Sự Hình
Thành và Ý Nghĩa Chùa Một-Cột

Chùa
Một-Cột được hình thành là do một giấc mộng của vua
Lí Thái-Tông (1028-1054) (5). Đại Việt Sử Kí Toàn Thư chép:
"Tháng hai, mùa xuân năm Kỉ-Sửu (1049), vua đổi niên hiệu
là Sùng-Hưng Đại-Bảo (1049-1054) (6) năm đầu. Trước đó
vua mộng thấy Phật Bà Quan-Âm ngồi trên đài hoa sen, dẫn
vua lên đài. Khi tỉnh dậy, vua nói lại với triều thần.
Có người cho là điềm gở, nhưng nhà sư Thiền-Tuệ thì khuyên
vua nên xây chùa. Vua cho dựng cột đá giữa hồ, xây đài
hoa sen có tượng Bồ-Tát Quán-Thế-Âm ở trên, đúng như hình
ảnh vua đã thấy trong mộng. Các nhà sư chạy đàn chung quanh,
tụng kinh cầu sống lâu, nhân đó đặt tên chùa là Diên-Hựu."
Cũng
như triều đại nhà Đinh (968-980) trước đó, triều đại
Lê Đại-Hành (980-1005) (1) là một triều đại vẻ vang trong
lịch sử dựng nước của nước ta, nhưng sự nghiệp ấy
quá ngắn ngủi vì sự phá nát của vua Lê Long-Đĩnh (1005-1009)
(2), cho nên bắt buộc phải có một sự đổi thay. Phú cường
và an cư lạc nghiệp là những nhu cầu thiết yếu của quốc
gia dân tộc, v
Theo
đó thì chùa Một-Cột đã lấy nguồn cảm hứng từ giấc
mộng đài sen với Phật Bà Quan-Âm. Cảm hứng từ mộng là
một thứ tâm lí nghệ thuật của các dân tộc Đông phương,
và hình dáng chùa đã bao hàm nhiều í nghĩa nghệ thuật tôn
giáo.
Theo
giáo sư Nguyễn Đăng Thục (trong sách Lịch Sử Tư Tưởng
Việt Nam) thì từ thời nhà Đinh đã dựng cột bia đá "Đà-la-ni,"
gọi là cột "nhất-trụ," để cầu tuổi thọ, cầu cho vận
nước dài lâu bên cạnh cái không khí luôn luôn đe dọa nặng
nề của Trung Quốc. Đến nhà Lí thì cây cột "nhất trụ"
ấy lại bao hàm nhiều í nghĩa hơn nữa, khi vua Lí Thái-Tông
đã biến hình "nhất trụ" thành hình hoa sen (bằng cách cho
xây trên đỉnh cột một cái điện nhỏ bằng gỗ lợp ngói,
mái cong), để trở thành chùa Diên-Hựu tức Một-Cột. Chùa
có hình dáng một hoa sen, và nếu nhìn từ xa thì quả đó
một hoa sen lớn mọc lên từ hồ nước, dĩ nhiên, cây cột
đã trở thành cọng sen.
Vẫn
theo giáo sư Nguyễn Đăng Thục thì hình ảnh hoa sen cũng đã
có những ấn tượng rõ nét trong tinh thần dân tộc ta từ
thời nhà Đinh: Đinh Bộ-Lĩnh (tức vua Đinh Tiên-hoàng-đế,
968-979) ở cạnh đền Sơn-thần, ngoài cửa có đám sen núi
có dấu chữ "thiên tử"; mẹ Lê Hoàn (tức vua Lê Đại-Hành)
có mang nằm mộng thấy trong bụng sinh hoa sen; tháng sáu, niên
hiệu Long-Thụy Thái-Bình (1054-1058) (8) thứ 5 (1058), vua Lí
Thánh-Tông (1054-1072) (9) cho xây điện Linh-Quang, bên trái dựng
điện Kiến-Lễ, bên phải dựng điện Sùng-Nghi; phía trước
điện dựng lầu chuông một cột sáu cạnh hình hoa sen. (10)
Vậy
thì, hoa sen luôn luôn mang một í nghĩa tốt đẹp, tượng trưng
cho những gì cao quí nhất trên đời. Nơi nào có hoa sen là
nơi đó có Phật, Bồ-Tát ngự trị; nơi nào có dấu sen là
nơi đó có dấu vết hiền nhân; nơi nào có hồ sen nhất định
phải là nơi thanh tịnh; và chính hoa sen đã được người
bình dân tôn quí để ví với những người có tâm hồn thanh
cao, sống nơi bụi trần đầy danh lợi mà không bị những
thứ ô uế cám dỗ, ràng buộc:
Trong
đầm gì đẹp bằng sen,
Lá
xanh bông trắng lại chen nhụy vàng;
Nhụy
vàng bông trắng lá xanh,
Gần
bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
(Ca
dao)
Cuối
cùng, hoa sen có một í nghĩa vô cùng quan trọng, đến nỗi
nó đã được dùng làm tựa đề cho một bộ kinh cao thâm
của Phật giáo đại thừa: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Do đó
có thể thấy, tín ngưỡng HOA SEN là tín ngưỡng Phật Thừa
vậy.
