Chùa
tọa lạc ở số 161/85/20 đường Lạc Long Quân, quận 11, thành
phố Hồ Chí Minh. Chùa ban đầu mang tên là Quan Âm các, được
ngài Hương Đăng tạo dựng vào năm 1805 từ một am nhỏ thờ
Bồ-tát Quan Thế Âm. Năm 1850, Thiền sư Hải Tịnh đổi Quan
Âm các thành chùa Giác Viên. Chùa được trùng tu lớn vào
các năm 1899-1902 dưới thời Hòa thượng Như Nhu trụ trì và
vào các năm 1908-1910 dưới thời Hòa thượng Như Phòng trụ
trì. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chùa có 135 pho
tượng và 57 bao lam, hầu hết được tạo tác và chạm khắc
vào hai lần đại trùng tu ngôi chùa. Các bao lam ở chùa có
giá trị nghệ thuật cao, có bao lam chạm cả 2 mặt, đặc
biệt là bao lam "Bá Điểu", người xem như thấy cả thế giới
loài chim đang sinh hoạt ở quanh mình. Chùa đã được Bộ
Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Chùa
Giác Viên còn có tên là chùa Hố Đất, xưa là một am nhỏ,
gọi tên là "Quan Âm Các", dựng vào năm 1798. Tương truyền,
khi Hòa Thượng Hải Tịnh đại trùng tu chùa Giác Lâm, ông
đã chọn ngôi đất chùa Giác Viên hiện nay làm bến xếp
cây gỗ, trước khi chuyển vận bằng đường bộ đến Giác
Lâm (dài 2km). Trước mặt chùa còn rạch Hố Đất (rạch Tân
Hòa) đổ ra rạch Ông Bướng và kinh Lò Gốm, vốn là đường
chở gỗ ngày xưa. Để tiện bề đôn đốc công việc, Hòa
thượng dựng một nhà lá, trong đó thờ Phật. Phật tử lui
tới ngày một đông đúc. Năm 1850 chùa được chính thức
đổi tên thành Giác Viên. Chùa Giác Viên trong thời gian này
được dùng làm cơ sở chánh học tập khoa ứng phú vùng Chợ
Lớn. Trong chùa còn lại bức hoành phi đề "Tân Mão niên tại"
nên có ý kiến cho rằng chùa đã có từ năm 1771 hoặc 1831.
Bình
đồ chùa được bố cục theo kiểu chữ “trung" chiều ngang
70m, dài 58m. Phật điện được đặt giữa chùa. Hai bên có
dãy nhà nối vào phần giữa bao bọc sân, trong đó trồng cây
cảnh, non bộ. Ngoài ra, trong chùa còn có những dãy nhà phụ
làm nhà trai và bếp, trường học. Nét đặc biệt trong kiến
trúc chùa Giác Viên là bộ sườn gỗ chạm trổ tinh vi, tiêu
biểu cho kiến trúc cổ truyền tại miền Nam. Qua các lần
trùng tu lớn vào năm 1958, 1961, 1962, chùa được tu sửa theo
kiến trúc mang màu sắc Tây phương hơn.
Trong
chùa có tất cả 153 pho tượng, 57 bảo lam và 60 bức phù điêu.Trong
khuôn viên chùa còn 2 công đất trước đây là nơi xây cất
trường Phật học Lục Hòa Tăng, cơ sở in ấn tạp chí Lục
Hòa Tăng, cơ quan ngôn luận của Giáo Hội và là nơi đào
tạo bồi dưỡng tăng tài. Hiện nay chùa còn lưu lại nhiều
tác phẩm điêu khắc với những đường nét chạm trồ tinh
vi như những tấm thêu trên mặt gỗ. Đặc biệt chùa còn
giữ được chiếc giá võng của triều đình nhà Nguyễn tặng
vị Tổ sư Hải Tịnh, người sáng lập chùa Giác Viên và
một gốc mai. (ĐNMY)
Chùa
Giác Viên - Những giá trị văn hoá nghệ thuật
[10.08.2006
12:00]
Chùa
Giác Viên có lịch sử hình thành muộn hơn so với các ngôi
chùa cổ ở trong vùng, nhưng về giá trị văn hóa nghệ thuật
thể hiện trong trang trí kiến trúc thì có lẽ nó không chịu
nhường bất cứ ngôi chùa nào, kể cả chùa Giác Lâm. Các
nhà nghiên cứu và khách tham quan sẽ cảm thấy hài lòng và
thỏa mãn bởi nghệ thuật trang trí, chạm khắc gỗ cực kỳ
tinh xảo ở nơi đây: Bao lam (cửa võng), hoành phi, câu đối,
phù điêu từ chánh điện, nhà Tổ cho đến hành lang, Đông
Lang và Tây Lang.
