Trong
Phật giáo, cái đẹp không những được bộc lộ qua chân
lý sâu xa tối thượng mà nó còn là một cái gì rất thực,
rất gần gũi với văn hóa của một dân tộc và đời sống
tâm linh của con người. Một trong những ấn tượng cao đẹp
ấy là hình ảnh ngôi chùa với chiếc mái cong cong hòa quyện
vào cảnh vật thiên nhiên khi nắng chiều chợt tắt hoặc
những lúc sương sớm quyện mờ. Nơi ấy đã từng làm thức
tỉnh biết bao tâm hồn. Mái chùa tượng trưng cho những gì
cao quý nhất trong cộng đồng dân tộc, nhưng cũng còn tùy
thuộc vào nét thẩm mỹ của nó. Không gian tĩnh mịch ấy,
không những ở nơi thôn dã xa xôi hay ở vùng núi rừng hẻo
lánh mà ngay cả trong lòng đô thị náo nhiệt cũng đã tiềm
ẩn ở những ngôi chùa như thế, điển hình như chùa Viên
Giác.
Chùa
Viên Giác hiện tọa lạc tại số 193 Bùi Thị Xuân – Phường
1 – Quận Tân Bình – TP. Hồ Chí Minh, do Hòa thượng Thích
Hồng Tịnh khai sáng vào năm 1955.
Trước
đấy, Chùa chỉ là một cái am nhỏ vì Ngài cất lên để
ẩn tu nên có tên là Ðộc Giác. Sau do nhu cầu tín ngưỡng
cộng thêm tâm Bồ Ðề dõng phát, Ngài đã kiến tạo một
cách quy mô hơn. Từ đấy, Chùa được đổi tên là Viên Giác,
có ý nghĩa là sự giác ngộ tròn đầy (tự giác, giác tha
và giác hạnh viên mãn). Sau khi Ngài viên tịch, vì không có
người kế thế nên những người thân tín tạm lo việc hương
khói và thờ cúng. Mãi đến năm 1976, Chùa mới thỉnh Thượng
tọa Thích Minh Phát về điều hành Phật sự.
Hai
mươi năm sau tức năm 1996, vì sức khỏe của Thượng tọa
yếu kém, bệnh không thuyên giảm nên Chùa thỉnh Ðại đức
Thích Lệ Trang về trụ trì. Tuy đã trải qua nhiều lần trùng
tu, nhưng Chùa vẫn không tránh khỏi sự tàn tạ theo thời
gian và nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng Phật tử
ngày càng cao, nên vào đầu mùa xuân năm Tân Tỵ (2001), Ðại
đức Thích Lệ Trang cho khởi công trùng hưng ngôi Tam Bảo.
Công trình do KTS. Huỳnh Tấn Phát thiết kế kỹ thuật; Công
ty Hồng Bảo, KS. Nguyễn Văn Dũng và KS. Nguyễn Văn Tuấn giám
sát thi công; ÐKG. Bàng Nghiêu Dân cố vấn mỹ thuật; Công
ty Quốc Anh là đơn vị thi công và KS. Ngô Văn Lợi trực tiếp
quản lý – điều hành công trình. Ròng rã mưa nắng hơn một
năm, công trình đã trải qua biết bao khó khăn vất vả, ngôi
Tam Bảo mới được thành tựu.
Vừa
bước vào cổng tam quan, cảnh trí đầu tiên hiện ra là một
ngôi chùa được xây dựng theo bố cục hình chữ Sơn
(
), có mái cong trung hòa vào nét góc, cung tròn tạo thành
những đường lượn mềm mại nhẹ nhàng uyển chuyển làm
lộ rõ dáng kiến trúc xây dựng truyền thống. Tuy được
phối hợp với những nét kiến trúc Á Ðông và kỹ thuật
hiện đại, nhưng Chùa trông rất cổ kính và uy nghiêm, nào
kèo cột chồng diêm, nào rui mè đỡ mái, kết cấu giống
như kiểu nhà rường Việt Nam.
