CHÙA
BÁO THIÊN
Bách
khoa toàn thư mở Wikipedia
Chùa
Báo Thiên, Bách Khoa Toàn Thư Mở
Giếng
Đá Cổ Chùa Báo Thiên, Văn Hoá Phật Giáo
Hà
Nội: Từ Chùa Báo Thiên Đến Nhà Thờ Lớn, Nguyễn An
Tiêm
Từ
Hoàng Sa, Trường Sa Đến Chùa Báo Thiên, Nhà Thờ Lớn Hà
Nội Và Tòa Khâm Sứ, TS. Lý Khôi Việt
Chùa
Báo Thiên và tháp Đại Thắng Tư Thiên, TS. Nguyễn Quốc
Tuấn
Giáo
hội Phật giáo Việt Nam lên tiếng về vụ đòi “Tòa khâm”,
HT. Thích Trung Hậu
Lịch
sử tang thương về chùa Báo Thiên ở Hà Nội xưa, Lê Quang
Vịnh

Chùa
Sùng Khánh Báo thiên (chùa Báo Thiên) và Bảo tháp Đại Thắng
Tự Thiên (tháp Báo Thiên) tọa lạc ở thôn Tiên Thị, huyện
Thọ Xương, (xưa gọi là phường Báo Thiên), gần hồ Lục
Thuỷ (hồ Gươm), bên ngoài thành Thăng Long. Khu vực này ngày
nay là Nhà thờ Lớn Hà Nội.
Vua
Lý Thánh Tông (1054-1072) đã cho xây dựng chùa vào năm Long
Thụy Thái Bình thứ 4 (1057)
Suốt
hai triều Lý-Trần gần 400 năm, chùa Báo Thiên là một ngôi
quốc tự nổi tiếng của kinh đô Đại Việt. Thời thuộc
Minh, năm 1426, tướng Vương Thông với chủ trương phá hoại
nền văn hoá bản xứ đã cho tiêu huỷ An Nam tứ đại khí
(4 bảo vật của nước Nam) là: Đỉnh tháp Đại Thắng Tự
Thiên, tượng Phật Quỳnh Lâm, chuông Diên Hựu (Quy Điền),
vạc Phổ Minh, lấy đồng đúc khí giới chống lại nghĩa
quân Lam Sơn.
Cho
tới thế kỷ XIX, chùa Báo Thiên luôn được trùng tu bảo
tồn, là nơi cử hành các nghi lễ Phật giáo cầu cho quốc
thái dân an mưa thuận gió hoà…
Năm
1883, thành Hà Nội bị thực dân Pháp đánh chiếm, sau đó
theo yêu cầu của Công sứ Bonnal, kinh lược Bắc Kỳ là tổng
đốc Nguyễn Hữu Độ đã giao khu chùa này cho Giám mục Puginier
phá đi để kiến tạo Nhà thờ chính toà Hà Nội.
Di
tích còn lại của chùa Sùng Chính Báo Thiên (Chùa báo Thiên)
là ngôi giếng đá cổ.
Giếng
đá này nằm trong ngõ của một nhà dân ở phố Nhà Chung,
thuộc phần đất nhà thờ cho giáo dân cư trú. Năm 2002 giếng
đá đã bị người dân cho đổ đất, cát lấp đầy. Việc
này được phát hiện và báo chí đưa tin. Báo Thanh Niên (số
288, ra ngày 14-10-2004) cho đăng bài: “Cần bảo vệ một giếng
đá cổ “, và báo nguyệt san Giác Ngộ, (số 104, tháng 11-2004)
cho đăng bài: “Giếng cổ chùa Báo Thiên”... Sau khi báo đưa
tin các vị thẩm quyền của nhà thờ chính toà Hà Nội đã
cho khai quật giếng cổ ấy lên, di chuyển vào đặt trước
hang đá bên trong khuôn viên nhà thờ.
GIẾNG
ĐÁ CỔ CHÙA BÁO THIÊN "của tin" CÒN LẠI
Văn
hóa Phật giáo
Trong
bộ sách Những kỷ lục Việt Nam do Công ty Cổ phần Sách
Niên giám Việt Nam (VIETBOOKS) và NXB Thông Tấn thực hiện đã
ghi nhận: Giếng đá cổ nhất Việt Nam hiện nằm trong khuôn
viên chùa Phúc Lâm, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, ngoại thành
Hà Nội. Giếng đá này đã trên 600 năm tuổi và được các
nhà khảo cổ học đánh giá là giếng đá cổ nhất Việt
Nam hiện nay.
Sở
dĩ có kết luận này, vì theo các nhà nghiên cứu: “chùa Phúc
Lâm được thành lập vào năm 1224, thời nhà Lý, đến nay
đã gần 800 năm. Đặc biệt, căn cứ vào các vết tích người
xưa khi dùng dây kéo nước, trên thành miệng giếng hiện còn
để lại những rãnh đá mòn lõm sâu, có thể đặt vừa cả
ngón tay. Giếng đá cổ được xây bằng những tảng đá nguyên
khối, phần cổ giếng được tạo bởi 2 khối đá cao 30cm,
đường kính của giếng khoảng 80cm. Dưới bàn tay khéo léo
tài tình của những người thợ xưa, giếng đá cổ được
xây rất đẹp và vững chắc. Chính vì thế, qua thăng trầm
của thời cuộc, giếng đá cổ vẫn tồn tại vững vàng như
một biểu tượng về văn hoá, lịch sử của đất Hà Thành”
(1).
Và
điều này cũng đã được ông Chu Minh Khôi khẳng định lại
trong bài viết “Những giếng chùa độc đáo”, đăng trên
tạp chí Văn Hoá Phật Giáo số 22, ra ngày 15 tháng 11 vừa
qua (2).
Để
cùng trao đổi và góp phần xác định niên đại của những
giếng đá cổ tại Việt Nam, chúng tôi xin cung cấp một số
thông tin về một giếng đá cổ khá độc đáo mà từ bấy
lâu chúng ta đã vô tình bỏ quên: Giếng đá cổ chùa Báo
Thiên.
Dưới
triều vua Lý Thánh Tông (1054-1071), năm Long Thuỵ Thái Bình
thứ 4 (1057), vua cho xây dựng chùa Sùng Khánh Báo thiên và
bảo tháp Đại Thắng Tư Thiên gần hồ Lục Thuỷ (hồ Gươm),
bên ngoài thành Thăng Long. Suốt hai triều Lý-Trần gần 400
năm, chùa Báo Thiên là một ngôi quốc tự nổi tiếng của
kinh đô Đại Việt. Thời thuộc Minh, năm 1426, tướng giặc
Vương Thông với chủ trương phá hoại nền văn hoá bản xứ
đã cho tiêu huỷ An Nam tứ đại khí (4 bảo vật của nước
Nam): Đỉnh tháp Đại Thắng Tư Thiên, tượng Phật Quỳnh
Lâm, chuông Diên Hựu (Quy Điền), vạc Phổ Minh, lấy đồng
đúc khí giới chống lại nghĩa quân Lam Sơn.
Qua
thời Lê-Nguyễn (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX), chùa Báo
thiên luôn được trùng tu bảo tồn, là nơi cử hành các nghi
lễ Phật giáo cầu cho quốc thái dân an mưa thuận gió hoà…
Năm
1883, thành Hà Nội bị thực dân Pháp đánh chiếm, sau đó
Giám mục Puginier câu kết với Công sứ Bonnal và gian thần
Nguyễn Hữu Độ chiếm đoạt chùa Báo Thiên để kiến tạo
nhà thờ chính toà Hà Nội. Từ đó, một biểu tượng văn
hoá của kinh đô Thăng Long, niềm hãnh diện chung của dân
tộc Việt dần dần bị chìm vào quên lãng!
Năm
1985, nhân một chuyến tham quan Hà Nội, chúng tôi tình cờ
bắt gặp ngôi giếng đá cổ ấy nằm trong ngõ của một nhà
dân ở phố Nhà Chung, thuộc phần đất nhà thờ cho giáo dân
cư trú lâu nay. Cuối năm 2002, khi ra Hà Nội tham dự Đại
hội đại biểu Phật giáo toàn quốc, chúng tôi một lần
nữa quay lại tìm thăm giếng đá cổ, nhưng rất tiếc giếng
đá đã bị người dân cho đổ cát lấp đầy. Lo ngại một
di tích quý có thể vô tình bị phá huỷ, tôi và nhà báo Giao
Hưởng có viết bài: “Cần bảo vệ một giếng đá cổ”
(Phú Xuân – Tây Tạng, báo Thanh Niên số 288, ra ngày 14-10-2004)
và bài: “Giếng cổ chùa Báo Thiên” (TĐS, nguyệt san Giác
Ngộ, số 104, tháng 11-2004). May thay, sau hai bài báo ấy, các
vị thẩm quyền của nhà thờ chính toà Hà Nội đã cho khai
quật giếng cổ ấy lên, di chuyển vào đặt trước hang đá
bên trong khuôn viên nhà thờ.