Cũng
vì hoa sen mang những í nghĩa như thế, nên hễ người ta nói
đến hoa sen là nói đến Phật. Sen là chỗ Phật ngự. Tòa
sen là tòa Phật. Và bộ ba "Tam Thánh": Di-Đà Quan-Âm Thế-Chí
đã dính liền mật thiết với hoa sen trong tín ngưỡng Tịnh-Độ
tông. Cõi Cực-lạc là cả một thế giới hoa sen. Vì vậy,
vua Lí Thái-Tông đã mộng thấy hoa sen với Phật Bà Quan-Âm
đứng trên đài sen, và giấc mộng ấy đã được hiện thực
bằng ngôi chùa Một-Cột có hình dáng hoa sen với tượng Bồ-Tát
Quán-Thế-Âm được thờ trong đó.
Tín
ngưỡng Phật Bà Quan-Âm trong tâm thức dân tộc Việt cũng
là một tín ngưỡng đặc biệt, nó biểu hiện cho lòng yêu
thương vô bờ của MẸ, hòa đồng với tín ngưỡng sùng bái
Nữ Thần cố hữu trong tư tưởng bình dân Việt Nam. Người
bình dân Việt Nam với tâm hồn chất phác, chân thật, luôn
luôn có khuynh hướng nguyện cầu một "tha lực" từ bi cứu
khổ cứu nạn như Bồ-Tát Quán-Thế-Âm, hay là Nữ Thần của
họ. Họ nương tựa vào đó như một nơi an lành, như đứa
bé cảm thấy được yên ổn trong lòng mẹ. Họ luôn luôn
yên tâm khi tin tưởng có Bồ-Tát Quán-Thế-Âm ở bên cạnh
để che chở, độ trì.
Xem
thế, chùa Một-Cột quả là một tác phẩm nghệ thuật tân
kì, thể hiện trọn vẹn cái tâm linh độc đáo của dân tộc.
Với cây cột độc nhất dựng sừng sững giữa hồ, nó biểu
hiện cho tín ngưỡng về nguồn sống vũ trụ, về âm dương
hòa hợp của tư tưởng Bà-la-môn giáo và Chiêm-thành vốn
cũng đã ảnh hưởng ngấm ngầm vào tinh thần dân Việt từ
lâu. Với cái điện hình hoa sen mọc lên từ hồ nước, nó
nói lên cái tinh thần phấn đấu âm thầm với dục vọng
để tự
kiến
tánh thành Phật của các thiền sư, tức là giới trí thức
bác học. Và với tượng Phật Bà Quan-Âm, nó bộc lộ cái
tình Mẹ, tượng trưng cho Nữ Thần, một tha lực từ bi luôn
luôn cứu độ chúng sinh, đó là tín ngưỡng của giới bình
dân chơn chất. Vì vậy, chùa Một-Cột quả đã gói ghém hoàn
toàn tinh thần tín ngưỡng đặc biệt của Việt Nam thời
đó. Tinh thần chùa Một-Cột là một tinh thần tổng hợp
của Phật giáo Việt Nam thời Lí. Tinh thần đó đã dung hòa
các
tư
tưởng vừa Thiền, vừa Mật, vừa Nho, vừa Lão, vừa trí
thức, vừa bình dân, nhất là nó thể hiện một tinh thần
hợp sáng nhưng độc lập của quốc gia; và chính cái tinh
thần đó đã là nguyên nhân sâu xa của việc thành lập thiền
phái Thảo-Đường, một phái thiền Việt-nam độc đáo thời
nhà Lí.
