CHÙA THUYỀN
TÔN
Chùa
tọa lạc ở thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, thành phố Huế, tỉnh
Thừa Thiên - Huế. Chùa do Thiền sư Liễu Quán khai sáng vào
đầu thế kỷ XVIII. Năm 1746, Ông Mai Văn Hoan đứng ra vận
động xây dựng ngôi chùa quy mô. Đến năm 1808, bà Lê Thị
Tạ đã giúp chùa trùng tu. Năm 1937, chùa bị hư hỏng nặng,
Hòa thượng Thích Giác Nhiên đã tổ chức đại trùng tu ngôi
chùa. Từ năm 1973 đến khi viên tịch (1979), Hòa thượng đảm
nhận chức vụ Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống
nhất. Chùa là một Thiền tự lớn ở Huế và là Tổ đình
gốc của phái Liễu Quán.
ĐI TÌM GIÒNG
SÔNG
TRONG HUYỀN
THOẠI
CỦA THIỀN
SƯ LIỄU QUÁN
HỒ
ĐẮC DUY
Năm
ngoái khi ghé thăm nhà nuôi trẻ em nghèo của vợ chồng anh
Trần Quang Lãm ở trên đường Ngũ Tây Xã Thủy An gần chùa
Thuyền Tôn , tôi nói với anh là tôi muốn ghé lại thăm ngôi
chùa nỗi tiếng này , anh Lãm liền tặng tôi một cuốn tiểu
sử thiền sư Liễu Quán và dặn là tôi nên ghé lại thăm
ngôi bảo tháp của ngài
Lúc
bấy giờ tôi chỉ đi thăm thú các nơi trong chùa mà không
để ý đến cảnh vật chung quanh chùa lắm , khi về nhà mới
đọc cuốn sách được tặng.
Thật
vô cùng thú vị khi đọc đến đoạn huyền thoại về thiền
sư phải ăn rong để sống và rong đó được vớt tại con
sông trước chùa , tôi vội vàng chạy xe lên lại chùa và
đi tìm con sông.
Thật
bất ngờ trước chùa và chung quanh chùa không có con sông nào
cả , hỏi thăm các cư dân ở trong vùng họ bảo ở đây
không có sông mà chỉ có khe và suối nhỏ.
Tự
nhiên ,trong tôi, giòng sông trở thành một thúc bách ám
ảnh trong một thời gian khá dài . Giòng sông là một ẩn dụ
. Sông , suối hay khe dây? với 300 năm biết bao vật đổi sao
dời , sông biến thành suối hay khe cũng là chuyện thường
tình . Ba trăm năm trước núi rừng Thiên thai dầy cop dữ
với những cây cao cỗ thụ với những tàng thông bạt ngàn
, khu rừng rậm ở đây là phần đất bìa của dãy Trường
Sơn . Đứng trên núi Ngự Bình có thể định vị đỉnh núi
Thiên Thai và các hòn núi đá bên cạnh nó xanh ngắt nhưng
bây giờ trống trơn , xói mòn có nơi nhà cửa san sát.
Tôi
trở vào chùa lúc đó hoàn hôn đã xuống và ở đâu đó trong
ngôi chùa vẩn còn âm vang những câu nói về giòng sông này.
Sách
Ô Châu Cận Lục của Dương văn An năm 1555 , trong bài
tựa ông viết : " kể từ thời mở nước Việt ta , do hoạch
dịch tự sách trời, ngoài bốn thừa tuyên thì người Chấu
Ái khẳng khái hiếu nghĩa tinh thần hiếu học , Châu Hóa ta
tiếp liền xứ Quãng…Xét miền Ô Lý nước ta nối liền
với cõi Nam hoang vu… Tuy nhiên khảo cứu tận nguồn đất
này , thì trước đời Lý Trần , vẫn là bờ cõi của Chiêm
Thành , về đời Hồ Lê mới là quận huyện của triều
đình … "
Trong
Đại Nam nhất thống chí, theo Hán Thư thì Nhật Nam là Tượng
Quận nhà Tần xưa năm Nguyên Đỉnh thứ I đổi làm quận
Nhật Nam , Tỵ Ảnh và Chu Ngô là 2 trong 5 thành của
quận Nhật Nam đến đời Hán là ứng với châu Ô và
châu Lý của Chiêm Thành thời bấy giờ
Trong
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư , quyễn VI trang 91 cho biết năm
1306 Hai châu Ô, Lý đựơc vua Chiêm Thành là Chế Mân dâng
để làm lễ dẫn cưới công chúa Huyền Trân , năm sau (1307)
hai châu này được đổi tên là Thuận Châu (nửa nam tỉnh
Quảng Trị hiện nay); và Hóa Châu (toàn tỉnh Thừa Thiên -
Huế hiện nay) 2 châu này được vua Trần Anh Tông giao sai Hành
Khiển Đoàn Nhữ Hải đến vỗ yên dân vùng này. Thuận Hóa
dần dần trở thành nơi gặp gỡ và giao lưu hai nền văn hóa,
tín ngưỡng rất khác nhau .Dân Đại Việt chịu ảnh hưởng
văn hóa và tín ngưởng của người Hoa , trong khi dân bản
địa là Chiêm Thành có một nền văn hóa Ấn - Hồi.
