CHÙA
TRÚC LÂM

Chùa
tọa lạc ở thôn Dương Xuân Thượng I, xã Thủy Xuân, thành
phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Chùa được Sư bà Diệu
Trường kiến lập năm 1903, Hòa thượng Giác Tiên khai sơn
và trụ trì đầu tiên, kế tiếp là Hòa thượng Mật Tín,
Hòa thượng Mật Hiển trụ trì và tổ chức trùng tu ngôi
chùa. Năm 1931, Hội An Nam Phật học ra đời tại chùa, là
cơ sở Viện Phật học đầu tiên tại Huế. Chùa còn giữ
được bản kinh Kim Cang bằng chữ Hán. Bản kinh thêu gần
7000 chữ bằng chỉ ngũ sắc nền gấm do Sư bà Diệu Tâm ở
Sài Sơn thực hiện trong nhiều năm vào triều Cảnh Thịnh
(Tây Sơn).
CHÙA
TRÚC LÂM Ở HUẾ
BS
Hồ Đắc Duy
19
tháng 5 năm 2005

Chùa
Trúc Lâm ở về phía tây nam cách thành phố Huế khoảng 5km,
tọa lạc trên đỉnh đồi Dương Xuân Thượng thuộc làng
Thuận Hòa, xã Thủy Xuân, huyện Hương Thủy.
Đồi
Dương Xuân Thượng nằm lọt thỏm giữa những ngọn đồi
và núi bao quanh. Phía bắc giáp dốc Cầu Lim và đàn Nam giao;
phía nam giáp đồi lăng mộ cụ thượng thư Hồ Đắc Trung
và vùng núi Ngũ Tây, Thần Phù, Phú Bài; phía đông có núi
Thiên Thai và vùng núi đá vôi và phía tây có đồi Thiên An,
núi Kim Phụng mà xa hơn là dãy Trường sơn Nam. Sườn đồi
Dương Xuân hình vòng cung , dưới chân đồi có khe suối uốn
khúc chảy từ hướng nam bắc vòng qua dưới Cầu Lim vào địa
phận Dương Xuân Hạ trước khi đổ ra sông Hương.
Cách
đây hơn nửa thế kỷ về mùa mưa suối chảy xiết nước
đổ ầm ầm, đến mùa khô hanh nước cạn dần, suối trở
thành khe nước trong vắt ngọt lịm có thể thấy đá cuội
dứới lòng khe và những đàn cá nhỏ tung tăng rượt đuổi
nhau. Hai bên bờ suối là một dãi cát trắng phau nhất là
ở trước mặt tiền của chùa, còn ở nơi khác thì cát chen
lẩn với đá cuội đủ màu sắc (từ đen tuyền cho đến
trắng bạch, xanh ngọc, xám, nâu vàng tím…) to nhỏ tròn lép
hay có những hình thù góc cạnh khác thường trông rất lạ
mắt đúng là:
Trước
mặt bờ khe phơi cát trắng
Sau
lưng chòm núi rợp cây xanh.
Đến
thập niên 60 thế kỷ trước, sư ông trù trì chùa Trúc Lâm
là Hòa thượng Thích Mật Hiển cho ủi san bằng khu đất trước
cổng chùa bên dưới chân đồi và đào sâu xuống thành một
cái hồ hình chữ S. Sư ông còn đắp một con đường đi vòng
quanh hồ, hai bên bờ trồng trúc, tre la ngà, dương liễu. Mé
phải đầu con đường thiền hành này sư ông có cho dựng
một cột đá có khắc chữ hình như là ba chữ Trúc Lâm
Tự. Lâu ngày cột đá đổ xuống không rõ tấm bia nay còn
hay đã mất.
Gần
một thế kỷ khi mới lập chùa Trúc Lâm, chổ đó chỉ là
một cái am lá thô sơ nằm trong một khu rừng hoang vắng rậm
rạp tre trúc dày đặc. Chung quanh am là đồi núi khe suối
chia cắt, theo đường chim bay thì từ kinh đô đến chùaTrúc
Lâm còn xa hơn chùa Tra Am của sư Viên Thành ở dưới chân
núi Ngự Bình. Ít người đến được nơi đây hoặc muốn
tới phải băng rừng lội suối vạch lau sậy đi theo lối
mòn của tiều phu hay thợ săn.
