Chùa
thường được gọi là chùa Láng, tọa lạc ở đường Láng,
quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, cách trung tâm thủ đô
khoảng 7km về phía Tây. Chùa được khởi dựng vào đời
Vua Lý Anh Tông (1138-1175). Chùa thờ Phật và thờ Thiền sư
Từ Đạo Hạnh (?-1117), thuộc Thiền phái Tì-ni-da-lưu-chi.
Ngày 7 tháng 3 âm lịch là ngày sinh của Thiền sư đã trở
thành ngày hội chùa Láng: (Trở về hội Láng, trở ra hội
Thầy. Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu. Kiến trúc hiện
nay là do lần trùng tu vào năm 1666 và giữa thế kỷ XIX với
vẻ cổ kính vẫn còn giữ được của một danh lam từ tám
thế kỷ trước ở kinh thành Thăng Long. Chùa đã được Bộ
Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Ngày xửa ngày
xưa có ngôi chùa Láng
Tác
giả bài viết này-René le Clère- là hội viên danh dự Hội
Nhà văn Canada, cộng tác viên của Trung tâm nghiên cứu và
hợp tác quốc tế Canada (CECI), đã đến Việt Nam dạy tiếng
Pháp tại một trường cao đẳng ở Hà Nội. Theo yêu cầu
của tác giả, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc một cách
nhìn của người nước ngoài đối với kiến trúc cổ và
sinh hoạt tín ngưỡng ở nước ta .
Lễ
hội chùa Láng
Thỉnh
thoảng để tránh cơn buồn ngủ buổi trưa, tôi đi lang thang
đến tận chùa Láng, ở quận Đồng Đa (phía Tây Hà Nội).
Giống như những ngôi chùa khác, đây là nơi để tĩnh tâm.
Tín đồ phật tử tìm đến sự bình an cho tâm hồn, để
cuốn hút vào việc làm từ thiện, tìm sự thanh thản, quên
mình. Những người trẻ tuổi đến đây để học tập trong
yên tĩnh và cầu Phật độ trì cho được điểm cao trong kỳ
thi. Sinh viên trường Mỹ thuật tập vẽ ký họa.
Vào
ngày rằm và mồng một hằng tháng, tín đồ Phật giáo thường
đến đây. Khách du lịch cũng đến. Đôi khi ngay cả trong
bóng đêm dày đặc, những người trẻ tuổi luyện tập võ
thuật ở sân chùa.
Ở
Việt Nam, hầu như mỗi khu dân cư đều có những chùa thờ
Phật riêng. Việc xây dựng một ngôi chùa phải đáp ứng
một số điều kiện. Địa điểm phải linh thiêng, hơi cao
để tránh bị ngập lụt. Thông thường quanh chùa không có
dân cư sống tập trung. Chọn địa điểm cũng phải phù hợp
với yêu cầu phong thuỷ, đây là khoa chọn vị trí cho một
thành phố, một ngôi mộ hay một nhà ở, phải phù hợp với
quy luật của vũ trụ. Khái niệm về kiến trúc và cảnh quan
thiên nhiên phải được kết hợp với các tiêu chuẩn thẩm
mỹ, thiên văn đã được định sẵn.
Trong
khuôn viên chùa thường có một con suối hoặc một cái ao
rộng hay hẹp. Có cả một cái giếng. Đôi khi có một cái
ao hình bán nguyệt để tạo nên một sự thăng bằng nào đó
giữa âm dương. Nên nhớ rằng trục xây dựng của chùa nói
chung thường hướng về phía Nam hay phía Tây, Nam là hướng
của tâm linh, Tây là hướng của an tĩnh (...).
