08:59
HÌNH
ẢNH CHÙA TỪ ĐÀM ĐANG TRÙNG TU
Ảnh:
Đông Ba
10-04-2007
11:23:45
Từ Đàm
Quê Hương Tôi
Nhạc
sĩ: Thông Đạt
Từ
Ðàm Quê Hương Tôi - Trình bày: Ca sĩ Hà Thanh (RealPlayer)
Từ
Ðàm Quê Hương Tôi - MP3