CHÙA
TRÀ AM

Chùa
tọa lạc ở thôn Tứ Tây, xã Thủy An, thành phố Huế, tỉnh
Thừa Thiên - Huế. Chùa do Đại sư Viên Thành khai sáng năm
1923. Đại sư thế danh là Công tôn Hoài Trấp, năm 15 tuổi
xuất gia tại chùa Ba La Mật với Đại sư Viên Giác. Chùa
được ngài Trí Hiển trùng tu năm 1937 và ngài Như Yý tổ
chức đại trùng tu năm 1960 theo nghệ thuật kiến trúc Nam
Á Châu. Bên phải chùa có tấm bia khắc chữ Hán hai mặt do
Bình Nam Nguyễn Khoa Tân viết vào năm Bảo Đại thứ 6 (1931).
-
Chùa
Trà Am hay Tra Am
-
Tổ khai
sơn là một vị công tử
-
Lược
Ước Tùng Sao tập thơ của chủ nhân chùa Trà Am
-
Trà Am
hôm nay
Mùa hè
cách đây 46 năm khi tôi vừa học xong lớp nhất trường tiểu
học An Cựu lúc đó chúng tôi chỉ mới 12 tuổi , tôi , Lê
Ngọc Dinh và Vũ ba đứa rủ nhau đi chơi chùa Trà Am , chỉ
nghe tiếng chứ chưa biết đường nhưng ba đứa nhỏ chúng
tôi vẫn quyết định khởi hành , từ sáng tinh mơ mẹ tôi
đã làm saün cho một vắt cơm bới và một chai nước cho thêm
ba đồng bạc cây dừa chúng tôi qua đò ở cống Phát Lát
, đi ra ngã lăng Vạn Vạn gần nhà cụ Phạm Quỳnh , lên Trường
Bia rồi đến ngã ba Ngự Bình , tù đó chúng tôi hỏi đường
để vào chùa Trà Am , con đường đất nhỏ ngoằn ngoèo chạy
theo chân núi Ngự Bình , hai bên đường toàn là cây bứa ,
cả một rừng bứa rợp bóng cây với các trái bứa trỉu
vàng với những tàng lá che kín ánh sáng mặt trời làm mát
rượi con đường đi , lên Trà Am thì tha hồ mà ăn bứa ,
trái bứa chua ngọt và chát mũ dính miêng nhưng đúa nào cũng
muốn ăn , dó là kỷ niệm đầu tiên trong đời tôi về chùa
Trà Am , về sau này tôi mới biết chùa Trà Am nằm gọn ở
giữa ba hòn núi nỗi tiếng ở Huế là Núi Ngự Bình , núi
Thiên Thai và núi Ngũ Phong , thuộc thôn Tứ Tây , An Cựu huyện
Hương Thủy
Đi
từ Huế lên Trà Am non 10 cây số , con đường vòng vèo qua
chân núi Ngự Bình , vừa qua một con suối nhỏ là đã tới
Trà Am
Chung
quanh Trà Am còn có nhiều ngôi chùa cổ như Viên Thông , Tây
Thiên , Trúc Lâm . Hồng Ân...
Muốn
đến Viên Thông thì đi chừng cây số rưỡi , muốn qua Hồng
Ân , Trúc Lâm thì đi vòng qua chân núi Ngự Bình ra Nam Giao
qua Tây Thiên hay đi xuống Cầu Lim mới vào được Trúc Lâm
, nhưng đi đường tắt thì nhanh hơn chỉ đi vòng qua mấy
quả đồi , mấy quả núi đá nhỏ dưới dãy núi Thiên Thai
là có thể tới Hồng Ân rồi lội qua một con suối nhỏ vòng
qua một giếng đá , nước trong veo ngọt lịm mát rượi là
đến địa phận chùa Trúc Lâm
Trà
Am hay là Tra Am ?