Nhận
xét:
Sau
khi được khai quật lên, chúng ta thấy giếng đá cổ gồm
hai phần:
- Cổ
giếng là một khối đá tròn, tạo dáng thắt cổ bồng như
lư hương. Miệng giếng hơi bóp vào, đường kính lọt lòng
64cm. Phần thân dưới phình ra, chạm hoa hình cánh sen 2 lớp,
đường kính phủ bì 88cm. Bên trong miệng giếng có rất nhiều
rãnh mòn do người xưa dùng dây kéo nước tạo nên.
- Cổ
giếng đặt khít khao trên một bệ đá tám cạnh nguyên khối.
Bệ giật cấp phân ô, có chạm hoa văn rồng và mây ở gờ
trên, hoa lá ở eo giữa, chân choải ra chạm đầu như ý (phần
này trước đây bị chôn vùi dưới đất nên không thấy được).
Chiều cao của giếng cổ là 60cm.
Khi
so sánh giếng đá cổ chùa Phúc Lâm với giếng đá cổ chùa
Báo Thiên, chúng ta thấy:
Về
niên đại:
- Chùa
Báo Thiên được kiến tạo dưới triều vua Lý Thánh Tông,
năm Long Thuỵ Thái Bình thứ 4 (1057). Thời điểm này thuộc
giai đoạn cực thịnh của triều Lý, đất nước Đại Việt
phát triển toàn diện.
- Chùa
Phúc Lâm xây dựng vào cuối thời Lý, năm 1224.
Về
mỹ thuật:
- Giếng
đá cổ chùa Phúc Lâm có hình thức đơn giản, phù hợp với
cảnh chùa làng quê, dân dã.
- Ngược
lại, với giếng đá cổ độc đáo của chùa Báo Thiên, ai
cũng phải thừa nhận nó đạt đến trình độ kỹ thuật
lẫn mỹ thuật rất cao, chưa có cái nào khác sánh bằng. Sở
dĩ như thế vì đây là giếng đá của một ngôi quốc tự
danh tiếng bậc nhất kinh đô. Chùa tháp Báo Thiên là đỉnh
cao của mỹ thuật kiến trúc Phật giáo. Theo sử sách ghi chép,
ngôi chùa này đặc biệt có rất nhiều tự khí, tượng thờ
bằng đá to lớn tuyệt đẹp.
Thay
lời kết:
- Kỷ
niệm 1.000 năm Thăng Long sắp đến, rất mong các cơ quan có
thẩm quyền về văn hoá, tư tưởng; quý vị giáo phẩm lãnh
đạo tôn giáo – Phật giáo, Thiên Chúa giáo; các nhà khảo
cổ, các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hoá, mỹ thuật… cùng
hợp tác, quan tâm đến giếng đá cổ chùa Báo Thiên, công
nhận đây là một cổ vật thuộc hàng quốc bảo của nước
ta cần được bảo tồn.
- Và
mong sao, chúng ta sớm có kế hoạch di chuyển giếng đá cổ
chùa Báo Thiên đến tôn trí ở một vị trí thích hợp, để
vừa bảo tồn vừa để cho quần chúng nhân dân thuận tiện
tham quan, chiêm ngưỡng. Hoặc đưa giếng đá cổ về Bảo
tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội, bên cạnh các cổ vật
bằng đá thuộc thời đại Lý – Trần.
Trải
qua gần 1.000 năm, biết bao biến động lịch sử, ngoại xâm
nội chiến, cuồng tín hận thù mà giếng đá Báo Thiên vẫn
tồn tại, thật là điều kỳ diệu! Nó xứng đáng được
vinh danh là cái giếng đá Việt Nam cổ xưa nhất, đẹp nhất,
còn hoàn chỉnh nhất để làm biểu tượng văn hoá, lịch
sử của vùng đất thiêng Thăng Long – Hà Nội.
Đó
chính là “của tin” còn lại của cả dân tộc, chẳng của
riêng ai…
Xin
đừng để mai một mà có tội lớn với tiền thân và hậu
thế.
(1)
Xem tập 3, tr.12-13, VB.KLVN, 9-2004.
(2)
Tạp chí Văn hoá Phật Giáo, số 22, ra ngày 15/11/2006, tr.13-14.
Tham
khảo:
-
Lịch sử Thủ đô Hà Nội (Trần Huy Liệu chủ biên, NXB Hà
Nội, 2000).
-
Hà Nội giai đoạn 1873-1888) (André Masson biên soạn, Lưu Đình
Tuân biên dịch, NXB Hải Phòng, 2003).
HÀ
NỘI: TỪ CHÙA BÁO THIÊN ĐẾN NHÀ THỜ LỚN
Nguyễn
An Tiêm
KHỞI
HÀNH, năm thứ XI - số 122 – tháng 12.2006 (Midway City, California
- USA) xin được là một lời nhắc nhở, và cũng là một cảnh
báo, cho những ai còn nặng lòng với sự sống còn văn hóa
của dân tộc ta.
Chùa
Báo Ân và Nhà Thờ Lớn Hà Nội (nhà thờ Saint Joseph) chụp
lại trên bưu thiếp in năm 1905, do bác sĩ Ch. E. Hocquard chụp
vào khoảng 1884-1885. Chùa Báo Thiên, chùa Báo Ân … bị Pháp
tàn phá trong khoảng thời gian ngay sau khi chụp, hoặc môt hai
năm kế tiếp. Nhà thờ lớn Hà Nội xây trên nền chùa Báo
Thiên cũ. Hình và chú thích của Nguyễn An Tiêm, Khởi Hành.
¨
- Nhà
thờ lớn Hà Nội có từ bao giờ?
- Nhà
thờ lớn Hà Nội hay nhà thờ Saint Joseph bắt đầu xây từ
năm 1884, khánh thành ngày 24.12.1986.
- Đất
xây nhà thờ St Joseph là đất công hay đất tư?
- Tại
địa điểm này, năm 1057, thế kỷ XI, vua Lý Thánh Tông cho
khởi công xây tháp Đại Thắng Tư Thiên, gọi tắt là
Tháp Báo Thiên, thuộc nền Chùa Sùng Khánh, hay Chùa Báo Thiên,
kinh đô Thăng Long. Theo nhiều tài liệu khác nhau thì trong khi
Tháp Báo Thiên bị phá để xây Nhà thờ lớn thì Chùa Báo
Ân cũng bị phá để xây Nhà Bưu Điện Hà Nội. Cả hai ngôi
chùa này đều là hai chùa lớn bên hồ Hoàn Kiếm.
- Có
tài liệu nào viết về vụ phá chùa để xây cất nhà thờ
này không?
- Có.
Gần nhất là một bản tin trong Thời Sự Khởi Hành số 66,
tháng 4.2002 (số báo đặc biệt in màu nguyên hai trang KH Bản
Đồ Việt Nam 1838 là năm lúc Pháp chưa đánh chiếm Việt Nam.)
Xin
trích dẫn lại như sau:
“Thực
dân Pháp cũng như bọn bành trướng phương Bắc luôn luôn
muốn hủy diệt văn minh sông Hồng (cái nôi của Việt Nam),
bằng cách này hay cách khác, kể cả việc o bế, bắt tay với
các bộ lạc sau lưng miền Bắc, sau lưng các triều đại giòng
dõi Hai Bà, Phùng Hưng, Ngô Quyền, Lý Trần Lê, … [là các
triều đại đã nổi lên dựng nền độc lập cho V.N.] để
chọc vào cạnh sườn Phong Châu, Tản Viên, lấp sông Tô Lịch,
đổi dòng sông Hồng, sông Bạch Đằng … và phá Hòn Vọng
Phu ở Đồng Đăng, xiết nợ Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc …[Không
phải vô tình mà cả Giang Trạch Dân lẫn Hồ Cẩm Đào (tháng
11.06) khi đến Việt Nam đã đáp xuống Đà Nẵng, xuống bơi
ở China Beach Đà Nẵng]...
“Đọc
lại sách vỡ cũ, người Việt yêu nước Việt thở dài: biết
bao đền đài kiến trúc cổ bị phá sập, … như ngôi chùa
Báo Thiên nguy nga và tôn nghiêm ở thủ đô Thăng Long đã bị
giám mục Puginier chọn, và trên đó mọc lên một nhà thờ
công giáo.