Thiền
phái Thảo Đường:
Một
kết tinh của Tinh thần Phật giáo Việt Nam thời nhà Lí
Thời
đại nhà Lí là thời đại toàn thịnh của Phật giáo Việt
Nam, mà cũng là thời đại có í thức dân tộc cao nhất, tinh
thần quốc gia hùng mạnh nhất trong lịch sử độc lập của
Việt Nam. Về điểm này, giáo sư Hoàng Xuân Hãn có nói: "Lí
Thánh-Tông là vua ta đầu tiên có óc lập một đế quốc có
danh ngang với một nước thiên tử. Vua đặt quốc hiệu là
Đại-Việt (1054), tôn các vua trước là Thái-Tổ, Thái-Tông,
coi các nước nhỏ là chư hầu, và muốn ngăn cấm Chiêm Thành
thần phục Tống." (11) Và chính ở trong cái í thức dân tộc
và tinh thần độc lập, tự cường cao độ đó mà phái thiền
Thảo-Đường đã xuất hiện, như học giả Trần Văn Giáp
đã nói: "Đến thế kỉ XI, đạo Phật rất thịnh vượng
ở Việt-nam. Những người nhiệt thành với đạo này không
phải chỉ là quần chúng mà cả những quan lớn ở triều
đình, và cả những vua chúa nữa. Những ông vua ấy muốn
thiết lập một phái mới. Nhưng thay vì trực thuộc với Bồ-Đề
Đạt-Ma, họ lại chọn một thiền sư Trung-hoa tên là Thảo-Đường
đã đến Chiêm-thành và ngụ một thời gian ở đó. Chắc
chắn họ đã theo giáo huấn của vị sư trưởng này và thực
hành giáo pháp của ông. Thời kì thứ tư này quả là thời
kì Thiền học Việt-nam." (12)
Từ
Lí Thái-Tông, ta thấy nhà vua đã có khuynh hớng xây dựng
một nền Phật giáo riêng biệt, đặc thù cho Đại-cồ-việt
(13) qua kiến trúc hợp sáng chùa Một-Cột, thờ Phật Bà Quan-Âm
trong một cái điện hình hoa sen. Đến vua Lí Thánh-Tông thì
cái khuynh hướng ấy lại càng mạnh mẽ hơn nữa, đến nỗi
đã đưa đến việc sáng lập một phái thiền mới lấy tên
của thiền sư Thảo-Đường.
Về
sự tích Tổ Thảo-Đường, sách An Nam Chí Lược chép: "Thảo-Đường
đi theo sư phụ sang ở đất Chiêm-thành. Khi vua Lí Thánh-Tông
đánh Chiêm-thành, bắt được làm tù binh, giao cho quan tăng-lục
làm gia nô. Quan tăng-lục viết sách Ngữ Lục, để ngỏ trên
bàn và đi khỏi. Nhà sư Thảo-Đường xem trộm, có sửa chữa
đi. Quan tăng-lục về thấy thế lấy làm kinh ngạc về anh
gia nô, bèn tâu lên vua. Vua bái Thảo-Đường làm quốc-sư."
(14)
Tinh
thần của tài liệu này cho ta thấy gì? Đọc lại lời của
giáo sư Hoàng Xuân Hãn ở trên thì triều đại Lí Thánh-Tông
quả là một triều đại oanh liệt, có tinh thần dân tộc
cao sáng nhất. Vua Lí Thánh-Tông nuôi mộng xây dựng quốc
gia thành một đế quốc hùng cường, xứng danh "Đại-Việt";
trong đó bao gồm í tưởng sáng lập một tông phái Phật giáo
Đại-Việt đặc thù, hoàn toàn mang màu sắc dân tộc, mặc
dù trước đó đã có hai phái thiền Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi và Vô-Ngôn-Thông
từ ngoại quốc truyền vào. Và mộng ước ấy đã được
thành tựu do một thiện duyên hãn hữu, đó là việc nhà vua
đi đánh Chiêm-thành, bắt nhiều tù binh, và trong đám tù binh
ấy có thiền sư Thảo-Đường.
Thảo-Đường
là một tù binh được cắt đặt làm thị giả cho vị tăng-lục
(vị tăng sĩ cao cấp trông coi về tăng sự). Lại do sự khám
phá của chính vị tăng-lục mà Thảo-Đường được nhà vua
tôn làm quốc-sư. Ấy là vua đã nhặt được viên ngọc vô
giá từ trong bùn lầy! Ý vua đã mong ước thành lập một
tông phái đặc biệt Việt Nam, nhưng nhà vua là cư sĩ, không
thể đứng làm tổ khai sơn cho một môn phái, lại không
muốn chọn các vị thiền sư đã saün có môn phái
đương
thời, nhân cơ hội khám phá được viên ngọc vô giá là
thiền sư Thảo-Đường (dù vốn có nguồn gốc từ Trung-hoa),
bèn lập tức tôn lập ngài làm Tổ, lấy tên ngài làm tên
môn phái, rồi chính nhà vua làm đồ đệ đầu tiên đời
thứ nhất. Thật là một cơ hội nghìn vàng để vua thực
hiện giấc mộng. Quan tăng-lục là một vị cao tăng, mà viết
"ngữ lục" còn bị Thảo-Đường sửa chữa, thì Thảo-Đường
quả xứng đáng với sự trông đợi và kính ngưỡng của
vua Lí Thánh-Tông.
Vậy
thì cái tinh thần đặc biệt của Tổ Thảo-Đường là gì?