Dưới
sự nam tiến mạnh mẽ đạo Phật đã nổi bật lên là một
tôn giáo mới
Vào
thời các chúa Nguyễn, xứ Thuận Hóa đã có vô số chùa chiền
và thảo am
Thiền
sư Liễu Quán, từ phủ Phú Yên đi theo thuyền buôn ra Thuận
Hóa vào năm 1690 , khai sơn thảo am Viên Thông vào khoảng năm
1697 phía nam dưới chân núi Ngự Bình , sau đó vào khai
sơn thêm một thảo am ở chân núi Thiên Thai gần đó
vào năm 1708 , trong Đại Nam Nhất Thống Chí quyễn 2
, trang 126 mô tả ngọn núi này như sau : Núi Thiên Thai
ở phía tây bắc huyện Hương Thủy hình thế cao vót , phía
tây trông ra cánh đồng bằng , cạnh núi có chùa, gọi là
chùa Thiên Thai Nội ( Thuyền tôn ) , ngọn núi vòng quanh ôm
chầu vào chùa, phong cảnh tuyệt đẹp… " , núi Thiên Thai
nỗi tiếng có nhiều cọp dữ , ở địa phương có câu ca
" núi Thiên Thai , mười hai con cọp'''
Thiền
sư đã ăn rong , uống nước suối để sống , quyết chí tu
hành cho đến khi đến đắc đạo.
MÔN
PHÁI LIỄU QUÁN
Nếu
ở Ðàng Ngoài thiền sư Chân Nguyên được xem là nhân vật
then chốt để phục hưng Phật Giáo , thì ở Ðàng Trong thiền
sư Liễu Quán cũng được xem là vị thiền sư lãnh đạo công
cuộc phục hưng Phật Giáo.
Thiền
sư Liễu Quán là người làng Bạc Mã, huyện Ðồng Xuân,
tỉnh Phú Yên, sinh năm 1670 (Nguyễn Lang , Thích Tín Nghĩa )(
TT Thích thiện Siêu , TT Khế Chơn , viết ngài sinh năm
1667 ) từ một gia đình nghèo. Thiền sư mồ côi mẹ từ hồi
lên sáu tuổi. Năm mười hai tuổi người đi chùa Hội Tôn
với cha. Gặp thiền sư Tế Viên, người xin ở lại chùa
để học đạo. Được cha ưng thuận. Làm chú tiểu ở chùa
Hội Tôn, người được thiền sư Tế Viên thương yêu. Ở
chùa, ngoài việc nấu nước, nhặt rau thì học chữ Hán,
hai thời khóa tụng, luật sa di và những kinh điển dễ học.
Chín năm sau, thiền sư Tế Viên thị tịch. Tang lễ của thầy
làm xong, một mình lên đường học đạo. Năm 1690, người
ra Thuận Hóa , núi Hàm Long (Bảo Quốc), cầu học với thiền
sư Giác Phong. Người được chấp nhận ở lại đây để
tu học. Được một năm người lại nghe tin thân phụ bị
bệnh. Xin phép trở lại quê nhà để lo săn sóc cha. Hàng ngày
lên rừng đốn củi, đem về đổi vạo nấu cơm . Bốn năm
sau, thân phụ từ trần. Lo ma chay cho cha xong, người lại
lên đường vào Thuận Hóa học đạo. Năm 1695, nghe nói
thiền sư Thạch Liêm tổ chức giới đàn lớn tại chùa Thiền
Lâm, người đến xin ghi tên thụ giới tỳ khưu tại giới
đàn do thiền sư Từ Lâm là Hòa Thượng Ðường Ðầu. Lúc
thiền sư khai sơn thảo am Viên Thông năm 1697, lúc mới có
27 tuổi. Ở đó được 2 năm, thiền sư lại lên đường
cầu học, tham lễ khắp các tổ đình. Năm 1702 được gặp
thiền sư Tử Dung tại chùa Ấn Tôn núi Long Sơn (Từ Đàm),
Thuận Hóa. Thiền sư dạy người tham khảo về công án: "
Muôn
pháp về một, một về chỗ nào? " (Vạn pháp quy nhất,
nhất quy hà xứ?). Người về núi Phú Yên tĩnh cư, tham cứu
đến 5 năm mà chưa phá vỡ được công án ấy. Một hôm đọc
Truyền Ðăng Lục đến câu "trỏ vật mà truyền tâm, chính
vì vậy mà người ta không hiểu" (Chỉ vật truyền tâm, nhân
bất hội xứ), thoạt nhiên người thấy tỏ ngộ, bèn buông
sách xuống. Năm 1708 người vào Thuận Hóa – Viên
Thông rồi vào núi Thiên Thai , khai sơn một thảo am ở đây,
trở lại Long Sơn, trình bày công phu của mình với thiền
sư Tử Dung.
