THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
c
Những Ngôi Chùa Việt Nam
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

 CHÙA MỘT CỘT (CHÙA DIÊN HỰU)

Chùa thường được gọi là chùa Một Cột, tọa lạc ở đường Chùa Một Cột, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. * Chùa được Vua Lý Thái Tông (1028-1054) cho xây dựng vào năm 1049, do tích nhà vua chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, dắt vua lên tòa. Sư Thiền Tuệ khuyên vua xây chùa, dựng cột đá giữa ao, đặt tòa sen của Phật trên cột như đã thấy trong chiêm bao. Ngôi chùa đuọc xây lại vào thời Trần (năm 1249) và đã trùng tu nhiều lần. Chùa hiện nay gồm một ngôi chùa nhỏ và đài Liên Hoa được xây dựng vào năm 1955. Gắn liền với lịch sử thủ đô, chùa Một Cột là biểu tượng của Hà Nội ngàn năm văn vật. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA MỘT CỘT
Nguyễn Bá Lăng 

Chùa Một Cột ở Hà Nội hiện nay là tên quen thuộc của Liên Hoa Ðài dựng trong khuôn viên của một quần thể kiến trúc chùa, gồm chính điện thờ Tam Bảo, nhà Tổ, nhà khách v.v. được gọi chung là chùa Diên Hựu (lấy tên đầu của Liên Hoa Ðài). 

Chùa Một cột nổi danh vì kiến trúc độc đáo là một lầu gỗ hình vuông đặt trên một cột đá trồng giữa một hồ nước. Lầu được củng cố bằng một hệ thống con sơn sóc nách bằng gỗ. Tất cả tượng hình cho một bông sen vươn lên khỏi mặt nước, do đó mà có tên là Liên Hoa Ðài. 

Liên Hoa Ðài theo sử biên niên đã được dựng vào thời Lý năm 1049. Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi: 

«Mùa đông tháng 10 âm lịch, dựng chùa Diên Hựu ở vườn Tây cấm (bên phía Tây cấm thành Thăng Long). Trước đấy vua Lý Thái Tông (1028-1054) chiêm bao thấy Ðức Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, dắt vua lên tòa. Khi vua tỉnh dậy, vua đem việc đó nói với bầy tôi, có người cho là điềm không lành. Có nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa hồ, làm tòa sen của Phật Quan Âm đặt trên cột trụ như đã thấy trong mộng. Cho các nhà sư đi vòng lượn chung quanh tụng kinh, cầu cho vua trường thọ«. Vì thế gọi là chùa Diên Hựu (kéo dài tuổi thọ). 

Năm 1105 vua Lý Nhân Tông lại cho sửa sang, tô điểm Liên Hoa Ðài, đào thêm hồ, xây tháp báu ở phía trước. Văn bia tháp Sùng thiện Diên Linh trên núi Ðọi (tỉnh Hà Nam) có đoạn ghi tả chùa Diên Hựu (Một Cột) ở Thăng Long như sau: 

«Ðảo ao thơm Linh Chiểu, giữa ao trồi lên một cột đá, trên cột đá hoa sen nghìn cánh xòe ra. Trên hoa dựng một ngôi đền đỏ xẫm, trong đền đặt một pho tượng Quan Âm sắc vàng. Vòng quanh ao có dẫy hành lang trang trí bằng những hình vẽ bao bọc. Ngoài hành lang lại đào ao Bích Trì, mỗi phía đều bắc cầu cong để đi lại. - sân trước mặt, hai bên tả hữu xây tháp báu lưu ly...« 

Hai tháp báu này xây bằng gạch nung đất trắng, một cạnh gạch có chạm rồng (kiểu rồng thời Lý) ngoài cũng phủ men trắng mà khoảng năm 1954 đã được tìm thấy trong khuôn viên chùa Diên Hựu. Thiền sư Huyền Quang, đệ tam tổ phái Trúc Lâm thời Trần có làm thơ vịnh cảnh Diên Hựu Tự dưới trăng thu, có đề cập đến những ngọn tháp này: 

«Thượng Phương thu dạ nhất chung lan, 
Nguyệt sắc như ba phong thu đan, 
Xi vần (chi vẫn)* đảo miên phương kính lãnh, 
Tháp quang song chĩ, ngọc tiêm hàn« 
Phương trượng đêm thu vẳng tiếng chuông, 
Lá bàng đỏ xẫm ánh trăng suông, 
Gương hồ in ngược chim đầu nóc, 
Một đôi tháp ngọc nhọn đầu vươn.