Đó là một tinh thần tổng hợp Thiền và Tịnh. Theo tinh thần
bài "Kỉnh Sách" của Tổ thì con đường tu hành không phải
chỉ có một, mà phải gồm cả ba phương diện: tham thiền,
quán chiếu và niệm Phật. Tham thiền và quán chiếu tức là
tập trung tinh thần nhắm vào một điểm, ngưng đọng tất
cả mọi vọng niệm trong tâm, để cho tâm í thanh tĩnh, không
còn vọng động. Lúc đó cả năng tri và sở tri đều mất,
trí tuệ phát sinh, kiến tánh giác ngộ. Đó là con đường
tự lực đốn ngộ, có thể giải thoát ngay ở đời này,
được áp dụng chung cho cả tăng lẫn tục. Nhưng đó là con
đường trí thức, chỉ thích hợp cho những bậc thượng nhân;
còn đối với kẻ độn căn mà đa số là quần chúng nông
dân thì không thích hợp. Do vậy mà Tổ đã đưa ra con đường
niệm Phật để dẫn dắt đám quần chúng nông dân đông đảo
ấy. Tổ nói: "Thiền vốn không có cửa vào nhất định, nếu
không đủ căn bản tâm linh thì phần nhiều rơi vào lầm lạc,
trọn đời trôi nổi, khó mà giác ngộ. Pháp quán tâm thì
rất tế nhị, tinh vi, nếu không có trí tuệ bát nhã thì ít
có thể tiến bộ trên đường chứng nghiệm. Chỉ còn có
lối niệm Phật là rất mau lẹ, tiện lợi. Từ xưa đến
nay, người thông minh hay ngu độn đều tu, đàn ông hay đàn
bà đều chuộng, muôn người không một sai lầm như bốn lời
dạy của phái Lâm-Tế đã tỏ rõ. Chỉ cần tự phân tích
lấy tâm mình, chớ nghi ngờ mình làm không được." (15)
Người
nông dân vốn dồi dào tình cảm và giàu tưởng tượng. Hơn
nữa, trải qua bao cảnh bạo tàn, đau thương của giặc giã,
chiến tranh từ các đời trước, họ chỉ mong được một
đời sống thanh bình, an cư lạc nghiệp với sự độ trì
của thần linh, cho nên sự tin tưởng vào Phật Bà Quan-Âm
với lòng từ bi của Mẹ Hiền cứu khổ cứu nạn đã phổ
biến mau lẹ và sâu rộng trong quần chúng bình dân. Tín ngưỡng
vào Bồ-Tát Quán-Thế-Âm cứu khổ độ trì là một lòng tin
vào
tha lực. Bởi thế, con đường niệm Phật dành cho người
bình dân đã được đề cao bên cạnh con đường tham thiền
và quán chiếu dành cho bậc đại trí tin tưởng vào tự lực;
đó là cái chủ tâm của vua Lí Thánh-Tông trong việc thành
lập thiền học Thảo-Đường, nhằm tổng hợp tín ngưỡng
của toàn dân, làm thành một sức mạnh vô địch để thực
hiện cái mộng "Đại-Việt" trong tinh thần dân tộc cao sáng
của mình.
Như
vậy, đứng về phương diện lịch sử, chúng ta phải công
nhận người sáng lập ra phái thiền Thảo-Đường là vua Lí
Thánh-Tông. Tinh thần Thảo-Đường chính là tinh thần Lí Thánh-Tông
trong í hướng sáng lập một môn phái đặc biệt dân tộc.
Tinh thần Lí Thánh-Tông là một tinh thần cởi mở, saün sàng
thâu hóa nhiều tín ngưỡng khác nhau. Vua rất sùng thượng
Phật pháp nên đã xây cất và tu bổ rất nhiều chùa tháp.
Tinh thần từ bi của Phật giáo đã ảnh hưởng sâu đậm
nên nhà vua có tiếng là một ông vua nhân từ. Vua đã từng
ban chăn chiếu cho tù nhân, cho họ ăn cơm đầy đủ vì nghĩ
thương cái hoàn cảnh đói lạnh của họ trong ngục xá; và
đối với dân chúng thì: "Lòng trẫm yêu dân như yêu con trẫm
vậy; hiềm vì trăm họ ngu dại làm càn phải tội, trẫm lấy
làm thương lắm; vậy từ nay về sau, tội gì cũng giảm nhẹ
bớt đi." (16) Đối với Khổng giáo nhà vua cũng rất chú trọng.
Vua là người đầu tiên ở nước ta dựng lập văn miếu,
tạc tượng Chu-Công, Khổng-Tử và tứ-phối để thờ phượng
(1070). Vua cũng rất hâm mộ âm nhạc Chiêm-thành và tin Thần
đạo, xây chùa Nhị-Thiên-Vương thờ Nhật-Thiên (Civa Deva)
và Nguyệt-Thiên (Visnu Deva) thuộc tín ngưỡng Ấn-độ giáo.