Đồi
Dương Xuân là đất bìa rừng của dãy Trường Sơn, đứng
trên núi Ngự Bình hay trên đỉnh Thiên Thai nhìn về phía tây
là có thể định vị đỉnh đồi Dương Xuân Thượng nếu
như có một tiều phu nào đó đốt củi làm than trên đó.
Tồ
khai sơn chùa là Thiền sư Giác Tiên, câu chuyện ngôi chùa
được thành lập là một hạnh duyên cực kỳ lý thú :
Nguyên
vào mùa xuân năm Ất Mùi (1895) triều Thành Thái, chùa Phổ
Quang ở dốc Bến Ngự càng ngày càng hư hỏng. Theo tương
truyền là một thảo am của ông Nguyễn Hữu Hào (Đôn Hậu
Công Thần Trấn Thủ sinh năm 1642 mất năm 1712 tức anh ruột
của Nguyễn Hữu Cảnh ngưởi khai sinh ra thành phố Saigòn)
tác giả của một truyên thơ bằng chữ Nôm truyền đời đó
là truyện Song Tinh (một tác phẩm văn học cổ nước
ta trước cả truyện Hoa Tiên và truyện Kiều hơn một thế
kỷ). Lúc ấy, tự trưởng là Chánh Động Đại sư đem ngôi
chùa cúng dường cho đại lão hòa thượng Cương Kỷ chùa
Từ Hiếu. Bấy giờ có một tỳ kheo ni là bà Hồ Thị Nhàn
người làng Chuồn ( An Truyền, Phú Vang, Thừa Thiên) con ông
Hồ Đắc Tuấn và bà Công Nữ Thức Huấn, cháu ngoại của
Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Bà sinh năm 1863 kết duyên cùng
ông Nguyễn Đôn Lý, sau ngày chồng mất bà xuất gia thụ giáo
với hòa thượng Cương Kỷ chùa Từ Hiếu (1898) pháp danh Thanh
Linh hiệu Diên Trường. Bà xin phép đại lão hòa thượng được
trùng tu chùa Phổ Quang. Điện Phật, cửa chùa, nhà tăng, buồng
bếp, ảnh tượng, đồ thờ được sửa sang trang nghiêm đầy
đủ. Bà lại đem chuyện đó tâu lên với đức Thái hoàng
Thái hậu Trang Ý Thuận Hiếu xin ban cho hai mẫu ruộng chi dùng
vào việc đèn hương… Đấy cũng là thời điểm đang mở
đường xe lửa chạy ngang qua dứơi chân đồi của chùa Phổ
Quang, nơi ấy trở nên thị tứ ồn ào đông đúc, dân cư
tụ tập, chơ búa ghe thuyền tấp nập… nên sư bà Diên
Trường tìm đường rẻ lối tới chốn sơn lâm cùng cốc
xa hơn lập một thảo am khác để tiếp tục tu hành. Duyên
lành đã hạnh ngộ trên đỉnh đồi Dương Xuân là vậy, khi
thảo am đã xong sư bà Diên Trường mời sư Giác Tiên về
làm trụ trì và sư cũng là tổ khai sơn của chùa Trúc Lâm
ngày nay.
Trước
khi về nhận chùa, sư Giác Tiên đã cùng sư cụ Diên Trường
du hành đó đây. Khi đến Trúc Lâm Yên Tử (một trung tâm
Phật Học dứơi triều đại nhà Trần) hai vị đã lưu lại
một thời gian, sưu tầm một số pháp bảo quý giá như kinh
điển, pháp khí. Trở về Huế, sư đã quyết định đặt
tên chùa là Trúc Lâm Đại Thánh, có ý liên hệ với Trúc
Lâm tinh xá thời Phật còn tại thế và thiền phái Trúc Lâm
ở Yên Tử nước ta do Trúc Lâm Đầu Đà Đại Sĩ (hiệu của
vua Trần Nhân Tông) thiết lập.