Một
chút lịch sử địa phương Chùa Láng nằm trên đất xã Láng
Thượng, cách trung tâm Hà Nội khoảng 7km. Tuy gọi là chùa
Láng, nhưng tên chữ là Chiêu Thiên tự, hay còn gọi là chùa
Cả. Quanh khu vực đó ta thấy có Viện Quan hệ quốc tế (IRI),
Trường Đại học Luật, Trường Đại học Ngoại thương,
Đại học Giao thông gần sát ngay Cầu Giấy.
Tất
nhiên trong chùa có tượng Phật, nhưng đặc biệt là tượng
Từ Đạo Hạnh (một trong những nhà sư nổi tiếng thời Lý,
sống ở Láng, nhưng tịch ở chùa Thầy) và cả tượng vua
Lý Thần Tông. Theo một số tác giả, chùa này được xây
dựng từ thế kỷ XII, dưới triều Lý Nhân Tông, trên mảnh
đất vốn của gia đình cha mẹ Từ Đạo Hạnh. Một số tác
giả khác phản bác ý kiến này mà nói rằng ngôi nhà nơi
sinh ra nhà sư là chùa Nền hiện nay (ở phía Tây Bắc chùa
Láng, cách 800 bước, nghĩa là đi bộ hết 10 phút), được
xây dựng trên nền nhà cũ của cha mẹ nhà sư nổi tiếng
đó
Theo
một số người khác, ngày 7 tháng 3 âm lịch năm 1996, chùa
kỷ niệm 900 năm tỏa sáng. Như vậy chùa được xây năm 1096.
Lại có người viết rằng chùa xây dưới thời Lý Anh Tông
(1135 - 1175) . Người khác còn viết rằng những kiến trúc
đầu tiên được dựng lên dưới triều Lý (1010 - 1225) mà
không nói cụ thể hơn
Toàn
bộ chùa ngày nay được xây lại năm 1666 , đã được trùng
tu lại nhiều lần, nhất là vào giữa thế kỷ XIX và đặc
biệt năm 1989, nhưng vẫn giữ lại kết cấu xưa.
Trong
những bia của chùa, đáng chú ý nhất là tấm bia lập năm
1656. Về mặt nghệ thuật và kiến trúc, đáng lưu ý là hai
chiếc cổng đồ sộ và ngôi đình bát giác.
Hãy
đi theo người hướng dẫn
Phải
đi tìm những mái nhà ẩn dưới các tán cây cổ thụ rậm
rạp. Khuôn viên của chùa là một hòn đảo yên tĩnh, biệt
lập, xa cách cái ồn ào chốn thị thành. Không có nhà gác
với lầu cao và lan can chạm trổ, không có những nóc nhọn
thếp vàng chọc thẳng lên trời. Ngôi chùa này hòa lẫn vào
cảnh quan, bao quanh có những ruộng rau, là nơi được coi là
đẹp nhất của thủ đô Việt Nam.
Nếu
khách hành hương hay tham quan đến từ đại lộ vành đai Láng
chạy dọc sông Tô Lịch (xưa kia buôn bán tấp nập, trên bến
dưới thuyền), thì phải đi qua cổng chùa đồ sộ, tiếc
rằng đang bị đổ nát. Một con đường đất, hai bên có
những ngôi nhà nhỏ, dẫn đến ngôi chùa cách khoảng 350 bước
chân người lớn.
Người
tinh mắt sẽ nhận thấy bên vệ đường hai tấm bia nhỏ bằng
xi măng khuất trong bụi cây và hoa lá, trước khi đến cổng
chùa. Tấm bia ghi bằng chữ Hán, nhắc nhở người qua đường
phải ngả nón, xuống ngựa, biểu thị sự tôn kính đối
với thần Phật! Hai tấm bia đó nằm bên phải và bên trái
cổng chính vào chùa, tấm thứ nhất cách 100 bước về phía
sông Tô Lịch, tấm thứ hai cách 80 bước về phía Viện Quan
hệ quốc tế.
Hai
con voi đắp bằng vôi vữa nằm phủ phục bên phải và bên
trái cổng tam quan, có mái che, yên bình chờ đợi nhà vua trở
lại cầu nguyện trong chùa (...).