Vì
vậy, khi nhận xét về Lí Thánh-Tông, giáo sư Nguyễn Đăng
Thục đã viết: "Xem thế thì biết rằng khuynh hướng tín
ngưỡng của nhà vua cũng như của toàn quốc thời bấy giờ
không có tính cách giáo điều, hết sức cởi mở để thỏa
hiệp nhiều tín ngưỡng khác nhau." (17)
Quan
Âm Nữ
Nói
đến Lí Thánh-Tông, chúng ta còn phải đề cập đến một
điểm đặc biệt khác nữa, đó là sự liên quan gần như
mật thiết giữa nhà vua với hình ảnh Bồ-Tát Quán-Thế-Âm.
Hình ảnh Phật Bà Quan-Âm đã ám ảnh dân ta từ lâu, và đã
được thể hiện một cách cụ thể kể từ vua Lí Thái-Tông,
qua việc xây chùa Một-Cột hình hoa sen để thờ đức Bồ-Tát
như chúng ta đã thấy ở trên. Một sự kiện nữa, như sử
chép: "Nhà vua 40 tuổi, chưa có con trai, thường đi các đền
chùa để cầu tự. Ngự giá đến đâu, người xem chật đường.
Khi đến làng Thổ-lỗi, có người con gái hái dâu đứng dựa
vào khóm cỏ lau, nhà vua lấy làm lạ, cho vào cung, lập nàng
làm Æ-Lan phu-nhân. Đến khi có mang, sinh hoàng-tử Càn-Đức,
nhà vua mừng lắm. Ngày hôm sau lập làm thái-tử, đổi niên
hiệu, đại xá, phong Æ-Lan phu-nhân làm thần-phi, lại gọi
là nguyên-phi, đổi làng Thổ-lỗi làm làng Siêu-loại, vì
là nguyên quán của nguyên-phi." (18)
Sử
Kí Toàn Thư lại chép: "Vua thân đi đánh Chiêm-thành, lâu không
thắng, trở về đến châu Cư-liên, nghe tin nguyên-phi điều
khiển nội trị được lòng dân hòa hợp, trong nước yên
ổn, tôn sùng Phật giáo, tục gọi là Quan-Âm-Nữ. Vua tự
bảo, 'Kẻ kia là một nữ nhi mà còn có thể được thế,
ta là trai còn dùng làm chi!' Bèn quay lại đánh mới thắng
được." (19)
Trong
chế độ quân chủ xưa, việc vua sinh được hoàng nam là một
điều vui mừng trọng đại không những cho nhà vua, cho triều
đình, mà cho cả nhân dân trong nước. Vua Lí Thánh-Tông đã
40 tuổi mà chưa có con trai, nay gặp được Æ-Lan phu-nhân thì
sinh hoàng nam, đó chẳng là điều đại phúc cho triều đình
và cho cả thiên hạ ư? Vì vậy, từ một cô thôn nữ, Æ-Lan
đã được bước lên địa vị một nguyên-phi, và đối với
nhân dân thì được tôn kính là Quan-Âm Nữ (con gái của Phật
Bà Quan-Âm), nàng quả đã được mọi người, mọi tầng lớp
trong toàn quốc coi là một cứu tinh của dân tộc. Nàng là
cứu tinh của dân tộc không những sinh được vị thái-tử
anh minh, mà còn vì ở tư cách lãnh đạo nhân dân, làm cho
họ được sống thanh bình trong cảnh an cư lạc nghiệp. Người
dân vốn đã saün lòng sùng bái Phật Bà Quan-Âm, nay họ có
dịp hiện thực hóa Phật Bà Quan-Âm vào đối tượng Æ-Lan
phu-nhân, chứng tỏ đã có một sợi dây cảm thông, một í
thức nối liền giữa tầng lớp bị trị và tầng lớp thống
trị.
Từ
trước khi chùa Một-Cột và tượng Phật Bà Quan-Âm xuất
hiện, Phật giáo nước ta chỉ biết có Thiền và Mật thần
thông, là khuynh hướng tin tưởng vào tự lực, chỉ thích
hợp với thiểu số tầng lớp trí thức bác học, giàu nghị
lực và í chí. Từ khi chùa Một-Cột với tượng Phật Bà
Quan-Âm ra đời thì hình ảnh Nữ-Thần Quan-Âm đã là đối
tượng lí tưởng của đại đa số nông dân tin tưởng vào
một tha lực cứu khổ cứu nạn. Và đến Lí Thánh-Tông thì
sợi dây nối kết giữa tự lực và tha lực, giữa trí thức
bác học và nông dân quê mùa, giữa giới thống trị và giới
bị trị, đã được bện thành; và sợi dây đó chính là
nàng thôn nữ Æ-Lan. Æ-Lan đối với nhà vua là hình ảnh Quan-Âm
Nữ, không những đã đem đến cho nhà vua hiếm hoi một vị
thái-tử anh minh nối nghiệp, mà còn là một động lực phấn
khởi nhiệm mầu khiến cho nhà vua thắng trận khải hoàn;
còn đối với nhân dân thì Æ-Lan cũng là hình ảnh Quan-Âm-Nữ
vì đã đem lại cho họ một xã hội an cư lạc nghiệp. Vì
vậy, sau khi thắng giặc Chiêm-thành trở về, vua Lí Thánh-Tông
đã sáng lập tại kinh đô Thăng-long thiền phái Thảo-Đường,
cũng với í chí thống nhất tín ngưỡng sùng bái của bình
dân với tín ngưỡng trí thức của bác học để lấy sức
mạnh toàn dân mà thực hiện mộng "Đại-Việt" nói về phương
diện quốc gia, và thực hiện một môn phái Thiền "Đại-Việt"
nói về phương diện Phật giáo.