Vua Lý Nhân Tông còn cho xây thêm một gác chuông bằng đá cao mấy trượng và đúc một quả chuông thật lớn định để treo lên, nhưng chuông rè, không kêu nên để bỏ ở thửa ruộng bên chùa. Ruộng trũng nhiều rùa, nên được gọi là chuông Qui điền. Chuông này sau Vương Thông nhà Minh bị Bình Ðịnh Vương vây hãm, phá đi để lấy đồng đúc khí giới (T.K.X.V). 

Vào những ngày sóc (mồng một), ngày vọng (rằm) mỗi tháng nhà vua thường đến lễ chùa và hàng năm đến ngày Phật Ðản (mồng 8 tháng tư ta) vua đều đến dự lễ tắm Phật. Ðó là thời cực thịnh của chùa Diên Hựu. Từ đó đến nay, chùa cùng với đất nước trải qua bao cuộc thịnh xuy nhưng vẫn tồn tại và đã được tu sửa nhiều lần. 

Ý niệm xây dựng chùa Một Cột có lẽ đã phát xuất từ thời Ðinh Lê (T.K.X.) bằng chứng là ở Hoa Lư cũng còn di tích của một chùa Một Cột. 

Còn chùa Một Cột thời Lý tức Diên Hựu Tự là «Hoa sen nghìn cánh nở trên cột đá« trên dựng điện Phật, mặc dù «hoa sen nghìn cánh« có là mỹ tự đi nữa thì kiến trúc xưa cũng to lớn huy hoàng hơn bây giờ. Một số nhà khảo cứu đã đưa những con số chiều cao, chiều rộng to lớn gấp bội hiện nay nhưng không biết căn cứ vào đâu. Những hình ảnh xưa nhất của Liên Hoa Ðài, được ghi lại là những tấm hình chụp về cuối thế kỷ XIX (khoảng trên một trăm năm trước đây) cho ta thấy chùa Một Cột bấy giờ trông tương tự như bây giờ, nhưng tình trạng bắt đầu hư nát và quang cảnh xung quanh khá hoang tàn. 