Sau
khi bước lên những nấc thang đứa gót vào Phật điện, ta
được chiêm ngưỡng Ðức Di Lặc tôn trí trước “bái đường”
với nụ cười hoan hỉ, chủ ý nhằm nhắn nhủ mọi người
hãy cười như nụ cười của Ðức Di Lặc và hãy bỏ đi
những điều mà người thế gian không muốn bỏ. Tượng được
khắc họa theo tư thế Tam Ða (Phước – Lộc – Thọ). Tiến
vào trong là một lớp cửa “Thập Nhị Thời Thần” – Thần
chủ của 12 con giáp cũng là 12 vị thần Ðại Dược Xoa Tướng
trong pháp hội Dược Sư được chạm trổ khá công phu và
tỉ mỉ. Ðiện Phật được ảnh hiện bởi Ðức Bổn Sư
trong tư thế chuyển pháp luân, xung quanh thân quang có bảy
vị hóa Phật với nghệ thuật hòa quang hiện đại, khiến
ta cảm thấy các Ngài như chợt ẩn chợt hiện trong mây bởi
những ánh đèn lung linh huyền ảo.
Nếu
ở trước Ðức Phật, ta đang say sưa cung kính thổ lộ nỗi
lòng của mình bởi gương mặt từ bi hiền lành, thường ban
sự vô úy, dễ gần gũi và dễ cảm mến của Ngài thì chắc
ta không khỏi sửng sốt giật mình khi nhìn sang những pho tượng
“ Thập Bát La Hán ” ở hai bên Phật điện. Có Ngài thì
tỏ ra oai phong lẫm liệt, có Ngài thì tĩnh tọa điềm nhiên
... Nhưng điều đáng chú ý nhất là nghệ thuật tạo hồn
đã khiến cho các pho tượng toát ra vẻ sống động tựa như
người thật. Ngoài ra, mỗi tượng đều có những dấu chỉ
của cơ thể mang tính cách biểu trưng gắn liền với cuộc
đời và phẩm hạnh của chủ thể như tượng tôn giả Xá
Lợi Phất cầm chiếc linh tiêu biểu cho trí tuệ đệ nhất,
tôn giả Phú Lâu Na cầm quyển kinh tiêu biểu cho thuyết pháp
đệ nhất ... Có thể nói là tác phẩm mỹ thuật này đã
được hoàn chỉnh trên hai phương diện : Cơ thể học và
thấu thị học.
Phía
sau Phật điện là Tiếp Dẫn điện. Ở đây, Ðức Phật A
Di Ðà được tôn trí đang trong tư thế tiếp dẫn, xung quanh
là những linh vị được bố trí theo thứ tự trông rất đẹp
mắt. Phía dưới Phật điện là Phạm AÂm đường, nơi giảng
kinh thuyết pháp; hai bên là Ðông đường (Khai Sơn đường)
và Tây đường (Ngũ Quán đường); bên ngoài là hai gác vọng
thờ hai vị bồ tát là Thiên Thủ Thiên Nhãn và Ðịa Tạng,
tạo nên nét thẩm mỹ hài hòa và cân đối.
Trong
kiến trúc Phật giáo, khi nói đến chùa, người ta thường
hình dung ra tháp. Vì chùa và tháp là hai thực thể luôn
gắn liền nhau trong lối kiến trúc đặc trưng của Phật giáo.
Tại đây, Ðẳng Quan tháp được xem như là một thế giới
riêng, có vị trí ở góc Tây Bắc trong khuôn viên Chùa. Tháp
gồm ba tầng, tám mặt, bảy mái, cao 21 mét và toàn bộ được
lợp bằng ngói gạch lưu ly màu xanh vàng, vách được cẩn
bằng gạch lưu ly với nét điêu khắc hình Phật và Bồ tát.
Phía trước là đỉnh hương bằng đồng được chạm khắc
bài minh bằng nét Lệ Thư với nội dung vô cùng cô đọng.
Thượng
tầng là Từ Ý Các thờ Xá Lợi Phật, có treo một phạm chung
cao 1m90 và nặng 750 kg. Trung tầng là Pháp Bằng Các, tàng kim
thân Phật Thích Ca, Ða Bảo cùng kinh Ðại Thừa Diệu Pháp
Liên Hoa. Hạ tầng là Phước Nghiêm Các thờ chân tướng và
linh cốt Cố Thựong toạ Thích Minh Phát.