Tổ
khai sơn pháp danh Trừng Thành, tự Chí Thông thuộc dòng Lâm
Tế chánh tông đời thứ 42. Sư thế danh Nguyễn Duy Quyển
sanh năm 1879 tại làng Dạ Lê Thượng, Thủy Phương, Hương
Thủy. Lên 4 tuổi thì song thân mất, phải về ở với ông
bà đến năm 11 tuổi (1890) xin xuất gia và được thọ giáo
với tổ sư Tâm Tịnh (đời thứ 41 thuộc dòng Lâm Tế, người
khai sơn tổ đình Tây Thiên). Đầu tiên ngài được tu học
tại tổ đình Từ Hiếu, nơi ngài Hải Thiệu đang làm trụ
trì và ngài Tâm Tịnh làm giám tự. Năm 14 tuổi ngài được
tổ cho thọ giới Sa-di. Năm 1907, Hòa thượng đàn đầu Vĩnh
Gia tổ chức đại giới đàn tại chùa Phước Lâm tỉnh Quảng
Nam, ngài được cho đăng đàn thọ cụ túc giới. Tại đây
ngài được cử làm thủ chúng Sa-di khi vừa 28 tuổi.
Năm
1918 sư mở đại giới đàn tại chùa Từ Hiếu, mời Hòa thượng
Tâm Tịnh làm đàn đầu. Năm 1924 vân tập đại Tăng
an cư kiết hạ tại chùa, năm sau sư được chiếu chỉ của
triều đình mời làm trú trì ngôi quốc tự Diệu Đế.
Năm
1926, sư cho trùng tu toàn bộ Phật điện và tăng xá chùa Trúc
Lâm. Đến năm 1928 ngài biến Trúc Lâm thành nơi đào tạo
tăng tài. Năm Kỷ Tỵ 1929, ngài vào Tổ đình Thập Tháp ở
Bình Định mời Hòa thượng Phuớc Huệ ra Huế làm chủ giảng.
Năm 1930, sư khuyến khích và giúp đỡ sư bà Diệu Hương xây
dựng và mở Ni trường Diệu Đức.
Năm
1931, sư là người đầu tiên khởi xướng phong trào chấn
hưng Phật giáo và vận động thành lập Hội An Nam Phật học,
thỉnh nhiều vị thiền sư tài đức về chung lo Phật sự.
Năm 1932, nhờ sự giúp đỡ của bà Từ Cung (Đoan Huy Hoàng
Thái hậu), vua Bảo Đại cho phép An Nam Phật học hội ra đời
do sư đứng đầu, trụ sở đầu tiên đặt tại chùa Trúc
Lâm Huế. Năm 1933, sư ủy cử thiền sư Mật Khế vị đệ
tử xuất sắc của ngài mở trường An Nam Phật học sơ cấp
tại chùa Vạn Phước. Năm 1934 vua Bảo Đại ban sắc chỉ
đặt tên chùa là “Sắc tứ Trúc Lâm Đại Thánh tự ”.
Năm
1935, pháp sư Trí Độ đảm nhiệm chức vụ Đốc giáo sau
khi trường dời từ chùa Túy Vân (chùa Thánh Duyên ) về chùa
Báo Quốc. Trong năm này sư cùng đệ tử Mật Khế tổ chức
trường An Nam Phật học tại Trúc Lâm, thu nhận 50 học tăng.
Đến cuối năm ngài lại quy tụ các học tăng có trình độ
cao về Trúc Lâm để mở thêm cấp Đại học Phật giáo, và
đó là lớp Đại học Phật giáo đầu tiên có tại miền
Trung. Ngoài vị đệ tử lớn của sư là thiền sư Mật Khế,
còn có vị đệ tử tại gia rất xuất sắc là Bác sĩ Lê
Đình Thám, người đã soạn thảo chương trình tu học cho
thanh thiếu niên Phật tử. An Nam Phật học hội đã hơn một
lần tổ chức một đại lễ Phật đản lớn chưa từng có
ở Huế.