“Trong
bài nói về vai trò của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp với
các di tích lịch sử Thăng Long, viết bởi France Mangin, có
đọan sau đây của André Masson (Hà Nội dưới thời kỳ chinh
phục 1873-1888):
“Phải
hủy ngối chùa và chiếm đất vào cái thời gọi là chinh
phục mà chúng ta đã trải qua đó, nhìn bề ngoài thì không
có gì dễ dàng bằng, nhưng tôi cảm thấy một sự ghê tởm
nào đó khi phải lạm dụng quyền lực một cách như vậy.”
“Bài
báo viết: “Sự đắn đo của ông Bonal đã được xoa dịu
nhờ sự giúp đỡ của tổng đốc Nguyễn Hữu Độ và những
trở ngại trong việc phá dỡ ngôi chùa đã được giải quyết
nhanh chóng … Tiếp đó miếng đất đã được cho không Đoàn
Truyền Giáo, và ông Bonal đã “hài lòng giao lại cho vị giám
mục giấy tờ chính thức xác nhận quyền sỡ hữu (miếng
đất).”
“Giám
mục Puginier mở cuộc Xổ Số lấy tiền xây ngôi nhà thờ
trên nền Chùa Báo Thiên, và hoàn thành ngôi nhà thờ năm 1886:
đó là Nhà Thờ Lớn hiện nay tại Hà Nội.”
Thấy
việc này thành công, trong những năm tiếp theo, nhiều ngôi
chùa khác tại Hà Nội bị phá hủy: chùa Táo (xây vào thế
kỷ X, chùa Liên Trì (hay chùa Báo Ân, xem hình) đền Huyền
Trân (xây thế kỷ XVI)...” [Phần dịch bài của France Mangin
là của Đào Hùng.]
- Được
gọi là một trong “tứ đại khí” của Việt Nam, tháp Báo
Thiên như thế nào, và vì sao nay không còn nữa?
- Tháp
Báo Thiên cao 20 trượng, gồm 12 tầng, ngọn bằng đồng hình
tựa ngọn núi, cao chót vót trên nền trời Thăng Long. Tháp
được xếp vào một trong bốn Đại Nam Tứ Khí, bốn vật
báu của đất nước; mà ba (kiến trúc điêu khắc) qúi giá
khác là chùa Quỳnh Lâm, vạc Phổ Minh, và chuông Quy Điền.
Sự tích tháp Báo Thiên đã được hai danh sĩ Phạm Đình Hổ,
Nguyễn Án viết như sau trong sách Tang Thương Ngẫu Lục:
“Cây
Tháp Đại Thắng Tư Thiên tại chùa Báo Thiên dựng từ đời
vua Lý Thái Tông (1054-1072). Tháp này xây 12 tầng, cao mấy chục
trượng … Khoảng năm Tuyên Đức nhà Minh, Đức Thái Tổ
Hoàng đế tiên triều [Lê Lợi] tiến binh vây Đông Đô. Viên
quan giữ thành là Thành-sơn-hầu Vương Thông phá hủy cây
tháp [lấy vật liệu] chế ra sung đồng để giữ thành [1414].
Tiên triều nhân nền cũ, đắp các núi đất phủ lên trên
… Năm Giáp dần [1791] lại cho đào lấy những gạch đá ở
nền tháp cũ để tu bổ thành lũy Thăng Long. Khi phá nền tháp
thấy có tám pho tượng Kim Cương chia ra đứng bốn cửa, ngoài
ra còn có tượng người tiên, chim muông, cả đến những giường
ghế, chén bát, các thứ lặt vặt khác không kể xiết, toàn
bằng đá.
Những
hòn gạch hoa, hòn nào cũng thấy khắc những chữ “Lý gia
đệ tam đế, Long thụy Thái Bình [1054-1058], tứ niên tạo,”
tức là “Đúc trong năm thứ tư niên hiệu Long thụy Thái
Bình đời vua thứ ba triều nhà Lý.”
- Có
sử sách gì khác viết về Tháp Báo Thiên không?
- Có.
Nhà thơ Phạm Sư Mạnh (thế kỷ XIV), người Hải Dương, tiến
sĩ đời vua Trần Minh Tông [1314-1329], người cực kỳ hay chữ,
đã làm bài thơ như sau về Tháp Báo Thiên:
Trấn
áp đông tây củng đế kỳ
Khuy
nhiên nhất tháp độc nguy nguy
Sơn
hà bất động kình thiên bút
Kim
cổ nam ma lập địa chùy
Phong
bãi chung linh thời ứng đáp
Tinh
di đăng chúc dạ quang huy
Ngã
lai dục tủy đề thi bút
Quản
lãnh xuân giang tác nghiễn trì.
Nhà
thơ Vô Ngã Phạm Khắc Hàm thoát dịch như sau trong tập Thơ
Văn Lý Trần mà ông đang biên soạn:
ĐỀ
THÁP BÁO THIÊN
Trấn
áp đông tây giữ đế kỳ
Một
mình cao ngất tháp uy nghi
Chống
trời cột trụ non sông vững
Sừng
sững ngàn năm một đỉnh chùy
Chuông
khánh gió đưa vang đối đáp
Đèn
sao đêm đến rực quang huy
Đến
đây những muốn lưu danh tính
Mài
mực sông xuân viết ngẫu thi.
Các
tài liệu sau này cũng có, song chỉ có tính cách địa dư chí.
Ví dụ, trong Từ điển đường phố Hà Nội của Đại Học
Hà Nội xuất bản có cho biết rằng Chùa Báo Thiên thuộc
thôn Báo Thiên, tổng Tiên Túc, (sau đổi là tổng Thuận Mỹ),
huyện Thọ Xương. Sách này viết:
“Nền
nhà thờ hiện nay nguyên là nền đất chùa Báo Thiên rất
nổi tiếng, ở đây có ngôi tháp gọi là Tháp Báo Thiên. Ngoài
ra tại phố này (Phố Nhà Thờ, Avenue de la Cathédrale), còn
có một ngôi chùa cổ, là Chùa Bà Đá. Tương truyền vào đời
Lê Thánh Tông ở thôn Báo Thiên Tự có một người đào được
một pho tượng Phật Bà bằng đá. Người đó liền lập một
miếu nhỏ để thờ. Sau dân làng thấy thiêng mới xây thành
ngôi chùa và gọi là chùa Bà Đá, tên chữ là Linh Quang Tự.
Pho tượng đã bị mất trong một vụ cháy thời Pháp thuộc.”
Nguyễn
An Tiêm
Tài
liệu tham khảo:
Nguyễn
Bá Lăng: Chùa Xưa Tích Củ, Lá Bối, S. Di.,1988; Kiến Trúc
Phật Giáo Việt Nam, Hoa Cau,1989.
Phạm
Ðình Hỗ-Nguyễn Án: Tang Thương Ngẫu Lục, Sài gòn, 1962.
Trần
Văn Giáp: Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam, Hà nội, 1962.
Nguyễn
Khắc Cần: - Nguyễn Ngọc Ðiệp: Encyclopedia, Hà Nội,
Việt Nam, 2000.
Nguyễn
Hoài - Nguyễn Loan - Nguyễn Tuệ: Từ Ðiển Ðường Phố Hà
Nội, 2000.
Tô
Hoài, Nguyễn Vĩnh Phúc: 1000 năm Thăng Long, Hà Nội, 2000
Charles
Edouard Hocquard: Các Carte Postales về
Tonkin, 1884-1885. Ðào Hùng, Tạp chí Xưa và Nay, 2002
TỪ
HOÀNG SA, TRƯỜNG SA ĐẾN CHÙA BÁO THIÊN,
NHÀ THỜ LỚN
HÀ NỘI VÀ TOÀ KHÂM SỨ
TS.
Lý Khôi Việt
.../....
Chùa Báo
Thiên :
Trung
Hoa là một nước lớn, với rất nhiều công trình vĩ đại,
như Vạn Lý Trường Thành, dài 8.000 cây số, như Tử Cấm
Thành có 9.999 phòng, nên người Hoa chắc đều thấy nước
Việt ta là một nước nhỏ và không có cái gi vĩ đại để
ca ngợi. Thế nhưng từ ngàn năm trước Trung Hoa đã nói đến
An Nam Tứ Đại Khí, đó là bốn công trình Phật giáo tại
Việt Nam, mà công trình lớn nhất, vĩ đại nhất là tháp
Báo Thiên, đựơc xây năm 1057 dưới đời Lý Thánh Tông, trên
bờ hồ Lục Thủy ở về phía Đông Nam kinh thành Thăng Long,
mà hiện nay là nhà thờ lớn Hà Nội và tòa Khâm Sứ.