Vườn,
gác chuông, tượng...
Tận
phía sau chùa, có một mảnh vườn với hai gác chuông thấp.
Một treo chuông, một treo khánh. Thỉnh thoảng các nhà tu hành
đọc kinh và điểm bằng những tiếng chuông, đánh bằng vồ
bằng gỗ.Trong một cái chậu đá giống như chiếc hòm thế
kỷ XII của Pháp (đáng tiếc là ngày nay đã được làm lại
bằng xi măng), người ta đốt tiền giấy, đốt những lá
sớ viết chữ Nho, để cúng cho những người đã trở về
với tổ tiên.
Rồi
còn có nhà thờ tổ, bên trong có tượng thờ Mẫu (Mẫu thiên,
Mẫu địa, Mẫu thủy), với nhiều pho tượng đẹp. Ở đây
có rất nhiều bát hương. Sự hiện diện của Mẫu, một tín
ngưỡng dân gian Việt Nam, được các nhà sư chấp nhận đưa
vào chùa để không xâm phạm đến truyền thống tín ngưỡng
bản địa.
Cuối
cùng có một ngôi nhà cất giữ nhiều gươm giáo và 13 tấm
bia khắc chữ Nho. Đấy là những bia gì? Những bài văn bia
có nói đến sự kiện gì quan trọng không? Không ai biết chính
xác. Bên ngoài có một hồ nước nhỏ, hình tròn, có tường
thấp bao quanh. Mặt hồ nổi lên những bông sen nở rộ.
Phía
sau chùa, du khách còn phát hiện thêm nhiều loại cây (như
tre, chuối, cây hoa đạị..), đấy là khu vườn tháp mộ,
với mười ngôi mộ các vị cao tăng, mà tiếc thay nhiều bài
minh trên mộ đã bị xoá mờ. Nếu không làm gì bây giờ thì
ngày mai ai còn biết được những vị cao tăng đó là ai và
công tích các vị đó như thế nào.
Ngày
hội lễ
Vào
những ngày rằm và mồng một, tín đồ và du khách, gồm cả
trẻ già, đến chùa rất đông để cầu nguyện, cúng lễ.
Bên trong điện thờ, một không khí thích hợp với việc tĩnh
tọa, các tín đồ đi từ ban thờ này đến ban thờ khác,
cắm những nén hương (bao giờ cũng là số lẻ) lên những
bát hương nhỏ. Không có tiếng ồn ào, sự yên tĩnh trang
nghiêm luôn được tôn trọng. Những ngày hội lễ, nhất là
vào những ngày đầu năm âm lịch, cạnh cổng tam quan người
ta bày bán hàng vàng mã, giấy bạc giả đô la Mỹ hay tiền
địa phương, để cúng cho tổ tiên đã khuất. Đấy là tục
lệ.
Khách
tham quan có lẽ sẽ ngạc nhiên, chùa Láng không phải là nơi
tu hành của các vị tăng. Chỉ có các ni sư. Tất cả có 5
vị do một sư bà đứng đầu.
Buổi
tối, khi thành phố Hà Nội đã yên nghỉ trong không khí nóng
bức, từ bên ngoài chùa, người ta nghe thấy tiếng đọc kinh
nhịp nhàng, thỉnh thoảng điểm những tiếng mõ tiếng chuông...
Đi
thăm chùa Láng đem lại cho ta một niềm mê say. Các phật tử
và du khách sẽ ngạc nhiên vì bố cục hài hòa và cân đối
của tổng thể các dãy nhà, đem lại cho nó một vẻ đẹp
kiến trúc vừa rộng lớn nhưng đơn sơ. Sự thanh thản của
nơi đây chỉ có thể làm nảy sinh những tình cảm tốt lành.
RENÉ
LE CLÈRE
Đ.H.
lược dịch