Ngài
Tử Dung nói:
Hố thẳm buông tay
Một mình cam chịu
Chết đi sống lại,
Ai dám chê mình.
Thiền
sư vỗ tay cười. Ngài Tử Dung nghiêm nét, nói: "Chưa được".
Người lại nói: "Trái cân vốn là sắt" (Bình thùy nguyên
nhị thiết). Tử Dung lắc đầu.
Sáng
hôm sau, ngài Tử Dung thấy người đi ngang, gọi lại bảo:
"Chuyện ngày hôm qua nói chưa xong, hôm nay hãy nói lại xem".
Thiền sư đọc:
Sớm biết đèn là lửa
Cơm chín đã lâu rồi!
Bây
giờ ngài Tử Dung không tiếc lời khen ngợi. Mùa hè năm
1712 khi hai vị thiền sư gặp nhau lần thứ ba tại đại lễ
Toàn Viện tại Quảng Nam, thiền sư đem trình ngài Tử Dung
bài kệ Tắm Phật mà người mới làm. Tử Dung hỏi: "Tổ
truyền cho tổ, Phật truyền cho Phật, chẳng hay họ truyền
nhau cái gì nhỉ?" (Tổ tổ tương truyền, Phật Phật thụ
thụ, vị thẩm truyền thụ các thập ma?)
Thiền
sư Liễu Quán đọc liền hai câu:
Búp măng trên đá dài hơn trượng,
Cây chổi lông rùa nặng mấy cân.
(Thạch duẩn trừu điều trường nhất trượng
Quy mao phủ phất trong tam cân)
Ngài
Tử Dung lại đọc:
Chèo thuyền trên núi cao
Phi ngựa dưới đáy biển
(Cao cao sơn thượng hành thuyền
Thâm thâm hải để tẩu mã)
thiền
sư lại đọc tiếp:
Dây đứt đàn tranh chơi suốt buổi
Gảy sừng trâu đất rống thâu đêm
(Chiết giác nê ngưu triệt dạ hống
Một huyền cầm tử vận nhật đàn)
Ngài
Tử dung gật đầu tỏ ý rất bằng lòng.
Thiền
sư Liễu Quán lúc bấy giờ đã 42 tuổi. Người đã có nhiều
đạo tràng hành đạo: đó là chùa Thuyền Tôn, chùa Viên
Thông ở Thuận Hóa và các chùa Hội Tông, Cổ Lâm và Bảo
Tịnh ở Phú Yên.
Bốn
giới đàn lớn được tổ chức từ 1733 đến 1735 tại Thừa
Thiên, có sự tham dự của các bậc cao tăng và các bậc tể
quan cư sĩ ở kinh đô; thiền sư Liễu Quán được thỉnh cầu
làm tọa chủ.
Giới
Phật tử rất hâm mộ ngừơi , năm 1740 hội chúng lại
thỉnh cầu thiền sư chủ tọa giới đàn Long Hoa. Xong giới
đàn này, trở về chùa Thuyền Tôn.
Năm
1742, lúc ấy thiền sư đã 72 tuổi (Thích Tín Nghĩa ) (76
?), Thiền sư vẫn được cử làm Hòa Thượng Ðường Ðầu
của giới đàn tổ chức tại chùa Viên Thông.
Ðệ
tử thụ giới của thiền sư kể cả xuất gia lẫn tại gia
có tới gần bốn ngàn người.
Mùa
thu năm ấy,Thiền sư Liễu Quán an trú tại chùa Viên Thông;
sáng ngày 21 tháng 11 âm lịch năm Nhâm tuất ( 1742 ) , người
gọi thị giả mang giấy bút , và viết bài kệ sau đây:
Ngoài bảy mươi năm cõi sắc không
Sắc không không sắc đã dung thông
Sáng nay vẹn ước, về quê cũ
Há phải tìm cầu hỏi tổ tông
(Thất thập dư niên thế giới trung
Không không sắc sắc diệc dung thông
Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý
Hà Tất bôn mang vấn tổ tông?)
Viết
bài kệ xong, thiền sư ngồi dùng trà. Ðại chúng làm
lễ, có người than khóc. Người nói: "Quý vị đừng khóc.
Các đức Phật thị hiện còn nhập Niết bàn, còn tôi thì
đường đi nẽo về đã rõ ràng, không việc chi phải khóc".
Mọi người im lặng.
Thầy
trò nói chuyện hồi lâu, ông hỏi: "Ðã đến giờ mùi chưa?"
Mọi người đáp: "Phải". Thiền sư Liễu Quán nói: "Sau
khi tôi đi, quý vị phải nghĩ đến sự vô thường nhanh chóng
của cuộc đời mà siêng năng tu tập trí tuệ, chớ quên lời
dặn của tôi".
Nói
xong thiền sư nhắm mắt mà tịch trong tư thế kiết già.