Một
cách tổng quát
Nhìn
một cách tổng quát, chúng ta thấy Phật giáo thời Lí quả
đã chứng tỏ cái năng lực phi thường trong việc giáo hóa
con người về cả hai phương diện, xuất thế cũng như nhập
thế. Từ Lí Thái-Tổ đến Lí Chiêu-Hoàng (1224-1225), trải
qua chín đời vua, trị vì suốt một thời gian 215 (1010-1225)
năm, Phật giáo luôn luôn nắm vai trò chủ động. Mọi phương
diện hệ trọng của quốc gia, từ chính trị, quân sự, đến
giáo dục, văn học, nghệ thuật v.v... đều mang tinh
thần
Phật giáo. Ba phái thiền Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi, Vô-Ngôn-Thông và
Thảo-Đường cùng nhau hợp tác, truyền bá song hành, và cùng
chung qui vào một chí hướng phục vụ quốc gia dân tộc.
Về
phương diện xuất thế, các thiền sư cũng như các vua chúa
sùng đạo đều căn cứ vào thiền để khai phóng tâm linh,
tự mình phát triển trí tuệ mà ngộ đạo. Về phương diện
nhập thế, sau khi ngộ đạo, họ đã hòa mình vào đời sống
xã hội, từ cung vua, kinh thành, cho đến làng mạc, thôn quê,
họ đã mở bao nhiêu đạo tràng, trường học để mở mang
văn hóa, giải phóng tâm hồn mông muội cho người đời; ở
đâu có người sống là ở đó có ánh sáng đạo lí lan tràn
tới.
Bao nhiêu tinh hoa của dân tộc được khai triển triệt để,
làm cho nền văn minh nước ta vào thời đó thật rực rỡ,
sánh ngang hàng với Trung Quốc, khiến cho nước láng giềng
to lớn này phải nể sợ.
Tinh
thần Phật giáo thời Lí, nhất là từ khi hình ảnh hoa sen
với tượng Phật Bà Quan-Âm xuất hiện, không phải là một
tinh thần Phật giáo Thiền tông thuần túy, mà là cả một
tinh thần dung hóa sáng tạo. Từ thiền sư Vạn-Hạnh với
triết lí "dung tam tế" đến các thiền sư Từ Đạo-Hạnh,
Minh-Không với khuynh hướng tổng hợp Thiền-Mật, sử dụng
quyền năng thần thông để giúp đời; rồi các thiền sư
Viên-Chiếu, Cứu-Chỉ, Ngộ-Ấn, Thông-Biện, Viên-Thông v.v...,
đều khai triển cái học TAM-GIÁO (Phật-Lão-Nho) để phụng
sự quốc gia dân tộc, khiến cho cái tinh thần "Bi, Trí, Dũng"
của Phật giáo, hay "Nhân, Trí, Dũng" của Nho giáo được các
cấp lãnh đạo thực hành triệt để, xây dựng một nước
Đại Việt hùng cường, thịnh vượng và nhân ái.
Tinh
thần "Bi-Trí-Dũng" ấy lại là một tinh thần toàn dân thống
nhất, do công trình nối kết từ tín ngưỡng trí thức quí
tộc đến tín ngưỡng sùng bái bình dân qua các hình ảnh
chùa Một-Cột, Quan-Âm Nữ, nhất là sự sáng lập thiền phái
Thảo-Đường, đã làm cho Phật giáo Việt Nam thời nhà Lí
có một tinh thần tín ngưỡng hợp sáng thật đặc biệt.
Tất
cả những sự kiện trên đã làm cho nước ta dưới thời
đại nhà Lí thật xứng đáng với danh xưng "Đại-Việt."
Chú
Thích:
1.
Lê Đại-Hành: Tên là Lê Hoàn, người làng Bảo-thái, huyện
Thanh-liêm, tỉnh Hà Nam; là một vị tướng tài của vua Đinh
Tiên-hoàng. Năm 968 được phong chức thập-đạo tướng-quân;
năm 979 làm nhiếp-chính cho Vệ-vương Đinh Tuệ (con út của
vua Đinh Tiên-hoàng, lên ngôi năm 979, lúc đó mới sáu tuổi).