Chùa
Ciác Viên tọa tại hẻm 247 đường Lạc Long Quân, phường
3 khu phố 1, quận 11 thành phố Hồ Chí Minh. lịch sử ngôi
chùa này gắn liền với việc xây dựng lại chùa Giác Lâm
(được lập vào năm 1744, ban đầu mang tên chùa Cẩm Đệm,
năm 1774, thiền sư Viên Quang về trụ trì đổi tên thành chùa
Giác Lâm). Năm Mậu Ngọ 1798, ngôi chùa bị hư hại nặng.
Thiền sư Viên Quang chủ trì tiến hành cuộc đại tu, gỗ
mua về làm chùa Giác Lâm được chở theo đường thủy cập
bến Hố Đất (cách chùa khoảng 2km). Thiền sư Viên Quang cho
làm một ngôi nhà nhỏ ở bến này, cử người phụ trách
nhang đèn trọng chùa ra trông coi gỗ, gọi là ông Hương Đăng.
Ông Hương Đăng trang trí ngôi nhà nhỏ thành một cái Am, thỉnh
tượng phật về thờ. Năm 1805, ông xin phép tổ Viên Quang
cho xây tại đây một ngôi chùa, lấy tên là Quan Âm Viện.
Năm 1850, Quan Âm Viện chính thức được đổi tên thành chùa
Giác Viên.
Từ
khi thành lập đến nay, chùa đã trải qua 6 đời truyền thừa:
Hòa thượng Minh Khiêm, Như Nhu, Như Phòng, Hồng Từ, Nhựt
Xuân và hiện nay hòa thượng Huệ Viên đang trụ trì tại
chùa. Chùa được trùng tu lớn 3 lần: lần thứ nhất vào
năm 1899 do hòa thượng Như Du đứng ra chủ trì xây dựng;
lần thứ 2 vào năm 1910 do hòa thượng Như Phòng phụ trách,
lần trùng tu này đã thay đổi hoàn toàn kết cấu kiến trúc;
lần thứ 3 vào cuối thập niên 20 thế kỷ XX do hòa thượng
Hồng Hưng - trụ trì chùa Giác Lâm đứng ra đảm trách, chính
ông là người thiết kế kiến trúc lại ngôi chùa Giác Lâm
và Giác Viên và cũng chính vì vậy nên hai ngôi chùa này có
kiểu dáng kiến trúc gần giống nhau.
Chùa
Giác Viên có lối đi vào phía sau, vì trước kia mặt chính
của chùa quay ra bến Hố Đất, thời gian sau bến này không
còn được sử dụng, con rạch đi vào bến này bị lấp và
một phần đất thuộc khuôn viên chùa đã được khai thác
thành khu du lịch Đầm Sen ngày nay. Trong vườn phía sau chùa
vẫn còn bảo tồn được một cây Bạch Mai, tương truyền,
do Mạc Cửu, người có công sáng lập ra chùa Tam Bảo - Hà
Tiên, một lần đi qua bến Hố Đất đã trồng làm kỷ niệm.