Ðến năm 1923 chùa Một Cột được trường Viễn Ðông Bác Cổ xây cất lại và xây bao lan bọc quanh 4 phía hồ. Nhưng cuộc trùng tu này vì thiếu kinh nghiệm nên kết quả không được mỹ mãn lắm. Kích thước thì nhỏ hẹp đi, mái cũng thấp hơn, quang cảnh có gọn gàng phong quang hơn nhưng đường nét cũng khô khan hơn. Nhưng từ đây trở đi nhờ phương tiện truyền thông, sách vở, báo chí hình ảnh, chùa Một Cột được phổ biến, thậm chí nha bưu điện Ðông Dương cũng dã mấy lần phát hành tem chùa, nên càng ngày kiến trúc này càng được biết đến, không những ở Việt Nam mà cả trên thế giới nữa. Ðến cuối năm 1954 khi thi hành hiệp định Genève, quân Pháp sửa soạn rút lui khỏi Hà Nội và miền Bắc Việt Nam thì có kẻ lạ mặt đặt thuốc nổ phá hủy chùa Một Cột ngày 11-9-1954 (rằm tháng tám ta). Liên Hoa Ðài bị phá hủy từ mặt sàn trở lên vì chất nổ được dấu ở dưới bát hương. Tuy nhiên, pho tượng Quan Âm nơi đây, vẫn ngồi y nguyên ở gần ngay đấy, chỉ bị rời mấy cánh tay gỗ chắp. Sau khi tiếp quản Hà Nội, được mấy tháng thì chính quyền tiếp quản quyết định phục hồi lại chùa và ủy nhiệm cho chuyên viên Sở Bảo Tồn Cổ Tích Nguyễn Bá Lăng, nghiên cứu họa đồ và điều khiển công trường. Họa đồ đã được nghiên cứu căn cứ theo một ảnh chụp cũ khoảng cuối thế kỷ XIX của trường Viễn Ðông Bác Cổ. Vì là ảnh chụp lập diện (géométral) nên những kích thước cũ, chiều rộng, chiều cao, độ dốc mái kể cả chi tiết tầu đao, lan can được phục nguyên một cách chính xác. Cột đá đường kính 1m20 và bộ con sơn sóc nách bên dưới vẫn được giữ nguyên, còn bên trên bình đồ vuông nay được phục nguyên mỗi mặt rộng 4m20, chiều cao từ sàn đến diềm mái là 2m20. Chi tiết trang trí trên nóc mái là đôi rồng ngoảnh cổ lại chầu mặt nguyệt, là đặc điểm trang trí từ thời cuối Lê sang Nguyễn được đắp lại như cũ. Bốn góc mái đao được làm cong hớt lên hơn trước một ít. Những hình đắp trang trí trên bốn góc đao trong hình chụp không rõ vì đã hư mòn thì được đắp lại theo hình đầu rồng lá lật như kiểu cuối thời Lê, còn thấy khá phổ thông ở các kiểu kiến trúc cổ tại miền Bắc. Vách gỗ bao quanh cung thờ được làm theo kỹ thuật cổ truyền là vách nong đố gỗ. Lan can được làm con tiện và cái «vỉ ruồi« trang trí ở hai đầu hồi thì được chạm theo kiểu chép ở nhà thủy tạ chùa Tam Sơn, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Bên trong, phía sau bên trên bàn thờ Ðức Quan Thế Âm, được trang trí bằng một giải ván thượng diệp chạm lưỡng long chầu nguyệt dập theo một kiểu chạm gỗ ở đình làng Ðình Bảng (Bắc Ninh). Cũng ở đây bên trên giáp mái treo tấm bảng chữ Hán «Liên Hoa Ðài«. Tòa Liên Hoa đài này đã được dập kiểu để dựng trong vườn của một bảo tàng viện tại Varsovia (Ba Lan) nhưng theo tỷ lệ thu nhỏ ơ và thay thế cầu thang gạch bằng cầu thang gỗ. Làm như vậy có lý hơn vì rất có thể là trước kia người ta leo lên Liên Hoa đài bằng một thang gỗ, rồi đến cuối thế kỷ trước Kinh lược Hoàng Cao Khải trong đợt tu bổ cổ tích mới cho xây bằng gạch như hiện nay: Liên Hoa đài nằm chếch phía sau, bên phía Tây Bắc chính điện thờ tam bảo trong khu vườn riêng của chùa, thì nay vườn này được mở rộng thành công viên của thành phố, mé bên kia khu vực chùa Diên Hựu thì khoảng thập niên 80 dùng để xây tòa nhà Bảo tàng Hồ Chí Minh đồ sộ cao lớn ở gần xát ngay bên, không biết tôn trọng di sản lịch sử văn hóa xưa. Tuy nhiên khách vào thăm chùa Một Cột vẫn đông đảo vì ai cũng nhận thức là chùa Một Cột đích thực là kiến trúc văn hóa Việt Nam. 
                                                                                                          Nguyễn Bá Lăng 
* Một loại chim, đắp bằng sành để trang trí trên đầu nóc mái 