Cách
đây 80 năm khi lập chùa , tổ khai sơn lấy biệt hiệu của
mình đặt tên cho chùa là Tra Am , Tra Am là do điễn tích của
Trung Hoa , theo Nam Sử , Trương Phu thuở nhỏ tên là Tra, cha
ông là Trương Thiệu tên tục là Lê . Vua Tống Văn Đế thường
gọi đùa rằng :" Tra sao bằng Lê được !" Trương phu cười
mà tâu rằng: " Lê là cây trăm quả, Tra đâu dám sánh bằng
!" Đời sau dùng điển tích này chỉ người sau không bằng
người xưa , ngụ ý khiêm nhường , Tổ khai sơn lấy biệt
hiệu Tra Am này tự cho mình không bằng được sư phụ .Trong
di chúc để lại vị tổ khai sơn này nói câu; Tự hậnTra
bất như Lê dã " để tỏ lòng tôn kính sư phụ mình
Người
dân Huế đọc không quen được chữ Tra Am họ đọc trại
ra thành chữ Trà Am lâu ngày người ta quen gọi tên chùa là
Trà Am mà quên mất nó là Tra Am với cái điển tích cái ý
nghĩa mà vị tổ khai sơn đã đặt cho nó
Chùa
Trà Am khởi công xây dựng vào năm 1923 , chủ nhân cùng mấy
đệ tử là Trí Uyên , Trí Hiển, Trí Giải và vài ba người
giúp việc xắn tay đốn cây , chặt lá ,cuốc đất làm nền
dựng chùa ,giữa một mảnh đất còn hoang sơ chưa vết chân
người lui tới , lúc đầu chỉ là một mái am tranh sơ sài
, phên tre được trét bằng đất sét vàng , gian trước để
thờ Phật , bên tả là nhà trai và bếp , bên hữu làm phòng
khách phía sau là thư phòng và chổ nghĩ ngơi của chủ nhân
Cảnh
trí chung quanh chùa là một bài thơ , một tác phẩm nghệ thuật
hiếm có , tất cả cây cỏ , khe suối , núi đồi , đá tảng
được sắp xếp tạo dáng để khi ai đó bước chân đến
ngôi chùa này cũng cảm thấy phảng phất chung quanh một sự
nhẹ nhàng bay bổng , để tâm hồn mình trở nên thanh thản
, siêu thoát trước cảnh sắc phong quang thoát tục , ở đó
con người dễ hòa mình trong sự trầm mặt của triết lý
Phật Giáo . Cái khung cảnh tuyệt vời đó cũng nói lên cái
sâu sắc , cái ý nghĩa của con đường đã chọn và cái ngộ
của chủ nhân ngôi chùa
Để
đi vào chùa Trà Am phải đi ngang qua một cái cầu làm bằng
thân một cây thông to ,có tay vịn chiếc cầu này vắt ngang
một giòng khe nhỏ mang tên là Tẩy Bát Lưu , Tẩy Bát Lưu
có nghĩa là là giòng khe để rữa bình bát
Và
chiếc cầu mang tên một chữ trong câu cổ thi " Lược ước
hoành thu thủy" hay một câu thơ của Lục Du" tiên tiên nhất
cứ thủy, vãng lai nhất lược ước " ( bên bờ nước chảy
trong veo , qua về trên chiếc cầu treo hững hờ ) chiếc cầu
chỉ dùng cho người đi qua , xe ngựa không qua được
Lược
Ước Kiều là tên của chiếc cầu nói lên cái phương tiện
đi đến với đạo , cái thâm ý của chủ nhân ngôi chùa là
; "Ta chỉ đưa người chứ không đưa xe ngựa" hãy vứt bỏ
cái ngã tướng , cái chấp nê khi bước chân vào chốn thiền
môn này
Vị
chủ nhân chùa Tra Am là ai ?