Tháp
này vốn là tháp "Đại Thắng Tử Thiên Bảo Tháp" của chùa
Sùng Khánh Báo Thiên, sau nhân gian quen gọi tắt là tháp Báo
Thiên. Cả chùa Báo Thiên và tháp Báo Thiên đều vào loại
cực lớn, riêng tháp Báo Thiên là một công trình nghệ thuật
kỳ vĩ. Tháp cao vài chục trượng (80 met) gồm 12 tầng, trong
tháp trang trí nhiều tượng bằng đá rất tinh xảo. Tháp đã
cao lại xây trên một gò đất nên càng thêm cao. Từ xa mấy
chục cây số, người ta đã thấy đỉnh tháp Báo Thiên cao
vút mây trời. Tháp hùng tráng, vĩ đại như vậy nên chùa
Báo Thiên đương nhiên cũng nguy nga, tráng lệ. Có thể nói
: tháp và chùa Báo Thiên là di sản văn hóa tối thượng của
quốc gia Đại Việt ta. Nhân gian có một câu hát ca ngợi
tháp Báo Thiên:
"Mênh
mong biển lúa xanh rờn.
Tháp
cao sừng sững trăng vờn bóng cau.
Một
vùng phong cảnh trước sau.
Bức
tranh thiên cổ, đượm màu giang sơn".
Nhà
thơ Phạm Sư Mạnh đời Trần cũng ca ngợi tháp Báo Thiên:
"Trấn
áp đông tây cũng đế kỳ.
Khung
nhiên nhất tháp độc nguy nguy"
(Trấn
đông tây, giữ vững kinh đô.
Vút
cao một tháp đứng giữa trời).
Thế
nhưng năm 1883, thực dân Pháp và giám mục người Pháp là
Pugier đã cưỡng chiếm và phá huỷ chùa Báo Thiên để
xây nhà thờ Joseph mà nay gọi là nhà thờ Lớn Hà Nội. Trong
khuôn viên của chủa Báo thiên cũng có xây thêm tòa Khâm Sứ,
tức trụ sở của vị khâm sứ đại diên cho quốc gia Vatican
(Riêng tháp Báo Thiên nguyên thủy thì đã bị giặc Tàu phá
hủy khi chúng sang xâm chiếm trước ta vào năm 1414).
Như
vậy, một sự thật lịch sử được khẳng định là Phật
Giáo Việt Nam là chủ nhân liên tục của chùa Báo Thiên,
và tháp Báo Thiên suốt 828 năm, tính từ khi được xây dựng
năm 1057 đến khi bị thực dân Pháp và Vatican cưỡng chiếm
năm 1883. Với lịch sử hiện diện trong lòng kinh thành Thăng
Long suốt 826 năm, chùa Báo Thiên đương nhiên là di sản văn
hóa hàng đầu của quốc gia Việt Nam.
Vấn
đề đặt ra ở đây là :
- Sự
chiếm đoạt chùa Báo Thiên của Vatican vào năm 1883, với sự
hổ trợ của thực dân Pháp, trong thời gian Việt Nam bi thực
dân Pháp độ hộ, có giá trị pháp lý gì không?
- Công
lý và luật pháp của một nước Việt Nam độc lập, văn
minh, phải xét xử và quyết định như thế nào đối với
sự cưỡng chiếm phi pháp và bất công chùa Báo Thiên của
Phật Giáo, đồng thời cũng là cưỡng chiếm một di sản
văn hóa cấp quốc gia của dân tộc Việt Nam?
..../....
II.
CÔNG LÝ VÀ LUẬT PHÁP ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP
CHÙA BÁO THIÊN, NHÀ THỜ LỚN HÀ NỘI, VÀ TÒA KHÂM SỨ
Việt
Nam không phải là nước vô chủ. Từ hàng ngàn năm nay, người
Việt đã là chủ nhân trên lãnh thổ Việt Nam. Cuộc khởi
nghĩa của Hai Bà Trưng vào đầu thế kỷ thứ nhất và tuyên
ngôn độc lập "Nam quốc sơn hà Nam đế cư" trong thế kỷ
11 cùng nhiều cuộc đấu tranh kiên cường để bảo
vệ độc lập và giành lại độc lập của Việt Nam
trong suốt hơn 2.000 năm qua đã khẳng định chân lý này. Sự
xâm lăng và chiếm đóng Việt Nam của thực dân Pháp, kể
từ đầu thập niên 1860, đến năm 1954, cùng mọi sự thủ
đắc bất cứ bất động sản có chủ nào, do sự đe
dọa, hay xử dụng võ lực, hay dùng mưu mô, thủ đọan, dựa
trên sự cấu kết với thực dân Pháp, đều là bất hợp
pháp.
Công
lý tối thiểu, một khi nước nhà đã giành lại được độc
lập, là ban hành một đạo luật tuyên bố những sự
chiếm hữu như thế là bất hợp pháp, và tịch thu và hoàn
trả lại những bất động sản này cho người chủ nhân thật
sự trước khi bị thực dân Pháp và tay sai cướp đoạt
một cách bất công và phi pháp.
Chùa
Báo Thiên là một tài sản của Phật giáo Việt Nam, không
những thế còn là một di sản văn hóa và tâm linh linh thiêng,
vào hàng bật nhất, của quốc gia Việt Nam. Phật giáo Việt
Nam đã làm chủ bất động sản này một cách liên tục trong
suốt 826 năm. Việc hoàn trả lại cho Phật giáo chùa Báo Thiên
là thực thi công lý tối thiểu cho Phật giáo của một quốc
gia Việt Nam có chủ quyền, có công lý và có luật pháp nghiêm
minh.
Không
những Giáo hội Công giáo Việt Nam và chính quyền Việt Nam,
phải hoàn trả lại khu bất động sản, trong đó hiện nay
là nhà thờ Lớn Hà Nội và tòa Khâm sứ, mà Giáo hội Công
giáo Việ Nam còn phải bồi thường cho Phật giáo về những
thiệt hại phát sinh từ sự chiếm đọat và đập phá chùa
Báo Thiên vào năm 1883, và những thiệt hại khác do Phật giáo
bị tướt đoạt một cách bất công và phi pháp quyền làm
chủ và quyền xử dụng chùa Báo Thiên trong suốt 125 năm qua.
Việc
này, từ khi nước nhà độc lập từ năm 1945 đến nay,
chưa hề có.
Giáo
hội Công giáo Việt Nam hiện nay là người thừa kế của
Hội Thừa Sai Pháp. Nguyên tắc căn bản của luật thừa kế,
áp dụng cho cá nhân, đoàn thể và quốc gia, đồng thời cũng
áp dụng trong luật quốc tế và trong luật của các nước,
là chủ thể thừa kế đựơc hưởng những quyền lợi, là
thừa hưởng những tài sản, và đồng thời phải có trách
nhiệm là phải gánh chịu những nợ nần của chủ thể đã
qua đời hay không còn tồn tại. Trong luật gọi là những
tích sản và những tiêu sản.
Chủ
thể thừa kể không thể chỉ nhận lãnh những tích sản,
và chối bỏ không nhận lãnh những tiêu sản. Giáo hội Công
giáo Việt Nam đã và đang thừa hưởng trọn vẹn tất
cả tài sản, nhất là những bất động sản, của Hội Thừa
Sai Pháp, cụ thể nhất là hiện Giáo hội này đang thừa hưởng
một nhà thờ, gọi là nhà thờ Lớn, và cũng đang đòi hỏi
một cơ sở khác, gọi là tòa Khâm Sứ, trên lô đất mà suốt
826 năm thuộc về chùa Báo Thiên của Phật giáo Việt Nam.
Nên giáo hội này cũng phải chịu trách nhiệm đối với
sự cướp đoạt bất công và phi pháp chùa Báo Thiên năm 1883
của giám mục Puginier thuộc Hội Thừa Sai Pháp, với sự cấu
kết của thực dân xâm lăng và những kẻ Việt gian tay sai.
Kẻ
cướp đất chùa Báo thiên năm 1883 là giám mục Puginier, ông
này mấy năm sau đó, đế đáp lại món quà mà thực dân Pháp
đã ban thưởng cho ông là lô đất của chủa Báo Thiên,
nơi có vị trí đẹp vào bậc nhất Hà Nội, đã đem 5.000
giáo dân (người Việt Nam) cùng với quân Pháp tấn công chiến
lũy Ba Đình của anh hùng dân tộc Đinh Công Tráng. Ba Đình
thất thủ, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân
dân Việt Nam sụp đổ. Trước đó, tổng đốc thành Hà Nội,
và cũng là anh hùng dân tộc Nguyễn Tri Phương đã nhịn ăn
để chết vì nước, trước khi mất, ông đã mắng vào mặt
tên giám mục Puginier đến giở trò đạo đức giả để dụ
hàng ông: "Hẳn rằng ông đã hài lòng lắm, vì nhờ sự tiếp
tay của ông, và những lời cố vấn của ông mà lũ ăn cướp
người Pháp đã cướp mất xứ Nam Kỳ của chúng tôi, và
rồi chúng sẽ còn cướp nốt xứ Bắc kỳ nữa" (Le Tonkin,
Paris, 1888).
