CHÙA
THIÊN MỤ

Chùa
tọa lạc trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, xã Hương
Long, thành phố Huế. tỉnh Thừa Thiên - Huế, cách trung tâm
thành phố vào khoảng 5km. Chùa do Chúa Nguyễn Hoàng tái thiết
vào năm 1601. Năm 1665, Chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu. Năm
1710, Chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc quả đại hồng chung cao
2,5m, nặng 3285 cân; và năm 1715, Chúa lại cho dựng tấm bia
cao 2,58m đặt trên lưng con rùa bằng cẩm thạch. Vào thời
Nguyễn, các Vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Thành Thái đều
cho trùng tu chùa. Tháp Phước Duyên được Vua Thiệu Trị cho
xây vào năm 1844, tháp bát giác, 7 tầng cao 21,24m, mỗi tầng
thờ một đức Như Lai. Chùa bị hư hỏng nặng năm 1943. Từ
năm 1945, Hòa thượng Thích Đôn Hậu đã tổ chức công cuộc
đại trùng tu kéo dài hơn 30 năm. Chùa hiện nay vẫn được
tiếp tục chỉnh trang. Chùa Thiên Mụ là ngôi cổ tự nổi
tiếng nhất miền Nam. Tiếng chuông chùa bao đời nay đã an
nhiên trong lòng người dân xứ Huế.

Nói
đến Huế, người Việt Nam cũng như du khách nước ngoài đều
nghĩ đến ngay Cố đô của vương triều nhà Nguyễn, triều
đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam. Những cung điện,
đền đài và lăng tẩm hiện là dấu ấn còn lại của cái
triều đại có thời cực thịnh, nhưng cũng đi cùng với cái
họa để đất Việt rơi vào tay thực dân Pháp trong thế kỷ
19. ở Huế còn có chợ Đông Ba, cầu Tràng Tiền, có sông
Hương và núi Ngự, nhưng Huế cùng là một nơi đạo Phật
thịnh hành, nhiều chùa chiền nổi tiếng. Và Huế, di sản
văn hoá thế giới được UNESCO công nhận, còn có Chùa Thiên
Mụ.
Chùa
Thiên Mụ được bao quanh bằng tường đá xây hai vòng. Khuôn
viên Chùa chia ra thành hai khu vực. Phía trước Nghi Môn gồm
các công trình kiến trúc, có 24 bậc tam cấp lên xuống Tam
Quan và 4 trụ biểu xây sát đường cái, từ đó có 15 bậc
tam cấp dẫn đến Đình Hương Nguyện. Lui xa hơn nữa vào
trong có hai lầu hình lục giác, một để bia, một để chuông.
Khu phía trong Nghi Môn gồm các điện Đại Hùng, Địa Tạng,
Quan Âm, nhà Trai, nhà Khách,
vườn
hoa, phía sau cùng là vườn thông tĩnh mịch thoáng đãng. Toàn
bộ kiến trúc của Chùa được lồng vào ngoại cảnh thiên
nhiên, nên thơ và hài hoà. Cảnh Chùa rất thích hợp với
Phật tính vì dường như ở đây là một thế giới hoàn toàn
khác, như thể cách biệt với thế nhân, nhưng nó lại rất
gần gũi với người mộ đạo ở chốn kinh kỳ cách đó không
xa.
Đứng
từ xa nhìn vào cũng như từ sông Hương nhìn lên, ngôi Chùa
nổi bật với tháp Phước Duyên trông uy nghiêm. Vòng lượn
của dòng sông Hương vừa tăng vẻ huyền bí, vừa làm nổi
nét nên thơ của Chùa. Bức tường bao bọc Chùa được xây
theo hình con rùa thò đầu xuống bến uống nước sông Hương.
Bên
cạnh những công trình kiến trúc đã nêu, trong Chùa Thiên
Mụ còn có tấm bia thời Chúa Nguyễn Phúc Chu bằng đá thanh
khá lớn, cao 2,6m, rộng 1.25m, dựng trên lưng một con rùa bằng
đá cẩm thạch dài 2,2m, rộng 1,6m, đường nét chạm khắc
uyển chuyển, tinh vi và công phu. Điện Đại Hùng là ngôi
điện chính trong Chùa, là một công trình kiến trúc đồ sộ
và nguy nga. Trong điện, ngoài những tượng Phật bằng đồng
sáng chói còn treo một cái khánh đồng khá lớn chạm hình
nhật nguyệt tinh tú do vị quan người Quảng Trị là Trần
Đình Ân thuê đúc năm 1677 để cúng chùa và treo một bức
hoành phi bằng gỗ sơn son thiếp vàng do tự tay Chúa Nguyễn
Phúc Chu ngự đề vào năm 1714.
Theo
cùng năm tháng và những biến cố của lịch sử, Chùa Thiên
Mụ đã trở thành một trong những biểu tượng của Cố đô
Huế, một trong những danh lam thắng cảnh và di tích lịch
sử nổi tiếng nhất của đất nước. Tôi đã được ngắm
nhìn Chùa Thiên Mụ trong sương, trong mưa, trong nắng chan hoà
rực rỡ và trong ánh hoàng hôn sẫm dần ở phía chân trời.
Tôi đã từng lắng nghe tiếng chuông Chùa ngân vang dội lan
dần xa, tôi đã từng lang thang mọi nẻo trong
Chùa,
mỗi lần đều thấy có cái mới lạ, nhưng lần nào tôi cũng
đều có cảm giác như đã có khi đứng bên di tích Coloseum
ở Roma, như nhận cảm thấy sự hiện diện của tiền nhân
xây dựng nên ngôi Chùa này, hơi thở của một thời đã qua
và cả lời nhắn nhủ hậu thế ngày nay phải gìn giữ nó
cho muôn đời sau.