Đó
là công tử Công Tôn Hoài Trấp là cháu nội của Định Viễn
Quận Vương con vua Gia Long , công tử sinh năm 1879 , xuất gia
năm 1895 lúc vừa tròn 17 tuồi , thọ giáo với Viên Giác Đại
Sư tại chùa Ba La Mật , đạo hiệu là Viên Thành , pháp húy
Trừng Thông , để chấp nhận công tử xuất gia làm đệ tử
Viên Giác Đaiï Sư đã bảo : " ...thử nghĩ vài câu ,nếu có
cơ duyên , tôi sẽ giúp mệ xuất gia " sau khi lạy Phật công
tử Hoài Trấp viết hai câu trình Viên Giác Đại sư như sau
:
Nép
bóng rèm thưa trông bóng thỏ
Thấy
trăng tròn ,tay vỗ ca xang
Sư Viên
Thành đậu thủ khoa Sa Di năm 1901 tại Phú Yên , trú trì chùa
Ba La Mật từ năm 1901 cho đến năm 1923 và cũng trong năm này
sư Viên Thành đã dựng lên chùa Tra Am , 5 năm sau sư viên tịch
ở Tra Am lúc đó vừa 49 tuổi .Trước khi trở về với cát
bụi sư đề lại mấy câu thơ
Lão
khứ , vân hà nhất tháp tân
Tha
niên bì đãi tự tương thân
Nhàn
lai ỷ trương khê biên lập
Hà
xứ thanh sơn bất đãi nhàn
(Già
rồi xây tháp giữa non mây , Gửi gắm mai sau nắm xác gầy
.Chống gậy , lúc nhàn , bên suối đứng .Núi xanh nào chẳng
đón người đây)
Sư
Viên Thành một người uyên bác về giáo lý đạo Phật , dưới
sự dẫn dắt của sư Viên Thành chùa Trà Am đã trở nên một
Giảng Đường có uy tín, học tăng từ nhiều nơi gởi đến
xin thọ giáo , các khóa học thường được tổ chức vào
mùa xuân hay mùa hạ , sư Viên Thành còn tổ chức nhiều pháp
vụ giảng giải Phật pháp cho các tín đồ , kiến giải vài
chổ sai lầm về nội điển trong các tăng ni... ngoài ra sư
Viên Thành cũng còn là một thi nhân , thơ văn chân thật ,
thâm thúy và thoát tục và đôi bài cũng có tính cách hài
hước của một người đã thoát vòng tục lụy
Kim
điện bất thắng thu
Nguyệt
tà trúc hộ lảnh
Chỉ
hữu tâm hạ phong
Khiên
duy điếu sấu ảnh
(Điện
vàng hiu hắc hơi thu, Lạnh run cửa trúc mịt mù gương nga
,Bên rừng gió thổi la đà Vén màng thương bóng sao mà xác
xơ ) hay là bài
Xao
bãi tàn chung , hiểu vị nhân
Đằng
sàng phá nạp ủng lô huân
Gia
phong bất dụng phiền quân vấn
Mao
ốc tam giam, nhất ổ vân
(Thỉnh
trọn hồi chuông sáng vẫn mờ , Ôm lò nằm sưởi áo gai xơ
, Cửa nhà đâu dám phiền lòng hỏi , Mây trắng lều tranh
phủ mịt mờ )
hoặc
là bài Lạc Diệp mà thi sĩ Vũ Hoàng Chương đă dịch thơ
như sau :
Rì rào
cây vẳng tiếng đêm qua
Nghe
lạnh đồi thông chiếc hạc già
Vu
giáp chiều buông mưa lất phất
Động
Đình thu gợn sóng bao la
Tùng
khô chỉ sót đôi phần lá
Bàng
rợp đâu tìm một tán hoa
Lạ
nỗi đau lòng chi Tống Ngọc
Còn
hay mất, hãy mặt trời xa
Thơ văn
của Sư Viên Thành được hợp lại làm thành một tập gọi
là Lược Ước Tùng Sao , trước khi mất sư Viên Thành đã
trao lại tập thơ này cho đệ tử Thích Trí Thủ, 46 năm sau
khi sư viên tịch Hòa thượng Thích trí Thủ mới cho ấn hành
tập thơ này với công phu biên soạn của ông Nguyễn văn Thoa
và phần hiệu đính bình luận , nhuận sắc của các ông Nguyễn
hữu Chương , Bửu Cầm và thi sĩ Vũ hoàng Chương
Trong
lời tựa Thượng tọa Trí Quang viết : ".. sách nhỏ như
cái cầu nhỏ .Nhưng chỉ nhỏ đối với người đi xe ngựa...không
thể qua cầu Lược Ước mà vào Trà Am . Dẫu rằng cái cầu
ấy chỉ chân không là qua được liền. Vào Trà Am dễ mà
khó đến thế đó , huống chi vào Trà Am trong sách "
45
năm sau tôi trở lại thăm Trà Am
Hình
ảnh và phong cảnh Trà Am không còn như trong kỷ niệm của
mình , rừng bứa ngày xưa chỉ còn lác đác cây, Bây giờ
người ta có thể đi thẳng vào chùa bằng xe honda xe hơi ,
chiếc cầu Lược Ước đã không còn ai nhớ đến nữa
Diễm
phúc thay cho ai đã một lần đi chân không qua cầu để vào
Trà Am
"Ta
chỉ đưa người chứ không đưa xe ngựa" câu nói của
vị thiền sư vẫn còn thấp thoáng đâu đây như một ngậm
ngùi thiên cổ
Hồ
Đắc Duy