An
Nam Phật học hội qui tụ được nhiều nhà tu hành uyên bác
như các Thiền sư Mật Khế, Mật Thể, Đôn Hậu, Diệu Hương,
Diệu Không... các cư sĩ như Tiến sĩ Đinh Văn Chấp, Nguyễn
Khoa Tân, Bửu Bác... và ra báo Viên Âm, tổ chức các buổi
thuyết pháp, dịch Kinh sách
Ngày
2 tháng 10 năm Bính Tý, sư cho quy tụ đồ chúng để nghe giảng
kinh Pháp Bảo Đàn. Hai hôm sau khi giảng xong phẩm Bát nhã,
sư nhìn từng đệ tử để truyền kệ và vào lúc 20 giờ
ngày mùng 4 tháng 10 niên hiệu Bảo Đại thứ 11 (tức ngày
17.11.1936) sư thị tịch lúc 57 tuổi trong lúc đang đảm nhận
trách vụ trú trì hai tổ đình Trúc Lâm - Diệu Đế và chứng
minh đạo sư cho hội An Nam Phật học.
Với
công hạnh và đức độ của sư, ngài Tâm Tịnh đã phó pháp
bài kệ sau :
Giác
đạo kiếp không Tiên
Không
không bát nhã Thuyền
Quả
nhân phù hạnh giải
Xứ
xứ tức an nhiên.
(Đường
giác kiếp không trước, thuyền bát nhã không không, hạnh
giải hợp nhân quả, ở đâu cũng thung dung).
Ông
Nguyễn Lang viết : “Thiền sư Giác Tiên có thể gọi là người
đã khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo miền Trung.
Thiền sư hướng đạo cho hội An Nam Phật học được bốn
năm thì viên tịch. Các đệ tử của ngài là thiền sư Mật
Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện và Mật Thể đều đóng những
vai trò quan trọng trong phong trào chấn hưng Phật giáo sau này”.
Thiền
sư Mật Khế là một trong những đại đệ tử của sư Giác
Tiên. Sư là con ông Khóa họ Lê ở Thần Phù và bà Nguyễn
thị Lài người làng Cầu Ngói Thanh Toàn. Xuất gia từ năm
lên 7 tuổi sau khi cha qua đời, sư là một người thông minh
lanh lợi làu thông kinh sử ngay từ thuờ niên thiếu được
mọi người trong chùa gọi là chú tiểu Nam. Năm 20 –
22 tuổi khi đang tu học ở chùa Thánh Duyên - Túy Vân
(quê hương của đức Từ Cung, mẹ vua Bảo Đại). Bà Từ
Cung nghe tiếng sư là người uyên bác nên cho vời sư vào cung
để thuyết giảng phật pháp.
Thiền
Sư Mật Khế qua đời khi còn rất trẻ khoảng 30 tuổi vì
bị viêm phúc mạc do viêm ruột thừa, hiện tại thiền sư
còn một người em gái là cụ bà Hồ Thị Huyền vợ của
ông Ưng Úy (thượng thư bộ Lễ) và bà đang sống tại Tp
HCM.
Thiền
sư Mật Thể thế danh là Nguyễn hữu Kê người làng Nguyệt
Biều (Hương Thủy, Thừa Thiên) sinh năm 1912, xuất gia năm
12 tuổi, tu học tại chùa Diệu Hỷ, Từ Quang, Trúc Lâm. Năm
1930, được Hòa Thượng Giác Tiên nhận làm đệ tử pháp
danh Tâm Nhất, hiệu Mật Thể. Năm 1937 sang Trung Quốc học
ỡ Phật Học Viện Tiêu Sơn, năm 1941 dạy tại Phật học
đường Lữơng Xuyên Trà Vinh, năm 1944 làm trụ trì chùa Phổ
Quang ở Huế và mất năm 1961 tại Nghệ An.
Thiền
sư Mật Hiển là sư ông trụ trì chùa Trúc Lâm lâu nhất,
mất năm 1992 là ngươi có công nhiều nhất trùng tu và xây
dựng chùa Trúc Lâm để có được dáng vẻ như ngày hôm nay.
Từ
thành phố Huế xe đi qua cầu Nam Giao vào con dường thẳng
mà không bằng ấy đến đàn rẽ trái vượt qua cầu Lim găp
một con đường đất bên trái đi thêm khoảng 500 mét
là đến cổng chùa. Chỉ mất chừng nửa giờ đi xe là đến
nơi, con đường đá vàng cát trắng quanh co ngày xưa mà bác
sĩ Lê Đình Thám đã từng mô tả :
Đường
Trúc Lâm đá vàng cát trắng,
Cảnh
Trúc Lâm, cảnh vắng người thanh
Dòng
khe lượn khúc như tranh
Rừng
cây rợp bóng tươi xanh bốn mùa.