CHÙA MỘT CỘT 
TINH THẦN TÍN NGƯỠNG THỜI LƯ
Phạm Vũ Dương

Lư Công Uẩn cũng như các vua Lư kế tiếp, đă xây dựng một quốc gia tiến bộ, khác hẳn Đinh, Lê ở trước, mà các triều đại sau cũng khó sánh bằng. Thời đại nhà Lư là thời đại toàn thịnh của Phật giáo mà cũng là thời đại có ư thức dân tộc rất cao, tinh thần quốc gia hùng mạnh trong lịch sử độc lập của nước Việt. Chùa Một Cột đă xuất hiện một cách tự hào, độc đáo trong cái tinh thần đó.Theo truyền thuyết chùa Một Cột h́nh thành từ một giấc mộng của vua Lư Thái Tông: "Tháng Hai, mùa xuân năm Kỷ Sửu (1049) đổi niên hiệu là Sung Hưng Đại Bảo năm đầu. Trước đó vua nằm mộng thấy Phật Quan Âm ngồi trên đài hoa sen, dẫn vua lên đài, khi tỉnh dậy, vua nói chuyện lại với triều thần, có người cho là điềm xấu, nhưng thiền sư Thiền Tuệ th́ khuyên vua nên xây chùa, dựng cột đá giữa hồ, xây đài hoa sen có tượng Phật Quan Âm ở trên, đúng như h́nh ảnh đă thấy trong mộng. Các nhà sư chạy đàn xung quanh, tụng kinh cầu sống lâu và đặt tên là chùa Diên Hựu". (Lư Kỷ - Toàn thư).

Như vậy th́ chùa Một Cột lấy nguồn cảm hứng từ giấc mộng đài sen với Phật Quan Âm. Cảm hứng từ mộng là một loại tâm lư nghệ thuật của các dân tộc phương Đông, và h́nh dáng chùa đă bao năm nhiều ư nghĩa nghệ thuật tôn giáo. Từ thời nhà Đinh đă dựng cột bia đá gọi là cột "nhất trụ" để cầu tuổi thọ, cầu cho vận nước cường thịnh lâu dài. Cái ư niệm đó tượng trưng bằng h́nh "Một Cột" cũng mang một ư nghĩa với nguyên lư sinh thành của địa mẫu, hay nguồn sống vũ trụ. Đến đời nhà Lư th́ cái cột "Nhất Trụ" ấy lại bao trùm nhiều ư nghĩa hơn nữa khi vua Lư Thái Tông (1028-1054) đă biến h́nh "Nhất Trụ" thành h́nh hoa sen, bằng cách cho xây trên đỉnh cột một cái điện nhỏ bằng gỗ lợp ngói mái cong để trở thành chùa Diên Hựu (tức Một Cột). Chùa có h́nh dáng một hoa sen, nếu nh́n từ xa th́ đúng đó là một hoa sen lớn, mọc lên từ hồ nước, chiếc cột là cọng sen. H́nh ảnh hoa sen đă có trong tinh thần dân tộc từ thời nhà Đinh: Đinh Bộ Lĩnh ở cạnh đền Sơn Thần, ngoài cửa có đám sen núi, có dấu chữ thiên tử. Mẹ Lê Hoàn có mang nằm mộng thấy trong bụng sinh hoa sen. Năm 1058, tháng 6, niên hiệu Long Thị Thái B́nh thứ 5, vua Lư Thánh Tông cho xây điện Linh Quang, bên trái dựng điện Kiến Lễ, bên phải dựng điện Sùng Nghi, phía trước điện dựng lầu gác chuông Một Cột sáu cạnh h́nh hoa sen. Trong quan niệm của người quân tử th́ hoa sen luôn mang một ư nghĩa đẹp, tượng trưng cho những ǵ cao quư nhất trên đời. Nơi nào có hoa sen là nơi đó có Phật ngự trị. Nơi nào có dấu sen là nơi đó có dấu vết hiền nhân. Nơi nào có hồ sen phải là nơi thanh tịnh. Hoa sen đă được người b́nh dân tôn quư, ví với những người có tâm hồn thanh cao, sống nơi bụi trần mà không bị danh lợi ô uế, ràng buộc, cám dỗ:

"Trong đầm ǵ đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".

Cũng v́ hoa sen mang một ư nghĩa như thế, nên hễ người ta nói tới hoa sen là nói tới Phật, sen là chỗ Phật ngự, toà sen là toà Phật. V́ vậy mà vua Lư Thái Tông đă mộng thấy hoa sen với Phật Quan Âm đứng trên đài sen và giấc mộng ấy đă được hiện thực bằng ngôi chùa Một Cột có h́nh dáng hoa sen với tượng Phật Bà Quan Âm được thờ trong đó.