****
Việt
Nam bị Tàu xâm lăng, đô hộ hơn 1.000 năm, nhưng đã vùng
lên đánh đuổi quân cướp nước ra khỏi bờ cõi. Cho nên
ngày nay dù Trung Quốc đã chiếm đóng một cách bất hợp
pháp quần đảo Hòang Sa suốt 34 năm qua, và một phần của
quần đảo Trường Sa, từ năm 1988, nhưng đều này không có
nghĩa là Việt Nam sẽ không có ngày lấy lại quyền làm chủ
chính đáng, hợp pháp của mình.
Cũng
vậy, tuy chùa Báo Thiên đã bị cướp đọat một cách bất
công, phi pháp trong suốt 125 năm qua bởi giám muc thực dân
Puginier thuộc Hội Thừa Sai Pháp, và tiếp tục bị chiếm
đọat bởi kẻ thửa kế của Hội thừa Sai Pháp là Giáo hội
Công giáo Việt Nam. Nhưng điều này không có nghĩa là công
lý sẽ không có ngày phục sinh trên quê hương Việt Nam.
Giáo
Hoàng John Paul II đã thú nhận bảy núi tội lỗi của đạo
Thiên Chúa giáo La Mã trong 2.000 năm qua đối với nhân lọai,
trong đó có tội đi truyền đạo bằng bạo lực. Trên
con đường truyền đạo bằng máu và nước mắt này Vatican,
Hội Thừa Sai Pháp và những chủ thể thừa kế tại các quốc
gia địa phương đã cướp giựt, chiếm đọat bất công,
phi pháp rất nhiều bất động sản của các tôn giáo khác,
đây cũng là những di sản văn hóa của các dân tộc mà Vatican
muốn hủy diệt để xóa bỏ bản sắc văn hóa đặc thù của
các dân tộc hầu dễ dàng nô lệ hóa nhân dân các nước,
nhất là ở châu Mỹ La tinh, châu Phi và châu Á. Việt Nam là
một bằng chứng điển hình, nổi bật nhất. Và chùa Báo
Thiên, nhà thờ Lớn Hà Nội, và tòa Khâm Sứ là một lời
tố cáo những núi tội lỗi đối với Phật giáo và dân tộc
Việt Nam của Vatican, của Hội Thừa Sai Pháp và của Giáo
Hội Công giáo Việt Nam một cách sống động, hùng hồn nhất.
Hôm
nay công lý lịch sử đang lên tiếng. Sẽ có một ngày công
lý pháp luật sẽ đựơc thi hành. Chùa Báo Thiên, bị giặc
Tây phá hủy từ năm 1883, và tháp Báo Thiên, bị giặc Tàu
phá hủy từ năm 1414 sẽ vươn cao trên bầu trời Thăng Long
như trong thời đại Lý Trần vinh quang.
Lễ
hội chùa Báo Thiên, một trong những lễ hội lớn nhất
tại kinh thành Thăng Long, sẽ trở về như đã trở về
mỗi năm trong tháng giêng, ngày Tết, suốt 826 năm từ thời
vua Lý Thánh Tông năm 1057 đến năm 1883, năm giáo sĩ thực
dân Puginier phá hủy chùa Báo Thiên cổ kinh, linh thiêng và
khi đó vẫn còn nguy nga, bề thế, như bức hình chụp năm
1883 cho thấy.
Sẽ
có một ngày, tiếng đại hồng chung 12.000 cân của chùa Báo
Thiên sẽ vang dội cả kinh thành Thăng Long. Và ngày đó mới
xứng đáng là ngày kỷ niệm Một Ngàn Năm Thăng Long,
Một Ngàn Năm Rồng Bay.
Chính
sử ghi rằng năm 1057 vua Lý Thánh Tông đã phát 12.000 cân đồng
để đúc chuông chùa Báo Thiên. Kích thước của chuông chùa
thường tương ứng với kích thước của ngôi chùa. Chùa Thiên
Mụ tại Huế có đại hồng chung nặng hơn 3.000 cân, và đây
là một ngôi chùa lớn nhất, tráng lệ nhất miền Trung khi
đựơc trùng tu trong thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Chuông chùa
Báo Thiên nặng và lớn gấp bốn lần chuông chùa Linh Mụ
thì ta có thể ước đoán là chùa Báo Thiên nguyên khởi, khi
được xây dưới thời vua Lý Thánh Tông, lớn lao, hùng tráng
gấp vài ba lần chùa Linh Mụ, nghĩa là đây là ngôi chùa lớn
nhất của Việt Nam trong thời hưng thịnh nhất của Việt
Nam, thời Lý Trần từ đầu thế kỷ 11 đến cuối thế kỷ
14.
Sau
khi đánh đuổi quân Minh, vua Lê Lợi đã đến hồ Lục
Thủy trả lại gươm thần cho rùa thần, từ đó nhân dân
gọi hồ Lục thủy là hồ Hoàn Kiếm. Khi đó tháp Báo Thiên
đã không còn, giặc Minh vừa phá tháp để làm công sự thành
thủ, trước khi chúng đầu hàng rút chạy về Tàu. Khi đó
chuông chùa Báo Thiên cũng không còn, vì giặc Minh đã nấu
chuông lấy đồng làm binh khí. Cũng từ đó thời đại quân
chủ Phật giáo Lý Trần vẻ vang suốt bốn thế kỷ đã không
còn, và đất nước bắt đầu thời đại quân chủ Nho giáo.
Và Việt Nam bắt đầu chu kỳ suy tàn, tan rã, yếu hèn, sa
đọa.
Chủ
đạo văn hóa, chính trị truyền thống, trên nền tảng từ
bi, bao dung, khai phóng cúa đạo Phật cần phải đựơc phục
hưng để Việt Nam có đựơc một kỷ nguyên dựng nước mới,
một cuộc cách mạng phát triển mới, và bắt đầu 1.000 năm
Rồng Việt chuyển mình tung bay.
Lý
Khôi Việt
Chùa Báo Thiên - Hà
Nội 1057 - 1883 :
http://vi.wikipedia.org/wiki/Chùa_Báo_Thiên
http://www.thuvienhoasen.org/chuabaothien-thapdaithangtuthien.htm
http://sachhiem.net/TONGIAO/NguyenAnTiem.php
http://www.vanhoaphatgiao.com/vanhoaphatgiao-04-06.htm
http://blog.360.yahoo.com/blog-8lS.UvQ_c6do9gs8MdbNxve0T5mN?p=7668
http://cusiminhman.googlepages.com/baothien-khamsu
Tháp Báo Thiên :
Báo
Mới
Giao
Điểm
Hình chùa Báo Thiên
:
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page5/photo_docteur_hocquard_5_fr.htm
Hình
toàn cảnh Chùa Báo Thiên
Cổng
tam quan
Cổng
tam quan
Tháp
Báo Thiên
GIÁO HỘI PHẬT
GIÁO VIỆT NAM
LÊN TIẾNG
VỀ CHÙA BÁO THIÊN
Ngày
16 tháng 2 năm 2008 vừa qua, Hòa thượng Thích Trung Hậu thừa
ủy nhiệm của Ban thường trực Hội đồng Trị sự đã ký
công văn số 067/CV/HĐTS gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
về việc một số người đòi Chính phủ giao trả Tòa khâm
sứ cũ cho Thiên Chúa giáo. BBT xin trân trọng giới thiệu bản
copy phóing ảnh công văn này.
02-17-2008
07:23:16
LỊCH
SỬ TANG THƯƠNG
VỀ CHÙA BÁO
THIÊN Ở HÀ NỘI XƯA
Lê
Quang Vịnh
Francis
Garnier lúc ấy đóng quân ở Trường Thi đem toàn bộ ngôi
chùa Sùng Khánh Báo Thiên Tự ở gần đó giao cho người thông
ngôn của mình là Giám Mục Puginier làm nhà ở và nơi làm
việc tạm thời. Giám Mục cho cất thêm mấy gian nhà gỗ trong
khuôn viên chùa
Ở
Hà Nội, phía Tây hồ Hoàn Kiếm, dọc theo trục Bắc Nam, có
1 đường phố ngắn (chỉ 300m) phía Bắc tiếp nối với phố
Lý Quốc Sư, phía Nam đụng với phố Trường Thi, nằm gọn
trog phường Hàng Trống thuộc quận Hoàn Kiếm, mang tên Phố
Nhà Chung, thời Pháp thuộc gọi là Rue de la Mission (phố Hội
Truyền Giáo hoặc phố Hội Thừa Sai).