Thoạt
đầu để mở được con đường quả thật là cam go vì khu
vực này còn là rừng nguyên sinh, cây cối tre trúc um tùm ít
bóng ngươi lai vãng. Đất đai chưa có ai khai phá có rất nhiều
đoạn phải xẻ núi bởi triền đồi Dương Xuân Thượng có
độ dốc khá dựng đứng bên phải là vực sâu có giòng khe
nước chảy xiết nhất là mùa mưa bão.
Một
trăm năm trước nhà chùa chỉ làm được một lối mòn ven
triền đồi để đi lại, xe ngựa không thể vào đây được
(dấu tích nay vẫn còn thấy). Sau những đợt trùng tu chùa
vào các năm 1926, 1942, 1968, 1992 con đường mới được rộng
rãi như hôm nay.
Tôi
sinh ra và trọn tuổi ấu thơ đã được sống bên cạnh chùa
Trúc Lâm, ngôi chùa đã in một dấu ấn sâu sắc trong tâm
hồn tôi. Vả lại gia đình nhà tôi còn có một mối liên
hệ rất mật thiết với ngôi chùa này. Sư bà Diên Trường
là em gái của ông nội tôi là cụ Hồ Đắc Trung (Thượng
thư bộ Học, Đông Các Đại Học Sĩ, thầy dạy vua Duy Tân,
bạn của hai ông Thái Phiên, Trần cao Vân và là người duyệt
lại bộ “Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu” một quyển
sử quan trọng của Quốc Sử Quán triều Nguyễn ).
Ờ
trong Hậu tổ Chùa Trúc Lâm hiện nay vẫn còn hai câu đối
của ông nội tôi đề tặng khi Thiền sư Giác Tiên viên tịch:
Học
hạnh khiêm ưu bình tố năng linh nhơn cảnh mộ
Tử
sanh vô ngại tu trì định hoạch Phật siêu thăng.
(nghĩa
: Học hạnh khiêm ưu thường được người ta mến mộ . Sống
chết không ngại tu trì kết quả Phật siêu thăng).
Vị
kế Đông sơn phi cụ nhãn yên minh tổ ý
Pháp
khai Nam lĩnh thị mê nhơn bất khế Phật tâm.
(nghĩa
: Ngôi nối núi Đông, không mắt tỏ sao rõ ý tổ . Pháp mở
rừng Nam, nếu người mê, không hiễu tâm Phật).
Năm
1942 thiền sư Mật Hiển đại trùng kiến chùa theo hình chữ
khẩu, đưa chánh điện lên phía trước, hai bên là đông đường
dùng làm nhà khách và tây đường làm thiền thất. Chánh điện
cũ dùng làm nhà hậu để thờ chư vị tiền bối hữu công
và hương linh thiện nam tín nữ (trong đó gian giữa có khán
thờ ông bà nội và cha tôi).
Năm
lên 6 tôi được mẹ cho đi học ở một trường do các Cha
cố dòng Thiên An lập ra ở ngã ba Cầu Lim. Để đến trường
có hai con đường, một là đi băng qua chùa Trúc Lâm và hai
là phải đi qua một cánh đồng.
Nhà
tôi ở là cơ ngơi dinh thự của bác tôi ông Hồ Đắc Khải
, thượng thư bộ hộ để lại tọa lạc trên một đỉnh
đồi kế cận với đồi Thiên An
Tôi
trở lại Trúc Lâm lần cuối vào năm 1952 khi cha tôi qua đời,
lúc ấy quân Pháp đóng đồn ở Nam Giao. Chúng ngăn con đường
cấm dân chúng không được đi lại qua đồn. Từ Huế muốn
lên chùa Trúc Lâm hay lăng Khải Định dân phải đi vòng núi
Bân, Ba Đồn, Tây Thiên hoặc phải đi vòng qua Long Thọ.
Mẹ tôi phải xin phép viên sĩ quan Pháp để xe chở quan tài
của cha tôi được đi ngang qua.