Năm 980, quân Tống xâm lăng, Lê Hoàn cử Phạm Cự Lượng
làm đại tướng cầm quân nghênh địch. Trước khi ra quân,
Phạm Cự Lượng cùng ba quân đều đồng thanh tôn Lê Hoàn
lên ngôi vua (lấy cớ vua Đinh Tuệ còn quá nhỏ dại, chư
tướng sĩ đánh giặc không thể biết thưởng phạt công minh).
Liền đó, Lê Hoàn lên ngôi, xưng là Đại-Hành hoàng-đế,
phế Đinh Tuệ làm Vệ-vương, mở ra nhà Tiền-Lê (980-1009),
rồi đích thân cầm quân chống giặc, thắng được cả thủy,
lục quân Tống, giết chủ tướng Tống là Hầu Nhân-Bảo
(981), nhà Tống phải cầu hòa. Ông ở ngôi được 25 năm (980-1005),
thọ 65 tuổi.
2.
Lê Long-Đĩnh: Là con út của vua Lê Đại-Hành (em của Long-Ngân,
Long-Kính, Long-Việt). Vua Lê Đại-Hành mất (1005), Long-Việt
lên ngôi (là vua Lê Trung-Tông), nhưng chỉ được ba ngày thì
bị Long-Đĩnh cho người ám sát để đoạt ngôi, trở thành
vua đời thứ ba của nhà Tiền-Lê. Lê Long-Đĩnh là ông vua
nổi tiếng về độc ác, bạo ngược, hiếu sát trong lịch
sử nước ta. Ông lại là người hoan dâm quá độ, đến nỗi
mắc bệnh không ngồi được, phải nằm mà thính triều, cho
nên được người đương thời gọi là "Ngọa-Triều hoàng-đế."
Ông ở ngôi được bốn năm (1005-1009), thọ 20 tuổi.
3.
Lí Công-Uẩn: Vua khai sáng nhà Lí (1010-1225). Để phân biệt,
có người gọi đây là nhà Hậu-Lí, khác với nhà Tiền-Lí
(544-602) do Lí Nam-Đế (544-548) sáng lập. Công-Uẩn người
làng Cổ-pháp, huyện Đông-ngạn, phủ Từ-sơn, tỉnh Bắc-ninh,
không biết cha là ai, được mẹ là bà họ Phạm đem cho thiền
sư trú trì chùa Cổ-Pháp là Lí Khánh-Vân làm con nuôi, cho
nên lấy họ Lí. Tuổi thơ ông đã sống kham khổ trong chốn
thiền môn, nhưng lại được sự dạy dỗ tận tình của thiền
sư Vạn-Hạnh, nên lớn lên ông đã trở thành một người
tài đức kiêm toàn, được vào triều phụng sự nhà Tiền-Lê,
làm quan đến chức tả-thân-vệ điện-tiền chỉ-huy-sứ.
Ông được toàn thể đình thần tin yêu và kính trọng, nên
sau khi vua Lê Long-Đĩnh băng (1009), ông đã được họ tôn
lên ngôi vua (tức vua Lí Thái-Tổ), khai sáng một triều đại
nhà Lí huy hoàng, áp dụng tinh thần BI-TRÍ-D?NG của Phật giáo
trong việc trị dân, chấm dứt một giai đoạn tai ách khổ
đau cho dân tộc. Sau khi lên ngôi, nhà vua cho dời kinh đô từ
Hoa-lư (Ninh-bình) ra La-thành, đặt tên lại là Thăng-long (tức
thành phố Hà-nội ngày nay) vẫn giữ quốc hiệu là Đại-cồ-việt
(xin xem chú thích số 13 ở sau). Ông ở ngôi được 18 năm
(1010-1028), thọ 55 tuổi.
4.
Vạn-Hạnh: Vị cao tăng đời thứ 12 thiền phái Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi.
Thiền sư họ Nguyễn, người làng Cổ-pháp, huyện Đông-ngạn,
phủ Từ-sơn, tỉnh Bắc-ninh. Từ thuở nhỏ đã thông minh
khác thường, tinh thông cả Nho, Lão, Phật, nghiên cứu hàng
trăm bộ kinh luận Phật giáo, không ham danh lợi, không trọng
giàu sang. Năm 21 tuổi xuất gia, học với thiền sư Thiền-Ông
chùa Lục-Tổ, chuyên cần tinh tấn, đạo hạnh cao dày, lại
rất giỏi về sấm vĩ và phong thủy, được thiên hạ tin
tưởng là bậc tiên tri. Thiền sư là thầy dạy học cho cả
vua Lê Đại-Hành và Lí Thái-Tổ, đã giúp đỡ rất nhiều
cho vua Lê Đại-Hành trong các việc cai trị cũng như quân quốc
đại sự. Khi đoán biết vận số nhà Tiền-Lê đã hết, thiền
sư đã khéo léo vận động đưa Lí Công-Uẩn lên ngôi hoàng
đế, chấm dứt thời kì tối tăm đầy đau khổ của dân
tộc dưới triều vua Lê Long-Đĩnh tàn ác, dâm loạn, đồng
thời ngăn chận được những biến loạn nguy hiểm sau khi
vua Lê Long-Đĩnh băng. Vua Lí Thái-Tổ lên ngôi, mở ra triều
đại nhà Lí, phong cho thiền sư làm quốc sư. Nhân cơ hội
này, thiền sư đã đem hết khả năng và tinh thần "dung hợp
Nho-Lão-Phật" của mình để giúp vua trị quốc an dân, đúng
với tư cách của một vị lãnh đạo không những về tâm
linh, mà còn về hành động giúp dân an cư lạc nghiệp. Thiền
sư tịch vào năm 1018.