Trên
đường phố này xúm xít những cơ sở Công giáo như Nhà Thờ
Lớn, Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội , trụ sở của Hội đồng
Giám mục Giáo hội Công giáo Việt Nam và mấy cơ sở bên
“lương” như Câu lạc bộ Thanh thiếu niên [1] Hoàn Kiếm,
Trung tâm ngoại ngữ Đại học Sư phạm… tiếp giáp với
ngôi chùa cổ danh tiếng trong sử sách vẫn ghi là “Đền”
Lý Quốc Sư [2].
Thời
tôi còn công tác ở Ban Tôn giáo Chính phủ, tôi đã nhiều
lần đến thăm chùa và nghe vị sư trụ trì [3] chùa Lý Quốc
Sư kể chuyện, đưa cho đọc những tư liệu quí giá mà nhà
chùa vẫn còn lưu giữ được về khu đất bên cạnh chùa.
Thật bất ngờ cho tôi khi đọc thấy những chứng tích rằng
toàn bộ khu đất ấy, ngày nay gọi là Phố Nhà Chung (Công
giáo), ngày xưa là khuôn viên 1 ngôi chùa (Phật giáo) cổ kính,
tráng lệ, đồ sộ vào bậc nhất nước ta.
Chùa
đó có tên gọi tắt là Báo Thiên Tự, gọi đầy đủ là
Sùng Khánh Báo Thiên Tự; trong sân chùa có một ngôi bảo tháp
cao vòi vọi (12 tầng), cao đến mức bóng tháp soi xuống mặt
nước hồ [4] Hoàn Kiếm. Tháp này có tên gọi là Đại Thắng
Tư Thiên Tháp, gọi tắt là Báo Thiên Tháp.
Báo
Thiên Tự được khởi công xây dựng từ năm 1056 [5] (đời
vua Lý Thánh Tông), đúc 1 quả đại hồng chung nặng đến
1 vạn 2 ngàn cân (7260 kg). Báo Thiên Tháp có chóp làm bằng
đồng, được xây dựng 1 năm sau khi xây dựng xong chùa.
Trong
chùa và tháp có rất nhiều vật hạng bằng đồng như tượng
Phật, thiền trượng, giới đao hộ pháp nhà Phật…cho nên
năm 1427, khi quân Minh xâm lược bị vây khốn trong thành Đông
Quan (tức Hà Nội), chúng cố thủ để chờ quân tiếp viện,
đã đến chùa cướp phá tàn bạo: tốc chóp tháp đồng, nấu
chảy đại hồng chung và tất cả những gì bằng đồng, bằng
kim loại để làm vũ khí (đúc súng) chống lại quân Việt
Nam của Lê Lợi - Nguyễn Trãi mãi cho đến khi biết rõ là
các đạo quân tiếp viện (Liễu Thăng, Mộc Thạnh) đều đã
bị đánh tan cả, mới chịu đầu hàng.
Tuy
nhiên, nhà Lê không để chùa bị bỏ hoang, cho trùng tu và
đại trùng tu nhiều lần ngôi chùa vẫn giữ vị thế bậc
nhất nước ta.
Trong
chùa Lý Quốc Sư ngày nay vẫn còn lưu giữ bản gấm thêu
sắc tự của đời Cảnh Hưng (tức vua Lê Hiển Tông 1740-1786)
về chùa Sùng Khánh Báo Thiên Tự. Trên nền tháp bị phá,
đã được tôn cao bằng 1 đàn tràng cũng gần nơi bây giờ
là nhà thờ lớn.
Về
lý do diễn biến đổi thay từ chùa và tháp Báo Thiên, 1 trong
“Tứ đại khí” hay “Tứ bảo khí” của Việt Nam cổ
(tạm dịch là 4 công trình to lớn và quí báu của nước Nam
ta) thành ra Nhà Thờ Lớn, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, Hội
đồng Giám mục Giáo hội Công giáo Việt Nam và các tu viện
Công giáo xung quanh đó ngày nay, thì dò theo các quyển sách
lịch sử đáng tin cậy như Đại Việt sử ký toàn thư của
Ngô Sĩ Liên, Hà Thành thất thủ chính khí ca (khuyết danh)
- bản trường ca về việc Hà Nội bị Pháp đánh chiếm
lần thứ 2 (Nguyễn Hoàng Viên: Hoàng Diệu 1829-1882, NXB Đà
Nẵng 2001, trang 54-66), Việt Nam sử lược của Trần Trọng
Kim; Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam của Nguyễn
văn Tân, NXB Văn hóa Thông tin , Hà Nội 1998; Từ điển đường
phố Hà Nội - NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2000; Công giáo
Việt Nam sau quá trình 50 năm -Công giáo và Dân tộc, xuân 1996,
Thành phố Hồ Chí Minh ; Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng
Long -NXB văn hóa thông tin, Thời báo kinh tế Việt Nam, tập
I, 2007… tôi suy ra những kết luận chuẩn xác như sau:
Số
là sau khi được triều đình Huế chính thức nhượng 3 tỉnh
miền Đông (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) theo hòa ước
1862 (Nhâm Tuất), đến 1867 (Đinh Mão) quân Pháp lại chiếm
luôn 1 cách dễ dàng cả 3 tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, Châu Đốc,
Hà Tiên) nữa, soái phủ Sài-gòn có ý định chiếm nốt xứ
Bắc Kỳ, để thiết lập vững chắc nền đô hộ của Pháp
ở Viễn Đông.
Đô
đốc Dupré viết thư sang Pháp:
“Xứ
Bắc Kỳ rất giàu và nối liền với nước Tàu. Đó là nơi
để các tỉnh phì nhiêu Tây Nam xứ Trung Hoa tải sản vật
sang cho ta. Việc chiếm cứ xứ này là vấn đề sinh tồn cho
tương lai cuộc đô hộ của ta ở Viễn Đông”. (Phan Trần
Chúc: Nguyễn Tri Phương . NXB Chính Ký, Sài-gòn 1944, trang 117)
Pháp
sử dụng hòa ước 1862 như 1 công cụ “tàm thực” (tằm
ăn dâu) thần hiệu: “… Đạo Thiên Chúa được tự do truyền
giáo … Người Pháp và người Tây Ban Nha được quyền mở
3 hải cảng Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên và tự do đi lại
buôn bán trong nước ta…” (Phan Trần Chúc: Nguyễn Tri Phương,
NXB Chính Ký, Sài-gòn 1944, trang 87)
Năm
1871, có 1 thương gia người Pháp tên là Jean Dupuis đi tìm 1
con đường sông ở Bắc Kỳ giao thông với tỉnh Vân Nam của
Tàu. J.Dupuis mộ lính Tàu và tập họp 1 băng đầu trộm đuôi
cướp về đóng tại Hà Nội .
Quan
ta không có quyền đuổi họ đi, bèn tâu về triều, xin phản
kháng với đô đốc thống lĩnh xứ Nam Kỳ. Nhưng đô đốc
Dupré chỉ 1 mực bênh vực Dupuis.
Tháng
5-1873, quan ta bắt giam đồ đảng người Nam và người người
Tàu của Dupuis, thì Dupuis bảo sẽ dùng vũ lực phá nhà ngục,
đánh tháo cho những kẻ bị bắt giam. Dupuis lại đòi mua muối,
củi để tàu của mình dùng, nhưng quan ta không chịu, khiến
tình hình càng hết sức căng thẳng.
Thuở
ấy, Nguyễn Tri Phương được vua Tự Đức bổ nhiệm chức
Bắc Kỳ Khâm mạng tuyền sát đổng sức đại thần (kinh
lược sứ Bắc Kỳ), điều quân từ Sơn Tây về giữ thành
Hà Nội.
Đáp
lại thư phản kháng của triều đình Huế, soái phủ Sài-gòn
còn giúp thêm cho J.Dupuis 3 vạn quan tiền.
Ngày
27-7-1873, Dupré đánh điện tín về bộ Hải quân:
“Xứ
Bắc Kỳ đã mở cửa thông thương nhờ công của Dupuis. Việc
này có ảnh hưởng lớn đến thương mại của Anh, Đức,
Mỹ. Ta cần phải chiếm xứ này trước, đừng để bọn giặc
Tàu hay người Tây phương khác chiếm. Như thế ta sẽ đem
lại cho nước Pháp 1 con đường buôn bán độc quyền. Tôi
không xin thêm viện binh. Tôi sẽ đem quân lực sẵn có đi
đánh. Sự thành công rất chắc chắn”. (Phan Trần Chúc:
Nguyễn Tri Phương, NXB Chính Ký, Sài-gòn 1944, trang 119).