Sau
tang lễ chúng tôi rời Huế vào Saigon và 4 năm sau khi hòa bình
được tái lâp, chúng tôi trở lại Huế và kể từ đó cuộc
sống của tôi gắn liền mật thiết với ngôi chùa này hơn
bởi nhiều lý do.
Lần
đầu tiên tôi khám phá những điều kỳ diệu của đạo Phật
là ở nơi lầu chuông, trong chùa lúc bấy giờ có mấy chú
điệu cùng trang lứa với anh em tôi là Lưu Ân và Lưu Phương.
Ngày nọ, họ nói với tôi là “ sáng mai mồng một Tết rán
thức dậy thật sớm, tui sẽ dẫn anh Thiện (tên tôi) lên
lầu cho anh gióng chuông, hay và vui lắm”.
Đêm
đó là đêm 30 tết, tôi ra đứng ngoài sân chùa nhìn về hướng
thành phố Huế thấy sáng rực lên một góc trời. Pháo của
nhà ai đó ngoài xóm nổ đi đùng vang tới cảnh chùa khiến
lòng tôi cũng nao nao.
Tối
thiếp đi cho tới khi bị lay dậy Lưu Ân suỵt môi ra dấu
cho tôi đi rửa mặt và thay áo quần, Lưu Phương đi trước
cầm cái đèn hột vịt. Ngang qua nhà khách, leo một bậc cấp
dọc theo phía đông của nhà Tổ và chánh điện. Lầu chuông
có hình vuông. ba mặt tường có hoa văn nhìn ra phía ngoài,
lối đi vào ăn thông với hành lang của chánh điện. Một
quả chuông rất to màu xám xanh được treo trên một giá đỡ
bằng gỗ. Mặt ngoài chuông trơn láng gờ lên những hoa văn,
so với thân hình của tôi lúc đó thì quả chuông thật vĩ
đại. Trên giá đỡ có một sợi dây căng ngang để móc các
thẻ tre, cứ mỗi lần dộng chuông thì kéo một thẻ từ phía
nam qua bắc. Chày dộng bằng gỗ rất đơn sơ được treo lên
nóc bằng một sợi dây thừng, nghe nói là sư ông đã cho thay
cả chục cái chày, cho đến khi lựa được một cái chày
vừa ý mà sau này tôi cho là cái chày của sự tỉnh thức
vì chỉ có cái chày đó khi dộng chuông mới tạo ra một âm
thanh vô cùng huyền diệu. Một âm sắc có khả năng đưa con
người trở về với thanh tịnh tâm. Tiếng chuông phát ra từ
cái dộng dầu tiên đã làm cho máu huyết trong cơ thể tôi
muốn đảo ngược lên sau đó điều hòa một cách nhẹ nhàng
êm ái, tâm hồn trở nên vắng lặng hư không. Tôi không còn
ham muốn, ray rứt hoặc giận hờn. Hình như mọi chuyện đều
trở nên đơn giản và thân thiện khi nghe tiếng ngân mơ hồ
như từ một cõi ta bà nào đó vọng tới, một thông điệp
cuộn tròn trong những tiếng ngân cuối cùng. Tâm hồn thơ
ấu của tôi đang theo sau bước hành thiền của tiếng chuông,
tôi đang được tách rời ra khỏi với thế giới hiện tại
thì có tiếng thúc giục của Lưu Ân báo cho tôi biết là đến
lúc phải dộng tiếng chuông kế tiếp.
Sau
lần được gióng chuông , tôi bắt đầu tìm hiểu những điều
bí ẩn trong gian chánh điện là nơi mà tôi ít khi được lên
đó một mình hay nói cách khác là tôi không dám lên khi không
có ai. Lúc đó tôi chỉ thích cái sàn nhà của chánh điện,
nó mát lạnh tuyệt vời mà không phải bất cứ chùa nào ở
Huế cũng có được. Chỉ cần nằm lăn lên trên cái sàn nhà
đó là hạnh phúc và bình an đến với tôi, tôi không còn
sợ hãi ma quỉ hù dọa, cảm giác như được mẹ ôm vào lòng,
che chở và từ đó thỉnh thoảng nếu thấy không có ai thì
tôi lén chạy lên nằm lăn lên đó cho “đã thèm” ! Một
lần tôi bị sư ông bắt gặp, có lẽ sư ông thấy hết hành
động của tôi từ đầu chí cuối, tôi lăn lộn như một
chú chó con mừng chủ đi xa trở về, ngụp lặn hạnh phúc
trong cõi bình an một cách tột độ trước mặt hình tượng
im lặng trang nghiêm của đức Thế Tôn đang ngự trên tòa
sen. Tôi đã hốt hoảng biết chừng nào khi nhận ra là sư
ông đang nhìn mình nằm lăn ra như vậy.