Tín ngưỡng Phật Bà Quan Âm trong dân tộc Việt cũng là một tín ngưỡng đặc biệt, nó biểu hiện cho ḷng yêu thương vô bờ của Mẹ, hoà đồng với tín ngưỡng sùng bái Nữ Thần trong tư tưởng b́nh dân Việt Nam. Người b́nh dân Việt Nam với tâm hồn chất phác, chân thật, luôn luôn có khuynh hướng nguyện cầu một đấng từ bi cứu khổ, cứu nạn như Bồ Tát Quan Âm hay là Nữ Thần Địa Mẫu của họ. Họ nương tựa vào đó như 

một nơi an lành, như đứa trẻ cảm thấy được yên ổn trong đôi tay của mẹ... Họ luôn luôn yên tâm khi tin tưởng có Quan Âm Bồ Tát ở bên cạnh che chở, độ trì́.

Xem thế, chùa Một Cột quả là một tác phẩm nghệ thuật tân kỳ, thể hiện trọn vẹn cái tâm linh độc đáo của dân tộc. Với chiếc cột độc nhất dựng sừng sững giữa hồ biểu hiện cho tín ngưỡng về nguồn sống vũ trụ, về Âm Dương hoà hợp sáng tạo... và với tượng Phật Bà Quan Âm tượng trưng cho t́nh mẹ, cho Thánh mẫu từ bi luôn cứu độ chúng sinh, chùa Một Cột quả là gói ghém hoàn toàn cái tinh thần tín ngưỡng đặc biệt của Việt Nam thời Lư. Tinh thần đó đă dung hoà với các tư tưởng vừa trí thức, vừa b́nh dân, nhất là nó thể hiện một cái tinh thần hợp sáng nhưng độc lập của quốc gia./.
 



Chùa Một Cột
(còn gọi chùa Diên Hựu)

Là một cụm kiến trúc gồm ngôi chùa và toà đài xây ở giữa hồ vuông, thuộc quận Ba Đình, Hà Nội. Cả cụm vốn có chùa Diện Hựu và toà đài có tên là Liên Hoa. Đài này, lâu nay quen gọi là chùa Một Cột. Chùa hình vuông, mỗi bề 3m, mái cong, dựng trên cột đá hình trụ. Cột có đường kính 1,20m, cao 4 m (chưa kể phần chìm dưới đất). Tầng trên là hệ thống những thanh gỗ tạo thành bộ khung sườn kiên cố đỡ cho ngôi đài dựng bên trên khác nào một đáo hoa sen vươn thẳng trên khu hồ có lan can bằng gạch bao quanh. Từ bờ ngoài có cầu thang bằng gạch dẫn lên Phật đài. Trên cửa Phật dài có biển đề "Liên Hoa đài", ghi nhớ sự tích nằm mộng của vua Lý, dẫn tốt việc xây chùa.

Tương truyền năm 1049, vua Lý Thái Tông chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên toà sen, vua cũng được dắt lên đó. Khi tỉnh giấc, vua đem việc ấy hỏi các quan. Sư Thiền Tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa hỗ, làm toà sen của Phật đặt trên cột như đã thấy trong mộng. Cho các sư chạy đàn, tụng kinh cầu cho vua sống lâu, vì thế gọi là chùa Diên Hựu (kéo dài cõi phúc). Theo bia chùa Đọi (Nam Hà) thì quy mô Liên Hoa đài thời Lý to hơn ngày nay nhiều. Đào hồ Linh Chiểu, giữa bồ vọt lên một cột đá, đỉnh cột nở đáo hoa sen nghìn cánh, trên dựng toà điện màu xanh. Trong điện đặt pho tượng Quan Âm. Vòng quanh hồ là dãy hành lang. Lại đào ao Bích Tri, mỗi đều bắc cầu vồng để đi qua. Phía sân trước cầu, hai bên tả hữu xây tháp lưu ly. 

Xem tiếp phần 2


 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Document VNI Times E-mail Sitemap