Những
lúc trời trong xanh với những đám mây trắng bồng bềnh
hay những lúc trăng tròn soi bóng; nhìn ngôi chùa Mái cong vươn
nét nhẹ nhàng như ngư long vờn nguyệt. Chuông báu ngân vang
diệu điển tợ thường chuyển pháp luân. Hoàng kim trang sức
đỉnh, ngọc trắng điểm tô đài. Chư Phật, Bồ Tát và La
Hán ảnh hiện trong ánh quang minh như đang diễn nói pháp âm
giải thoát. Ðặc biệt, nếu đứng từ thượng tầng
của tháp nhìn xuống, ta sẽ thấy được toàn bộ quần thể
kiến trúc của Chùa. Hơn nữa, ta cũng thấy trên những thảm
cỏ xanh mượt, những khóm hoa được tô điểm và những ngọn
cau ngả bóng lung linh trông như một bức tranh thủy mặc thật
sống động.
Nhìn
chung, chính sự hài hòa giữa phong thái kiến trúc và màu sắc
đã làm cho tâm linh con người trở nên trầm tĩnh, có cảm
giác an lạc thanh tịnh từ thế giới nội tâm cho đến ngoại
cảnh. Ta còn thấy đồ án trang trí,vị trí của những pháp
vật, phong cách thờ cúng ... đều toát ra vẻ hài hòa và thật
sự tạo được cảm xúc về nghệ thuật thẩm mỹ, tuy tráng
lệ nhưng không quá kiêu sa, tuy linh hoạt nhưng không đến
nỗi phóng túng và tuy đường nét khắc họa công phu nhưng
không đến nỗi cầu kỳ thái quá. Tuy được tiếp thu theo
lối kiến trúc của nhiều thời đại, nhưng Chùa đã được
sáng tạo theo một phong cách mỹ thuật riêng. Từ bao đời,
sự thể hiện cảnh quan luôn gắn liền và đặc tả tư tưởng
– nhân cách của người tăng sĩ.
Mái
chùa là nét văn hóa của dân tộc, là tâm hồn của Phật
giáo. Tuy nhiên, trong nét văn hóa và tâm hồn ấy phải có
“ thể chất ” của nó. Thể chất ấy chính là nếp sống
đạo hạnh của chư tăng, ảnh hưởng không nhỏ đối với
việc giáo hóa quần chúng. Ở đây, tăng chúng tuy không đông,
đa phần là những thầy trẻ tuổi của đủ mọi miền trên
đất nước, có lý tưởng và tinh thần trách nhiệm cao. Có
thể nói, các vị ấy là những người “ chịu ” khép mình
vào qui củ của thiền gia và phong cách hành xử rất thấm
đượm giáo huấn của tùng lâm. Mọi người đều sống trong
tinh thần tự giác, có hệ thống sinh hoạt và tư tưởng nhất
quán từ trên xuống dưới, cho dù là những người mới tập
sự xuất gia. Thật như người xưa đã từng dạy: “ Văn
và Chất là những thứ không thể thiếu trong đời sống sinh
hoạt của con người ” !
Khi
tôi mãi say sưa với vẻ đẹp chan hòa ấy, bỗng dưng tôi
nhớ lại một nhà thơ nào đó đã từng khắc họa :
Sóng
mây đuổi nắng vươn dài
Tiếng
chim quần hội trăng ngoài tháp chuông
Khói
chiều như lụa phơi sương
Thời
kinh Viên Giác bụi đường bến hoa
Trăng
rằm ngọn nước phù sa
Hỏi
đây dòng đục, đâu là bến trong ?
Vừa
lúc ấy, màn đêm cũng bắt đầu buông. Ðèn đã được thắp
sáng ở các điện đường. Vầng trăng thượng tuần từ từ
rạng chiếu trên cổ lầu, làm lộ rõ chiếc mái ngói lưu
ly cong cong với những hoa văn chợt ẩn chợt hiện, trông như
thật thật hư hư. Tiếng chuông thức tỉnh lại vang lên, hòa
vào đó là những lời kinh, giọng điệu tán tụng thâm trầm
sâu lắng, nghe như một bản nhạc đang đánh thức lòng người,
hãy mau tìm lại bản tánh giác ngộ sẵn có nơi mình.