Chúa
Nguyễn Phúc Khoát rất sùng kính đạo hạnh của người,
nhiều lần triệu thỉnh vào phủ, nhưng thiền sư một mực
từ chối, không muốn lui tới nơi triều đình. Vì vậy, chúa
thường tới chùa Viên Thông để thăm và hỏi đạo.
Khi
nghe tin thiền sư thị tịch chúa sắc làm bia và tháp cho
người, và ban thụy hiệu là "Ðạo Hạnh Thụy Chính Giác
Viên Ngộ Hòa Thượng".
Tháp
người được dựng tại thảo am dưới chân núi Thiên Thai.
Thiền sư là người thuộc đời thứ 35 dòng Lâm Tế. Thiền
sư đã để lại bài kệ truyền pháp sau đây :
Thiệt tế đại đạo
Tính hải thanh trừng
Tâm nguyên quảng nhuận,
Ðức bổn từ phong
Giới định phúc tuệ
Thể dụng viên thông
Vĩnh siêu trí quả
Một khế thành công
Truyền trì diệu lý
Diễn xướng chính tông
Hành giải tương ứng
Ðạt ngộ chân không
Dịch:
Ðường lớn thực tại
Biển thể tính trong
Nguồn tâm thấm khắp
Gốc đức vun trồng
Giới định cùng tuệ
Thể dụng viên thông
Quả trí siêu việt
Hiểu thấu nên công
Thuyền giữ lý mầu
Tuyên dương chính tông
Hành giải song song
Ðạt ngộ chân không
Thiền
sư Liễu Quán đã làm cho thiền phái Lâm Tế trở thành một
thiền phái linh động, có gốc rễ ở Ðàng Trong. Trước thiền
sư, Phật Giáo ở Ðàng Trong mang nặng màu sắc Quảng Ðông.
Người đã Việt hóa thiền phái Lâm Tế, và làm cho thiền
phái này trở thành thiền phái của đa số Phật tử Ðàng
Trong. Kiến trúc lễ nhạc bắt đầu trút bỏ màu sắc Trung
Quốc và từ từ mang lấy màu sắc dân tộc. Những bài tán
lễ như "Cực lạc Từ Hàng" , đã hoàn toàn mang màu sắc Việt
Nam.
Bốn
vị đệ tử lớn của người là Tổ Huấn, Trạm Quan, Tế
Nhân và Từ Chiếu dã tạo lập bốn trung tâm hoằng đạo
lớn, và hàng chục tổ đình được tạo dựng khắp Ðàng
Trong trong thế kỷ XVIII đã thuộc về môn phái Liễu Quán.
( trich tác giả Nguyễn Lang )
Thiền
sư Liễu Quán trở thành một vị Tổ của một phái Thiền
gọi là Thiền phái Tử Dung-Liễu Quán, mà ảnh hưởng của
Thiền phái này bao trùm Đàn Trong từ 3 thế kỷ cho đến nay.
CHÙA
THUYỀN TÔN VỚI THỜI GIAN
Mười
hai năm sau khi khai sơn thảo am Viên Thông , thiền sư Liễu
Quán đi vào chân núi Thiên Thai ở gần đó , người dựng
lên một thảo am khác mang tên Thuyền tôn vào năm 1708 (
Nguyễn phúc Chu 1691-1725, Lê Dụ Tông 1705-1728) Thảo am tọa
lạc tại đia phận ấp Ngũ Tây, xã An Cựu, tổng An Cựu,
huyện Hương Thủy. tỉnh Thừa Thiên.
Năm
thứ 3 Cảnh Hưng (1742 ) ( Lê Hiễn Tông 1740-1786) Thiển sư
viên tịch
Năm
1747, tức 5 năm sau khi thiền sư Liễu Quán qua đời, chùa
Thuyền tôn được chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) ban biển
ngạch sắc tứ.Cũng cũng vào năm này Đoàn Tài Hầu là
quan thái giám đứng ra hô hào thiện nam tín nử đúc
đại hồng chung , chuông có niên đại Cảnh Hưng năm thứ
8 (6 ?) .
Năm
1777 (Nguyễn phúc Thuần 1765-1777) chùa Thuyền tôn được
sửa sang lần thứ nhất
Thời
đầu Tây Sơn xã hội loạn lạc vừa chiến tranh Trinh - Nguyễn
vừa chiến tranh giữa chúa Nguyễn và anh em Tây Sơn kéo
dài từ 1771 cho đến 1789 tất cả tài nguyên nhân vật lực
kể cả đình chùa , miếu mạo bị bỏ phế hư hại nặng
nề cho đến năm Kỷ Dậu (1789) khi Nguyễn Huệ lên ngôi
hoàng đế, đánh bại quân Mãn Thanh thì xã hội bấy giờ
mới tạm yên , kỷ cương mới được tái lập , chùa chiền
mới được sửa sang trùng tu lại
Năm
1793 bà Đốc Hựu phát nguyện dựng lại chùa tranh ,
thiện nam tín nử càng ngày càng đông.