Chùa
Giác Viên có dạng kiến trúc tổng hợp của nhiều chất liệu,
nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, trong đó có ảnh hưởng
của kiến trúc phương Tây khá rõ, thể hiện ở mặt tiền
xây vòm, cột vuông có trang trí hoa văn đắp nổi trên đầu
cột. Nhưng nhìn tổng thể, chùa Giác Viên vẫn còn giữ được
đường nét cổ kính, mang phong cách dân gian thể hiện ở
kết cấu kiến trúc, sườn mái, nghệ thuật trang trí, điêu
khắc...
Tượng
thờ
Hơn
200 năm kể từ khi còn là Quan Âm Viện, qua nhiều lần trùng
tu, chùa Giác Viên ngày nay càng được bổ sung mới nhiều
tượng. Chùa có 153 pho tượng, làm bằng gỗ mít, được tạo
tác vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tập trung
chủ yếu ở chánh điện (128 pho) với giá trị văn hóa, nghệ
thuật đặc sắc... Bộ tượng Thập bát La Hán, bộ Thập
điện Diêm Vương, bộ Phật và tứ chúng (Phật Thích Ca, Phổ
Hiền, Văn Thù, Quan Thế Âm, Đại Thế Chí), tượng Giám trai
vằng gốm sứ... là những di vật quan trọng, gây được sự
chú ý của các nhà nghiên cứu và khách tham quan.
Chánh
điện bao giờ cũng là nơi trung tâm của sự thờ cúng, ở
gian này có nhiều bàn thờ và bàn thờ ở chính giữa được
làm thành các bậc từ cao xuống thấp. Không có một công
thức chung cho sự bài trí tượng thờ ở các ngôi chùa trên
đất Việt, vị trí các tượng thay đổi linh hoạt tùy theo
từng ngôi chùa. Ở các ngôi chùa phía Nam, mỗi lần trùng
tu lớn, người ta thường tạo ra một loạt tượng mới để
tương ứng với sự bề thế của ngôi chùa, nhưng các tượng
cũ đều chưa bị hỏng thì cũng không bị bỏ đi, cộng với
các phật tử xa gần cúng vào chùa các pho tượng... Người
ta thường tìm cách sắp xếp tất cả những pho tượng đã
có sao cho hài hòa và phù hợp.
Bộ
tượng Thập bát La Hán được các nghệ nhân tạo tác với
dáng người to khỏe, ngực nở nang, mặt tròn đầy đặn,
sống mũi thẳng, bụng to, lưng dài...; với trang phục rất
giản đơn: áo choàng có nẹp ở cổ, đi hài trơn, miệng tươi
cười... thể hiện tính phóng khoáng, cởi mở không bị ràng
buộc. Qua hình dáng và trang phục của các tượng, ta thấy
ảnh hưởng của phong cách nghệ thuật Trung Hoa đã nhạt dần,
người xem cảm thấy được ý đồ của tác giả muốn thể
hiện các vị La Hán gần gũi hơn với người nông dân, rất
mộc mạc, chất phác và cuộc sống phóng khoáng no đủ của
cư dân người Việt trên vùng đất mới Phương Nam.
Bộ
tượng 5 vị hay gọi là bộ Phật và tứ chúng thể hiện
nét đặc trưng trong quá trình phát triển Phật giáo vào phía
Nam. Bộ tượng xuất hiện tại Nam Bộ vào giai đoạn đầu
thế kỷ XIX. Trong dân gian còn lưu truyền ý nghĩa của 5 vị
này có nguồn gốc từ truyện Phong Thần, Phật mang phong cách
Thượng Kỳ Thú, ngồi trên lưng thú đi can gián hai nhóm Thiên
Tiên và Địa Tiên, kêu gọi hai nhóm này trở về nguyên dạng
các con vật đã quy y phật; thể hiện hình ảnh đang hoằng
hóa, đang thị hiện nhập thế vào đời. Tư tưởng và mong
ước đưa giáo lý Phật giáo vào cuộc sống của cư dân Việt
ở Nam Bộ đã dần hình thành hệ thống tượng này. Trên
vùng đất mới, người dân ngoài nhu cầu cầu an khi sống,
họ còn có nhu cầu cầu siêu khi mất, nên bộ tượng 5 vị
này còn được tạo tác phổ biến dưới dạng phù điêu trên
các Sám Bài (Sám là bái sám; Bài là bài vị) dùng để mang
đi cúng tại các nhà Phật tử hoặc các buổi Trai đàn Thí
thực. Bộ tượng 5 vị của chùa Giác Viên là một trong những
nét sáng tạo độc đáo, góp phần làm sinh động văn hóa
Phật giáo khi vào vùng đất Nam Bộ.