Ngài
không nói mà chỉ nhìn tôi đang sợ hãi bối rối đứng lên
rồi ngài đến nhẹ nhàng cầm bàn tay nhỏ bé của tôi đang
run rẩy dẫn qua phía tây của chánh điện, vòng ra phía nhà
Tổ và chỉ cho tôi ảnh của một người râu ria xồm xoàm
vai vác một cây gậy có treo một chiếc giày. Mãi đến mấy
chục năm sau, tôi mới biết người ấy là ai
Tôi
chưa bao giờ kể chuyện sư ông bắt gặp tôi nằm lăn ra sàn
nhà chánh điện với ai. Đó là ảo ảnh, hư cấu hay
là một giấc mơ tẩu hỏa nhập ma trong thời thơ ấu của
mình để mà suy nghiệm lời của đức Thế Tôn dạy “ Nhứt
thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào ảnh như lộ, diệc
như điểu, ưng tác như thị quán ”
Sư
ông đã viên tịch cách đây 10 năm, nhục thân của sư ông
không biết bây giờ ra sao, duy chỉ có đôi mắt của và thần
cách của sư ông là vẫn còn sống mãi trong tâm hồn tôi.
Cho đến bây giờ đã qua tuổi 60 tôi vẫn còn “mơ hồ”
về đôi mắt ấy, sự im lặng thiêng liêng, bàn tay ấm áp
của ngài khi cầm bàn tay nhỏ bé đang run rẫy của tôi và
cái mật hiễn mà sư ông chỉ cho tôi hình của ngài Bồ Đề
Đạt Ma là gì tôi cũng đang còn “mơ hồ” !
Một
năm trước khi sư ông viên tịch, tôi có gặp ngài tại chùa
Già Lam và đôi mắt ấy sáng hơn, mạnh mẽ và dữ dội hơn.
Những tia sáng từ mắt ngài xuyên thủng mọi mầm mống ác
độc, nghi ngờ và đọc dò cả một quá khứ ẩn chứa trong
tiềm thức của tôi. Hình như trước đôi mắt của sư ông,
tôi không thể dấu diếm, che đậy, ma mãnh được bất cứ
điều gì và cũng trong tia sáng từ đôi mắt ấy tôi tìm được
sự bình an vĩnh cửu, thảnh thơi và hình như sư ông cũng
“mơ hồ” không muốn giải mã về hành động của sư ông
khi chỉ tay về phía hình của ngài Bồ Đề Lạt Ma…
Giếng
nước trước và sau lưng chùa, khóm trúc, con suối vòng vèo,
tiếng ngân cuối cùng trong lầu chuông, sàn nhà trước chánh
điện, đôi mắt của sư ông và kỷ niệm của những đêm
trừ tịch là tất cả những gì về chùa Trúc Lâm trong tâm
trí tôi.
“
Đảnh lễ hay là quỳ lạy thì cũng vậy thôi , sửa làm chi
anh cứ để nguyên như vậy ” lời của thầy Trí Quang nói
với tôi khi mẹ tôi qua đời lúc bà 92 tuổi .
Mẹ
đã có lần nói “ ngồi bên mộ ba tôi , mẹ vẫn còn
nghe được tiêng chuông chùa Trúc Lâm vọng đến , âm vang
của tiếng chuông bay qua núi đồi khe suối len vào những tàng
thông già cỗ thụ , vổ về nhửng tia nắng cuối cùng của
buổi chiều tỉnh lặng…. ”
Còn
đối với tôi chùa Trúc Lâm là hóa thân của đôi mắt sư
ông