Năm
1799 Hoàng đệ Thái Tể, ủy cho Đại Tư Mã tái tạo sửa
sang chùa lần hai
Năm
1803 Khi Gia Long đã lên ngôi Hoàng đế , Hòa thượng
Trung Hậu. xin lại đại hồng chung và chuông lại được
mang về chùa Thuyền tôn vì vàp thời Tây Sơn, hồng chung
bị đem làm tự khí ở Văn Thánh
Vua
Gia Long sắc cấm Ba gò Huyền Võ của núi Thiên Thai,
giếng xưa bên chùa sửa lại bờ thành, Cảnh chùa có nơi
xây nhà ngói, nơi dựng nhà tranh, chỉ trong 4, 5 năm, quan
cảnh chùa trở lại như xưa.
Năm
1807 dựng nhà phương trượng.
Năm
1809 dựng chánh điện, tiền đường, phạm vũ trở lại nguy
nga.
Năm
1815 các môn đồ trùng tu tháp Tổ và dựng hai
bia
Năm
1885 kinh đô thất thủ
Năm
1886 cải sửa tụ vũ.
Năm1898
đệ tử Quảng Kế . . . phung phá tự điền tự, khí
thờ mất mát chùa lại rơi vào cảnh hoang tàn đổ nát.
Năm
1899 tăng ni phật tử xin sửa sang lại văn khế đã mục
nát, đổi dời kiến thiết tự vũ đem trở lại trên nền
cũ, cấu tạo hậu điện.
Năm
1900, sửa san lần thứ ba , làm lễ khánh tán, vạn pháp
viên mãn …như vậy trải qua gần 200 năm ba lần tụ ba lần
tán
Năm
1937 Đệ tử đời thứ 10 của thiền sư là Hòa thượng Trừng
Thủy - Giác Nhiên tổ chức đại trùng tu ngôi chùa.
Năm
2000 chùa được trùng tu với cửa tam quan , tháp chuông , điện
thờ. hậu liêu , văn phòng… nguy nga đố sộ , Ngôi
chùa đựơc che khuất bởi những cây thông già . Chùa Thuyền
Tôn hiện nay có dáng dấp của nét kiến trúc cổ được xi
măng và điên khí hóa có hệ thống thờ tự truyền thống.
Ở chánh điện, án giữa thờ Phật Tam Thân, phía trước là
tượng đức Phật Thích-ca. Tiền án thờ tượng Bồ-tát Chuẩn
Đề hai bên là ảnh vẽ Bồ-tát Văn-thù và Bồ-tát Phổ Hiền.
Tiếp đến là bàn chuông, mõ. Án tả thờ Bồ-tát Quan Âm,
hai bên có ngài Xá Lợi Phất và ngài Ca-diếp. Án hữu thờ
Bồ-tát Địa Tạng. Ngoài ra còn có hai án thờ Thập điện
Minh Vương ở hai bên vách. Phía ngoài là hai bàn thờ Hộ Pháp
và Quan Thánh

Hiện
nay chùa tọa lạc ở thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, thành phố
Huế Nơi chùa được xây cất hiện nay không biết nó
có nằm đúng trên nền củ của chùa xưa hoặc thảo am
hay là nó được dựng một chổ khác
Nguyễn
Du đã mô tả cảnh chùa qua bài thơ Vọng Thiên Thai Tự
, Nguyễn Du cho biết ống đã đến viếng chùa 2 lần
, lần thứ 2 có lẽ ông không vào chùa được vì bị
vướn một con sông, nên chỉ đứng bên này sông mà ngắm
cảnh chủa . Bài thơ sáng tác vào thời gian 1805-1812 khi
Ông được thăng hàm Đông Các Đại Học Sĩ , làm quan ở
kinh đô 5 năm . Bài thơ như sau :
Thiên Thai sơn tại đế thành đông
Cách nhất điền giang tự bất không.
Cổ tự thu may hoàng diệp lý
Tiên triều tăng lão bạch vân trung
Khả liên bạch phát cung khu dịch
Bất dữ thanh sơn tương thủy chung.
Ký đắc niên tiền tằng nhất đáo
Cảnh Hưng chung quải cựu thời trung
Núi Thiên Thai ở phía Đông hoàng thành ,Cách một dòng sông
không đến được, Mùa thu, chùa cổ như vùi trong lá vàng
,Vị sư triều trước già trong mây trắng , Khá thương mình
đầu bạc rồi vẫn phải chịu để người sai khiến , Không
cùng với núi xanh giữ được niềm thủy chung, Nhớ năm trước
ta từng một lần đến đây ,Còn thấy có treo quả chuông
đúc thời Cảnh Hưng ngày trước
Hoặc
theo lời mô tả của TT Thích Thiện Siêu : " Hiện nay cách
phía sau tháp độ 800 mét có chùa Thiền Tôn do Ngài sáng lập
và các đệ tử tiếp tục thừa kế trùng tu còn được đẹp
đẽ khang trang, trong đó có quả đại hồng chung đúc năm
Cảnh Hưng thứ 8 (1747) là di vật quý nhất."