5.
Lí Thái-Tông: Con trưởng vua Lí Thái-Tổ, tên Phật-Mã, nối
ngôi năm 1028, là vua đời thứ hai nhà Lí. Ông là một vị
quân vương thông minh, giỏi cả về chính trị cũng như quân
sự. Ông cũng thấm nhuần đức độ của vua cha, thâm tín
Phật pháp, nên rất thương dân và thường quan tâm đến đời
sống của dân. Ông ở ngôi được 26 năm (1028-1054), thọ 55
tuổi.
6.
Trong suốt thời gian ở ngôi, vua Lí Thái-Tông đã đặt sáu
niên hiệu: Thiên-Thành (1028-1033); Thông-Thụy (1034-1038); Càn-Phù-Hữu-Đạo
(1039-1041); Minh-Đạo (1042-1043);
Thiên-Cảm-Thánh-Vũ
(1044-1048); Sùng-Hưng-Đại-Bảo (1049-1054).
7.
Trích từ sách Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, tập II (Sài-gòn:
Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa, 1969) của Nguyễn Đăng
Thục.
8.
Trong suốt thời gian trị vì, vua Lí Thánh-Tông đã đặt năm
niên hiệu: Long-Thụy Thái-Bình (1054-1058); Chương-Thánh Gia-Khánh
(1059-1065); Long-Chương-Thiên-Tự (1066-1067);
Thiên-Huống
Bảo-Tượng (1068); Thần-Võ (1069-1072).
9.
Lí Thánh-Tông: Vua Thái-Tông băng (1054), thái-tử Nhật-Tông
lên nối ngôi làm vua đời thứ ba nhà Lí, tức Lí Thánh-Tông,
đổi quốc hiệu là Đại-việt. Ông cũng là một vị quân
vương tài trí, nhân từ và đức độ, đã tạo một sự nghiệp
hiển hách còn hơn cả các đời trước. Ông ở ngôi được
18 năm (1054-1072), thọ 50 tuổi.
10.
Theo giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Sđd.
11.
Hoàng Xuân Hãn, Lí Thường Kiệt (Sài-gòn: Ban Tu Thư Đại
Học Vạn Hạnh, 1967).
12.
Trần Văn Giáp, Phật Giáo Việt Nam, Tuệ Sĩ dịch (Sài-gòn:
Ban Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh, 1968).
13.
Năm 968, Đinh Bộ-Lĩnh dẹp yên 12 sứ quân, lên ngôi vua, xưng
là Tiên-hoàng-đế, đặt quốc hiệu là Đại-cồ-việt (nước
Việt lớn), đóng đô tại Hoa-lư (tỉnh Ninh-bình).
14.
Nguyễn Đăng Thục, Sđd.
15.
Nguyễn Đăng Thục, Sđd.
16.
Thượng-tọa Mật-Thể, Việt Nam Phật Giáo Sử Lược (Nha-trang:
Phật Học Viện Trung Phần, 1960).
17.
Nguyễn Đăng Thục, Sđd.
18.
Nguyễn Đăng Thục, Sđd.
19.
Nguyễn Đăng Thục, Sđd.
Tài
liệu tham khảo
- Hoàng
Xuân Hãn. Lí Thường Kiệt. Sài-gòn: Ban Tu Thư Đại Học Vạn
Hạnh, 1967.
-
Nguyễn Đăng Thục. Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, tập I, II.
Sài-gòn: Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa, 1969.
-
Nguyễn Đăng Thục. Thiền Học Việt Nam. Sài-gòn: Lá Bối,
1967.
-
Nguyễn Lang. Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I. Paris: Lá Bối,
1977.
-
Thượng-tọa Mật-Thể. Việt Nam Phật Giáo Sử Lược. Nha-trang:
Phật Học Viện Trung Phần, 1960.
-
Trần Trọng Kim. Việt Nam Sử Lược. Sài-gòn: Tân Việt, in
lần thứ sáu.
-
Trần Văn Giáp. Phật Giáo Việt Nam (Tuệ-Sĩ dịch). Sài-gòn:
Ban Tu Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1968.