Soái
phủ Sài-gòn truyền lệnh cho trung tá [6] Francis Garnier mang
1 tiểu đội chiến thuyền ra Bắc Hà trước để điều tra
vụ Dupuis, sau buộc triều đình Huế mở rộng xứ Bắc Kỳ
cho người Pháp buôn bán. Ngày 17-9-1873, F.Garnier rời bến Sài-gòn
và đến ngày 5-11, đem quân đến Hà Nội .
F.Garnier
vừa mới gặp Nguyễn Tri Phương đã khiêu khích rất hách
dịch, đòi đóng quân ngay trong hoàng thành, bắt buộc các
địa phương phải để cho người Pháp thông thương trên
toàn cõi Bắc Kỳ, nhưng Nguyễn Tri Phương cự tuyệt, lý do
là vì chưa có lệnh triều đình. Thực sự Francis Garnier khiêu
khích để châm ngòi cuộc chiến tranh:
“Tôi
nhất định đánh. Tôi sẽ đem 180 quân bản bộ hạ thành
Hà Nội và bắt Nguyễn Tri Phương giải về Nam, làm tù binh”
(Thư của Francis Garnier gởi về Soái phủ Sài-gòn cho Đô đốc
Dupré ngày 10-11-1873).
Ngày
20-11-1873, đúng 6h sáng, Francis Garnier truyền lệnh hạ thành
Hà Nội. Đại bác ta trên thành bắn ra không có tác dụng
gì cả, đạn lướt qua đầu quân Pháp và rớt xuống cả
mặt đất phía sau. Quân ta trong lúc hoảng hốt, quăng xuống
vô số đá to, đá nhỏ mà chẳng trúng tên quân Pháp nào.
Một đại bác của Pháp bắn vỡ cửa Đông, quân Pháp ào
tới, ập vào thành. Đến 7h, cờ Pháp bay trên vọng lâu trung
ương thành Hà Nội. Phò mã Nguyễn Lâm tử trận. Nguyễn Tri
Phương trúng đạn bị thương nặng ở đùi, bị Francis Garnier
bắt được. Francis Garnier phái các bác sĩ đến băng bó vết
thương, đổ cháo và thuốc vào miệng ông để ông mau phục
sức. Nhưng Nguyễn Tri Phương dứt cả băng bó, phun cháo và
thuốc ra, nhất quyết tuyệt thực cho đến chết. Francis Garnier
đem thông ngôn [7] đến ngồi bên giường ôn tồn an ủi. Nguyễn
Tri Phương thản nhiên đáp:
“Làm
tướng phải chết và chết ở trận tiền không phải là cái
chết nhục nhã” (Phan Trần Chúc: Nguyễn Tri Phương,
NXB Chính Ký, Sài-gòn 1944, trang123)
Ngày
20-12-1873, Nguyễn Tri Phương trút hơi thở cuối cùng, thọ
74 tuổi (1799-1873).
Francis
Garnier lúc ấy đóng quân ở Trường Thi [8] đem toàn bộ
ngôi chùa Sùng Khánh Báo Thiên Tự ở gần đó giao cho người
thông ngôn của mình là Giám Mục Puginier làm nhà ở và nơi
làm việc tạm thời. Giám Mục cho cất thêm mấy gian
nhà gỗ trong khuôn viên chùa [9], còn Tòa Giám Mục thì vẫn
đặt tại Sở Kiện. Trong mấy năm sau đó, tình trạng này
vẫn không thay đổi vì chỉ đến ngày 21-12-1873 thì Francis
Garnier bị quân Cờ Đen phục kích giết chết, quân Pháp rút
về Nam, giao Hà Nội lại cho triều đình Huế cai quản theo
hòa ước 1874 (Giáp Tuất).
Mãi
cho đến 9 năm sau, Soái phủ Sài-gòn mới cử Henri Riviere [10]
ra đánh chiếm Hà Nội lần thứ 2 (1882-Nhâm Ngọ). Lần này
thì Tổng đốc Hà Ninh [11] là Hoàng Diệu (trọng trấn từ
1879) quá phẩn uất trước cảnh vua và triều đình bạc nhược
chủ hòa [12], không quyết tâm phòng bị, còn các quan chức
kế cận mình thì hèn nhát bỏ trốn trước giờ lâm trận,
thậm chí phản bội đầu hàng, cho nên sau khi viết xong tờ
di biểu, ông đã treo cổ tự tử trên cây ổi ở miếu Công
Thần trg Hành Cung Kính Thiên.
Sau
khi chiếm được Hà Nội, Henri Riviere sai phá hủy các cổng
thành và nhiều đoạn tường thành, vần hết đại bác trên
thành ném xuống hào. Các chùa miếu quanh thành đều bị
phá phách, xô sập tất cả, 1 mặt để lấy gỗ gạch làm
công sự [13], mặt khác là để thực hiện chủ trương
triệt hạ nền văn hóa cổ truyền bản địa [14]
và độc tôn Thiên Chúa giáo mà thực dân Pháp vẫn được
Vatican tuyên dương là Trưởng Nữ của Giáo hội. Cũng chính
trong thời điểm này, Báo Thiên Tự bị phá hủy hoàn
toàn và biến mất trên bản đồ Hà Nội.
Khu
vực chùa và tháp Báo Thiên cũ được ước đoán theo các
tư liệu lịch sử. Có thể chính điện của Chùa nằm trên
nền đất nay là Nhà thờ Lớn và Tòa Tổng giám mục Hà Nội;
Tháp Báo Thiên tọa lạc trên khoảng đất thuộc khu vực Tòa
khâm sứ cũ. Khuôn viên vườn chùa (Thời Lý - Trần - Lê)
kéo dài đến qua khu Chủng viện, Dòng mến Thánh giá ra sát
Hồ Gươm.
Năm
1884, hàng ước Patenotre được ký kết, triều đình Nguyễn
chấp nhận Pháp bảo hộ và chia Việt Nam thành 3 kỳ: Nam Kỳ
là xứ thuộc địa (colonie) của Pháp, Bắc Kỳ là xứ bảo
hộ (protectorat) của Pháp, Trung Kỳ được gọi là Đế chế
An Nam (Empire d'An Nam) – sự thật thì cả ba kỳ đều chung
1 chế độ lệ thuộc, ngay trong đế chế An Nam thì vua
mặc dù có những vị vua yêu nước muốn khôi phục độc
lập chủ quyền cho Dân tộc, nhưng cuối cùng phải bị
bắt bị đày, bởi “vua thì còn đó, nước thì không
“, triều đình quan lại thì mặc dù cũng có những ông quan
tận trung báo quốc nhưng cuối cùng phải bị giết bị
tù bởi triều đình quan lại rút cuộc chỉ là con rối trong
tay thực dân Pháp mà thôi, Giám Mục Puginier mới cho xây dựng
lại bằng những vật liệu kiên cố Nhà Thờ Lớn và các
tòa nhà khác của Nhà Chung rồi dời Tòa Giám mục [15] về
đây.
Năm
1925, Tòa Thánh Vatican lập Tòa Khâm Sứ Tòa Thánh ở Việt
Nam (Delegue’ Apostolique16 F, Apostolic Delegate [16] E) và trụ
sở ban đầu đặt tại Huế, đến năm 1951 mới dời ra Hà
Nội và Tòa Khâm Sứ Tòa Thánh được xây dựng ngay trên khu
đất Phố Nhà Chung này. Đến năm 1957, sau khi hiệp định
Geneve được ký kết, đất nước Việt Nam tạm thời chia
thành 2 miền tập kết quân đội, đợi ngày hiệp thương
tổng tuyển cử thống nhất nước nhà. Nhưng chính quyền
miền Nam nhất định không chịu hiệp thương tổng tuyển
cử, Tòa Thánh Vatican thì nhất quyết không thừa nhận
chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên chuyển Tòa Khâm
Sứ Tòa Thánh vào Nam (Sài-gòn) là nơi mà Tòa Thánh
công nhận là “đại diện duy nhất” (!) cho nước Việt
Nam…
Lê
Quang Vịnh
(Tác
giả Lê Quang Vịnh, nguyên Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ)
Tái
bút: Noel 2007, hàng trăm thanh niên Công giáo Hà Nội đã
xông vào địa chỉ 42 phố Nhà Chung đang là trụ sở của
Phòng Văn hóa Thông tin, Nhà Văn hóa & Trung tâm Văn hóa
Thể thao quận Hoàn Kiếm, phát hàng vạn tờ truyền đơn đòi
Nhà nước phải trả lại cho Tòa Tổng Giám Mục khu đất
ở địa chỉ này mà họ cho là của Tòa Khâm sứ (cũ).