GIÒNG
SÔNG TRONG HUYỀN THOẠI
Nhiều
tác giả mỗi người nói một cách khác nhau về câu
chuyện thiền sư ăn rong để sống trong tiểu sử của
ngài , người cho rằng ngài ăn rong khe , uống nước suối
độc( Hà Xuân Liêm ) , kẻ thì nói thiền sư ăn rong ở
hồ (Tầm rong độ nhật…. khi thiền sàng chỉ là bông
cây thảm cỏ , rong xanh đáy hồ đã duy trì mạch mạng sắc
thân … TT Tích Khế Chơn ) người thì khẳng định ngài
ăn rong con sông trước mặt chùa
Vậy
thì sự thật rong lấy ở đâu ? sông , hồ , khe hay suối
?
Dù
chỉ là huyền thoại về câu chuyên thiền sư Liễu Quán
đã ăn rong để sống nhưng chúng tôi nghĩ tìm được
địa chỉ nơi ngài đã từng lấy rong quả thật
là hạnh phước tuyệt vời cho những ai tìm ra nó
Thử
vẽ phát trong tâm trí cảnh một sa di lội xuống sông
vớt một bè rong , để lên rỗ , mang về thảo am . phơi…
và khi vị thầy tu trẻ qua đường bằng thứ rong đó
Cơm
hay rong đối với ngài cũng chẳng khác chi nhau như ngài
đã từng viết trong bài kệ : Không không sắc sắc diệc
dung thông
Thử
tưởng tượng bước chân hành thiền của vị sa di một
mình , đơn độc trong rừng vắng dầy cọp beo và
rắn độc mỗi lân đi vớt rong để đòi sống được
tồn tại , một người trẻ tuổi đã hành thiền trong
mọi sinh hoạt thường nhật của cuộc sống
Và
khi về già , trước khi viên tịch ngài đã nói cùng
môn đồ "Quý vị đừng khóc. Các đức Phật thị hiện còn
nhập Niết bàn, còn tôi thì đường đi nẽo về đã rõ ràng,
không việc chi phải khóc" Đúng như ngài nói : Người đến
nơi thảo am Viên Thông lúc còn rất trẻ và trở về
lại Thiên thai nội tự đã ngoài bảy mươi
Câu
chuyện đi tìm giòng sông lần 2 trong chuyến ra thăm chùa Thuyền
Tôn vào tháng 8 năm 2007 sau khi đã góp nhặt kinh nghiêm
đi tìm con sông trong bài thơ Qua Đèo Ngang của bà Huyện Thanh
Quan , chúng tôi đã phải tham khảo các tài liệu trứơc
đó nhiều tháng một cách cẩn trọng về đia lý hình
thể sông suối núi non vùng Thiên Thai , Ngự Bình , Trường
Bia , Thiên An , Trúc Lâm , Ba Đồn ... các chùa gần đó
như Viên Thông , Tra Am , Tây Thiên ,Trúc Lâm , Hồng Ân
, Diệu Viên ...tựơng đài Huyền Trân , khu vực chín hầm
, cơ ngơi của ông Ngô đình Cẫn , bảo tháp của thiền sư…trên
sử liệu rồi mới vẽ sơ đồ dự đoán trước khi thăm dò
quan sát thực địa
Sửa
soạn lặn lội những nơi có thể tới được để tìm ra
gốc gát mạch nguồn của giòng sông thiên liêng ấy tôi đã
để tâm hồn trống rỗng
300
năm thì sông cũng có thể đã là thành khe thành suối , thành
ao, thành hồ , nhưng dấu xưa ắc hẵn vẫn còn đâu đó ,
lời của thiền sư hình như vẫn còn âm vang trong gió qua những
đọt thông già , tôi đi trong miêng mang , tại sao mình không
đi như trò chơi đi tìm kho báu của thời niên thiếu của
một thời hướng đạo , Phật tử…

Một
chỉ dẫn được hướng đạo từ vô thức không lý giải
: Giòng sông huyền thoại đó đã hiện ra trước mắt
tôi , cho dù thiên nhiên và con người đã làm biến dạng
khuôn mặt thế gian nhưng hình ảnh vị sa di trẻ tuổi
đang trên đường đi tìm chứng quả mà phải tầm
rong độ nhật để duy trì mạch mạng sắc thân đã trở
thành một ấn tượng hướng những bước chân tôi đến
giòng sông đó
Toi
vẫn tin mấy câu của Nguyễn Du trong bài Vọng Thiên Thại
Tư là thật
Thiên Thai sơn tại đế thành đông
Cách nhất điền giang tự bất không.