Chùa
Giác Viên có lịch sử hình thành muộn hơn so với các ngôi
chùa cổ ở trong vùng, nhưng về giá trị văn hóa nghệ thuật
thể hiện trong trang trí kiến trúc thì có lẽ nó không chịu
nhường bất cứ ngôi chùa nào, kể cả chùa Giác Lâm. Các
nhà nghiên cứu và khách tham quan sẽ cảm thấy hài lòng và
thỏa mãn bởi nghệ thuật trang trí, chạm khắc gỗ cực kỳ
tinh xảo ở nơi đây: Bao lam (cửa võng), hoành phi, câu đối,
phù điêu từ chánh điện, nhà Tổ cho đến hành lang, Đông
Lang và Tây Lang.
Bao
lam (cửa võng)
Chùa
có 58 bao lam lớn nhỏ, đáng kể nhất là bao lam Bá Điểu,
nghệ nhân đã khéo léo sắp xếp tới gần 100 con chim lớn
nhỏ. Ngoài những chim thường gặp trong các đình chùa khác
như loan, phụng, công, trĩ... người ta còn thấy đông đủ
các loài chim quen thuộc trong sân vườn, đồng ruộng của
miền Nam như: cò, chim sẻ, chào mào, họa mi, chích chòe, bói
cá, le le,... với đủ mọi tư thế sinh động trong không khí
náo nhiệt của loài chim: con bay, con đậu, con đang tranh mồi,
đang nô đùa, có những con lại đang tỏ tình âu yếm... Bộ
bao lam này có thể nói là “độc nhất, vô nhị” ở Nam
Bộ, nghệ thuật trang trí ở đây làm cho người xem cảm giác
đang sống trong đời thực với những chi tiết cụ thể, gần
gũi với đời sống nông thôn, biểu lộ óc quan sát tinh tế
và tình yêu thiên nhiên của các nghệ nhân.
Tấm
bao làm Thập bát La Hán cũng rất đặc biệt. Các đám mây
được tạc làm nền gắn các tượng La Hán lại, mỗi bên
bao lam có 9 vị; mỗi vị cưỡi một con vật như: bò, dê,
nai, heo, chó, hươu, đến rồng, lân, báo, cọp, mèo; với tư
thế ngồi, chân co, chân duỗi khác nhau; tay mỗi vị cầm một
vật tượng trưng cho tính cách của mình: chày, thẻ bài, vòng
kim cô, đĩa trái cây, có vị lại ngồi ngoáy ráy tai cười
vui vẻ... Tấm bao lam này đã thể hiện phong cách nghệ thuật
mới, độc đáo, đặc sắc và đầy sáng tạo, đó là ngoài
việc để thờ phụng, các vị La Hán đã được các nghệ
nhân đưa lên bao lam để trang trí. Tấm bao lam này mang lại
nét vui tươi cho người xem qua gương mặt các vị La Hán hiền
hòa, phúc hậu vui tính... không thể tìm thấy được nét ưu
tư, khắc khổ, phiền não như các vị La Hán ở những chùa
phía Bắc. Điều này nói lên được tính phòng khoáng cộng
với sự sung túc, no đủ của cư dân vùng đất mới. Các
con vật cưỡi và phong cách của các vị La Hán đã mang lại
cho Phật giáo một tính cách dân dã, bình dị.