Họ
trưng ra 1 bức thư của người đại diện Tòa Thánh Vatican
khi rời Hà Nội vào Sài-gòn năm 1959 cám ơn Tòa Giám Mục
Hà Nội đã cho mượn đất để xây dựng Tòa Khâm sứ (cũ).
Tôi
không tham gia vào cuộc tranh chấp phức tạp này. Tuy nhiên
tôi không thể không ghi lại lịch sử cụ thể của khu đất
bao gồm cả địa chỉ 42 và 40 và toàn bộ phố Nhà Chung (hiện
nay) trên đó tọa lạc Tòa Khâm sứ (cũ) và Tòa Tổng Giám
Mục, Nhà Thờ Lớn Hà Nội và các tu viện, đan viện và các
cơ sở Nhà chung khác nữa ở đây, đều nằm trong khuôn viên
của ngôi chùa cổ gần 1000 năm và đồ sộ, nguy nga vào bậc
nhất nước Nam xưa.
Ngôi
chùa ấy đã là nạn nhân cực kỳ đau khổ của quân xâm
lược nước ngoài: năm 1426, quân xâm lược Tàu (Vương Thông
nhà Minh) đã phá đổ Đại Thắng Tư Thiên Tháp cao 12 tầng
và cướp phá nghiêm trọng những vật hạng bằng đồng, bằng
kim loại trong chùa để đúc súng, tuy nhiên sau đó nhà Lê
đã cho trùng tu, đại trùng tu nhiều lần ngôi chùa sắc tứ
này; năm 1873, quân xâm lược Pháp (F.Garnier) lấy ngôi chùa
này giao cho Giám Mục Puginier dùng làm nhà ở và chỗ làm việc
tạm khi Giám Mục về Hà Nội làm thông ngôn cho F.Garnier,
tư lệnh cuộc đánh chiếm Hà Nội lần thứ I; năm 1882, sau
khi đánh chiếm Hà Nội lần thứ II, quân xâm lược Pháp (H.Riviere)
đã xô sập tất cả đền chùa xung quanh Hà Nội để lấy
gạch gỗ đá xây dựng công sự; năm 1884, trên khu đất khuôn
viên chùa cũ, Giám Mục Puginier cho xây dựng nên Nhà Thờ Lớn
và dời Tòa Giám Mục về đây (1887)...
Chùa
Sùng Khánh Báo Thiên Tự và Đại Thắng Tư Thiên Tháp (tức
Báo Thiên Tháp 12 tầng cao) ngày nay không còn nữa, nhưng chứng
tích của nó thì vẫn rành rành ra đó, không có gì để nghi
ngờ bàn cãi. Chuyện xảy ra chỉ mới hơn 120 năm, đối với
đời người thì có thể nói là dài, nhưng đối với lịch
sử thì chẳng là bao năm cả.
Chùa
và tháp Báo Thiên gắn liền với truyền thống chống xâm
lược của dân tộc ta, với thiên cổ hùng văn Bình Ngô đại
cáo của Nguyễn Trãi, với máu lệ của “những kẻ tôi trung
tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương” [17] Nguyễn
Tri Phương và Hoàng Diệu.
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
nay đã chuyển thành trụ sở Phòng Văn hóa Thông tin, Nhà Văn
hóa và Trung tâm Văn hóa Thể thao quận Hoàn Kiếm.
[2]
thờ Vạn Hạnh thiền sư (9?? – 1018 )
[3]
Thượng Tọa Thích Bảo Nghiêm
[4]
Báo Thiên Tháp Ảnh: Từ điển địa danh lịch sử văn hóa
Việt Nam , NXB Văn hóa –Thông tin, Hà Nội 1998, tr 92.
[5]
nguyên văn : “Bính thân, năm thứ 3, mùa hạ, tháng 4, xuống
chiếu khuyến nông, làm chùa Sùng Khánh Báo Thiên, phát 1 vạn
2 nghìn cân đồng để đúc chuông lớn. Vua (Lý Thánh Tông
nổi tiếng thương dân như con) thân làm bài minh. Đinh
dậu, năm thứ 4, mùa xuân, tháng giêng, xây bảo tháp Đại
Thắng Tư Thiên, cao vài chục trượng , 12 tầng…” (ĐVSKTT,
tập I, NXB VHTT 2004, tr 318).
[6]capitaine
de fregate, Trần Trọng Kim dịch là Đại úy, nhưng tôi (Lê
Quang Vịnh ) nhận thấy quá thấp, bởi trg hải quân Pháp cổ,
capitaine có nghĩa là chiến thuyền trưởng chứ không phải
là đại úy như trg lục quân, hơn nữa có 3 cấp capitaine là
Capitaine de corvette=thiếu tá hải quân; Capitaine de fregate=trung
tá hải quân; Capitaine de vaisseau=đại tá hải quânèdo đó
đề nghị dịch lại là trung tá hải quân (theo Larousse 1992).
[7]
chính là Giám Mục Puginier (theo Việt Nam Sử lược của Trần
Trọng Kim)
[8]
khoảng giữa Thư viện KHXH và Trường Kỹ nghệ Hà Nội (theo
Hà Thành thất thủ ca, câu 8)
[9]
theo Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long, tập I, 2007, trang
[10]
Capitaine de vaisseau=Đại tá hải quân (xem chú thích số 6)
[11]
Hà Ninh có 2 nghĩa trái ngược nhau: theo Trần Trọng Kim trg
Việt Nam sử lược là Hà Nội + Ninh Bình, theo Nguyễn
Hoàng Viên trg Hoàng Diệu 1829-1882 là Hà Nội + Ninh Bình + Hà
Nam, nhưng theo Hoàng Xuân Hãn trg bản nghiên cứu về Chính
Khí Ca thì lại là Hà Nội + Bắc Ninh.
[12]
Vua Tự Đức nói: “Bàn hòa là người có công, bàn chiến
là kẻ có tội…” (Đặng Duy Phúc: Thăng Long. Đông Kinh.
Hà Nội , nơi hội tụ nhân tài. NXB Hà Nội 1996)
[13]
Trg Hà Thành thất thủ ca có ghi: /Kính Thiên ngài ngự thếp
vàng,/Tây ngồi đánh chén với đoàn thanh lâu./Các chùa miếu
đâu đâu đấy tá,/Can gì Tây cũng phá tan tành? (câu 115-118)
[14]
còn có 1 yếu tố tinh thần khác dẫn đến quyết định của
H.Riviere phá hết các đình chùa ở Hà Nội mà Giáo sư Vũ
Khiêu có nhắc tới: “Ngay từ giờ phút đầu tiên…các đình
chùa đều đánh trống, gõ mõ, khua chiêng vang dội để khoa
trương thanh thế áp đảo địch và hỗ trợ cho tinh thần
quyết chiến của quan quân trong thành…” (Giáo sư Vũ Khiêu:
Lễ tưởng niệm danh nhân yêu nước Hoàng Diệu nhân 170 năm
sinh tại Văn Miếu Quốc tử giám Hà Nội ngày 30-10-1999. Nguyễn
Hoàng Viên: Hoàng Diệu , NXB Đà Nẵng 2001, trang 216).
[15]
tên gọi của Tòa Giám Mục đã thay đổi rất nhiều lần
kể từ khi đạo Thiên Chúa được truyền vào Việt Nam. Năm
1679, Tòa Thánh chia Địa phận Đàng Ngoài thành 2: Địa phận
Tây và Địa phận Đông Đàng Ngoài. Năm 1846, Địa phận
Tây Đàng Ngoài lại được chia làm 2: Địa phận Tây Đàng
Ngoài và Địa phận Nam Đàng Ngoài. Hà Nội nằm về phía
Tây nên thuộc về Giáo phận Tây Đàng Ngoài. Tòa Giám mục
lúc ấy được gọi là Tòa Giám Mục Tây Đàng Ngoài. Mãi
đến năm 1924 mới lấy tên nơi đặt Tòa Giám Mục làm tên
gọi các Giáo phận. Tòa Giám Mục Hà Nội có tên từ ấy
(GHCGVN, niên giám 2004, trang 218)
[16]
Apostolic Delegate: Khâm sứ Tòa Thánh (= vị đại diện của
Đức Giáo Hoàng, không làm nhiệm vụ ngoại giao như apostolic
nuncio mà chỉ làm nhiệm vụ của Giáo Hội là liên lạc với
các giám mục ở những quốc gia không có quan hệ ngoại giao
chính thức với Vatican (Nguyễn Đình Diễn: Từ điển Công
giáo Anh Việt, NXB Tôn giáo , Hà Nội 2002, trang 49)
[17]
Hồ Chí Minh : Lịch sử nước ta à Nước ta nhiều kẻ tôi
trung/Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương /Hoàng Diệu
với Nguyễn Tri Phương /Cùng thành còn mất, làm gương để
đời
03-18-2008 10:23:46