Cổ tự thu may hoàng diệp lý…
Và
tôi nghĩ hướng về ngài với những bước chân trong
rừng thông vắng lặng , Tai tôi cố nghe tiếng róc rách
chảy qua khe đá , tiếng rì rầm của giòng suối hay sự
lặng thinh của một con sông đang chảy âm thầm dịu dàng
dưới chân núi Thiên Thai , mũi cố ngữi thấy mùi rong
mới vớt , miệng lưởi tôi cố quên vị tanh tao và nhạt
nhẻo của rong và trước mắt tôi là một khoảng không
gian mờ ảo
Giòng
sông , giòng sông , giòng sông ở đâu ? vang lên từ một cỏi
mơ hồ nào đó vọng lại hay từ tiền kiếp xa xưa
Hình
ành vị sa di trẻ tuổi hiện ra trước mắt tôi , vị
sa di mà về sau này đã trờ thành tổ sư của Thiền phái
Tử Dung Liễu Quán , giòng sông nằm trước mặt người về
hướng tây , bên kia sông là một ngọn núi đúng như câu ghi
hai câu đối nơi cổng tường đi vào bảo tháp của người:
"Bửu đạt trường minh bất đoạn môn tiền lưu lục thủy;
Pháp thân độc lộ y nhiên tạo lý khán thanh sơn" (Tiếng
linh báu ngân dài cùng dòng nước lục trước cửa chảy hoài
không dứt; Pháp thân lộng y nhiên bất động ngắm núi xanh)
đã mô tả .

Và
tôi cũng chợt thoát ra khỏi cơn…vội vàng định vị ngay
tọa độ mình đang đứng : Đó là trước của tam quan nơi
bảo tháp của người , tôi chỉ còn dùng bước chân mình
để đo khoảng cách từ chân hồ sen đến giòng sông
Ngày
hôm sau , tôi cùng mấy ngưới bạn cũ , chống gậy , vạch
lau , đạp cỏ leo lên một triền núi nhỏ , rồi đi qua
một cánh đồng dốc thoai thoải theo dấu chỉ dẫn cùa
HT Thiện Siêu là cách phía sau tháp độ 800 mét

để
đến một ngôi chùa nổi tiếng ở Huế và điều này cũng
dúng như nhận xét của Đại Nam Nhất Thống Chí quyễn
II , trang 203 " Chủa Thiên Thai nội ở xã Dương Xuân
có tên nữa là Thuyền Tôn ( Thiền Tông ) . Tương truyền do
Liễu Quán hòa thượng dựng dựa vào núi , trông ra đồng
bằng , phong cảnh cũng đẹp…"
Bây
giờ , trước bảo tháp của thiền sư Liễu Quán là
một con đường đất đỏ , một khoảng đất trống
chừng một mẫu và nghe đâu chủ nhân của mãnh đất
này muốn thực hiện một…

và
giòng sông thì vẫn còn đó , nhưng biến dạng đến
đau đớn
Nếu
có một lần nào đó bạn được nhìn sông Tô Lịch
của Hà Nội , ba mươi sáu phố phường hôm nay và thật
diễm phúc cho những ai như quan Phủ Sứ Đặng Vân đã
nhìn thấy giòng sông Tô Lịch khi công chúa Huyền Trân
rời kinh độ Đại Việt về Vijaya

Và
cũng như vậy tâm trạng của Nguyễn Du khi dứng trước
giòng sông trong huyền thoại cua thiền sư Liễu Quán
Khả
liên bạch phát cung khu dịch
Bất
dữ thanh sơn tương thủy chung.
Ký
đắc niên tiền tằng nhất đáo
Cảnh
Hưng chung quải cựu thời trung

Còn
bạn xin hãy ghé thăm ngôi bảo tháp và con sông huyền
thoại bây giờ
HỒ
ĐẮC DUY
Tháng
9 năm 2007

(Giòng
sông chày theo hướng Nam-Bắc : H1 Mặt tiền của chùa Thuyền
Tôn ờ núi Ngũ Phong , H2 Bảo tháp của ngài Liễu Quán ,
H3 Cổng tường đi vào bảo tháp H4,5,6 Con sông bị cư dân
cắt từng đoạn nhỏ làm ao nuôi cá , H7 bờ của giòng
sông bị thu hẹp và xi măng hóa , , H8 Khu đất trước giòng
sông H9 Bảo tháp của thiền sư Liễu Quán ...và trên giòng
sông này người ta còn tìm thấy Hòn Non bộ của ông Ngô đình
Cẩn , khu vực chín hầm , hồ Huyền trân công chúa …)
01-05-2008
12:23:45
CHÙA THUYỀN
TÔN
(Thiên
Thai Thuyền Tôn Tự)
Võ
Văn Tường và Huỳnh Như Phương
Đàm
hoa lạc khứ hữu dư hương
Hương
thơm của hoa ưu đàm mãi mãi thơm ngát như đạo đức của
Thiền sư Liễu Quán tỏa sáng muôn đời.
Ngài
Liễu Quán húy Thiệt Diệu, quê ở Sông Cầu (Phú Yên) ra Thuận
Hóa vào cuối thế kỷ XVII. Thiền sư khai sơn chùa Thuyền
Tôn vào khoảng năm 1708, lúc bấy giờ chỉ là một am tranh,
nơi xây ngôi bảo tháp của ngài hiện nay, và ở cổng tháp
đã khắc ghi câu trên. Thiền sư đã biệt xuất một bài kệ
truyền cho các đời kế tiếp đặt pháp danh:
Thiệt
tế đại đạo, tánh hải thanh trừng
Tâm
nguyên quảng nhuận, đức bổn từ phong
Giới
định phước huệ, thể dụng viên thông
Vĩnh
siêu trí quả, mật khế thành công
Truyền
trì diệu lý, diễn xướng chánh tông
Hạnh
giải tương ưng, đạt ngộ chơn không.
Nghĩa
là :
Đường
lớn thực tại, biến thế tính trong,
Nguồn
tâm thấm khắp, gốc đức vun trồng,
Giới
định cùng tuệ, thể dụng viên thông,
Quả
trí siêu việt, biểu thấu nên công,
Truyền
giữ lý mầu, tuyên dương chính tông,
Hành
giải song song, đạt ngộ chân không.
(Nguyễn
Lang dịch)
Chùa
Thuyền Tôn hiện nay tọa lạc ở thôn Ngũ Tây, xã Thủy An,
thành phố Huế. Chùa được dựng bên trái núi Thiên Thai,
nên còn có tên là Thiên Thai Thuyền Tôn Tự.
Vào
khoảng giữa thế kỷ XVIII, Chưởng Thái giám Mai Văn Hoan đã
vận động tiền của để xây dựng ngôi chùa quy mô, cách
thảo am khoảng 1km. Đại hồng chung được đúc vào thời
kỳ này, có khắc niên hiệu Cảnh Hưng thứ 8 (1747). Chùa đã
được bà Lê Thị Tạ phát tâm trùng tu vào năm 1808.
Các
vị kế tục trụ trì chùa trong buổi đầu là Tế Hiệp, Tế
Mẫn. Sau đó là các vị Đại Huệ, Đại Nghĩa, Đạo Tâm.
Theo dòng kệ truyền thừa, kế tiếp là các vị Đạo Tại,
Tánh Thiện, Hải Nhuận, Thanh Liêm, Thanh Đức.
Đến
năm 1937, Hòa thượng Trừng Thủy - Giác Nhiên đã tổ chức
đại trùng tu ngôi chùa. Hòa thượng đã có nhiều công lao
trong công cuộc chấn hưng Phật giáo ở nửa đầu thế kỷ
XX. Từ năm 1973, Hòa thượng đã đảm nhận trọng trách Tăng
Thống Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất đến năm
1979 thì viên tịch, thọ 102 tuổi.
Chùa
Thuyền Tôn bảo lưu được đường nét kiến trúc cổ và
hệ thống thờ tự truyền thống. Ở chánh điện, án giữa
thờ Phật Tam Thân, phía trước là tượng đức Phật Thích-ca.
Tiền án thờ tượng Bồ-tát Chuẩn Đề hai bên là ảnh vẽ
Bồ-tát Văn-thù và Bồ-tát Phổ Hiền. Tiếp đến là bàn
chuông, mõ. Án tả thờ Bồ-tát Quan Âm, hai bên có ngài Xá
Lợi Phất và ngài Ca-diếp. Án hữu thờ Bồ-tát Địa Tạng.
Ngoài ra còn có hai án thờ Thập điện Minh Vương ở hai bên
vách. Phía ngoài là hai bàn thờ Hộ Pháp và Quan Thánh.
Từ
tam quan đi vào mé phải ngôi chùa, căn phòng của Hòa thượng
Giác Nhiên ngày xưa vẫn còn đó. Bức chân dung của Ngài đã
gây sự cảm nhận thanh thoát, gần gũi và niềm tin kính vô
hạn. Từ cửa phòng của Ngài, nhìn ra ngôi bảo tháp, cảnh
quan ngôi chùa và ngọn núi Thiên Thai, lòng khách lâng lâng
khó tả.
Đến
viếng chùa năm xưa, nhà thơ Nguyễn Du cũng mang nỗi lòng đó
:
Cổ
tự thu mai hoàng diệp lý
Tiền
triều tăng lão bạch vân trung
Khả
liên bạch phát cung khu dịch
Bất
dữ thanh sơn tương thủy chung.
Nghĩa
là :
Chùa
cổ lá vàng thu phủ kín
Triều
xưa mây trắng sãi già rồi
Thương
cho đầu bạc còn vướng lụy
Cùng
với non xanh trót phụ lời.
(Phan
Khắc Hoan và Lê Thước dịch)
Thật
vậy, ngày nay du khách và Phật tử đến chùa, sẽ được
tận hưởng một cảnh quan đầy thiền vị :
- Bảo
đạc trường minh, bất đoạn môn tiền lưu lục thủy,
-
Pháp thân độc lộ, y nhiên tọa lý khán thanh sơn.
Nghĩa
là :
- Mõ
báu dài kêu, chẳng dứt trước cửa dòng biếc chảy
-
Pháp thân lộ rõ, tự nhiên ngồi đó ngắm núi xanh.
(Trương
Ngọc Tường dịch)