Còn
nhiều bao lam nổi tiếng với kỹ thuật chạm khắc công phu
như: Tô Vũ chăn dê, Lã Vọng câu cá, Khỉ bắt chim, Ngư tiều
canh mục..., đặc biệt là bao lam Hoa điểu tại nhà Trai gồm
có 3 bức tượng chạm lộng cả hai mặt với đề tài chim
muông cây cảnh và các loại hoa trái được khắc họa khéo
léo, tài tình. Người xem có thể thấy được những sợi
lông đuôi chim và các lá cây bay nghiêng theo chiều gió, những
cành tre nhỏ xíu thể hiện được cả đường gân, gai, đốt
mà khi nhìn vào ta có thể thấy được là tre già hay non, các
loại trái cây đang mùa chín rộ, cành cây nặng trĩu xuống...
Nhìn chung các đề tài của bao lam chùa Giác Viên có phân theo
công thức cổ nhưng họa tiết, cả về hình dáng và nội
tâm, thì lại là của những người dân ở vùng đất mới
phương Nam. Sự phá bỏ công thức này đã thể hiện rõ nhất
ở chỗ nghệ nhân không chỉ để các vị thần cưỡi các
linh vật như long, lân, quy, phụng... mà cả trâu, bò, dê, heo...
thậm chí cả những chú chó nghịch ngợm. Quả là Phật ở
đây không chỉ gọi là dân gian hóa mà có thể được gọi
là “Nam Bộ hóa”, chất Nam Bộ ở đây thể hiện rất rõ
nét trong hầu hết các bao lam của chùa Giác Viên.
Câu
đối
Chùa
có 128 câu đối, trong đó có 72 câu đối treo ở dạng liễn;
56 câu đối được chạm khắc hẳn vào thân những cột gỗ
cao lớn, đồ sộ. Các câu đối được khắc chìm vào cột
dày 1cm, nền sơn màu đen, thếp chữ màu vàng. Xung quanh viền
có trang trí phù điêu với nhiều chủ đề khác nhau, làm tôn
lên giá trị và nội dung của các câu đối. Các đề tài
quen thuộc trong Phật giáo như Thập bát La Hán, Bát Tiên, Tứ
linh, Rồng Mây... xem các đề tài quen thuộc, gần gũi với
cuộc sống thường nhật và cảnh vật xung quan như: Hoa điểu,
Sóc giác, bướm hoa, ong hoa, bầu bí, thú vật và cỏ cây...
Và nhiều chủ đề khác nói về cảnh vật nơi đây từ hơn
hai thế kỷ trước. Điều này cho chúng ta thấy được nơi
đây tuy là cõi Phật nhưng lại rất gần gũi với người
nông dân. Việc chạm khắc những câu đối tinh xảo lên thân
cột này chứng tỏ tay nghề rất điêu luyện của các nghệ
nhân, bởi lẽ chỉ cần một sơ xuất nhỏ cũng phải bỏ
đi một thân cây gỗ lớn.
Các
câu đối ở dạng Liễn tập trung chủ yếu ở nhà Trai, có
niên đại rất khác nhau do được cúng, tặng nhân dịp chùa
các các cuộc tế lớn, hoặc sau những lần trùng tu, phật
tử và các chùa ở nhiều nơi đem đến tặng... Các câu đối
này có dạng hình vuông phẳng, có hoa văn ngay ở trên thân
hoặc ở hai đầu, chữ được khắc chìm, thếp vàng trên
nền màu đỏ. Trong số liễn này, có 4 câu đối treo ở chánh
điện, có niên đại cuối thế kỷ XIX, được chạm trổ
hết sức tinh xảo và công phu. Toàn bộ nền của câu đối
được chạm trổ với đề tài Tứ linh, chữ được chạm
nổi lên trên các con vật này, sơn màu đen, nền màu vàng.
Đặc biệt là 4 câu đối này cùng chủ đề Tứ linh, nhưng
4 con vật trong những câu đối lại được thể hiện ở các
trạng thái khác nhau, tính cách khác nhau: Rồng có con đang
uốn lượn, con nhe răng cười, có con lại nép mình trong mây,
các con vật kia cũng đều thể hiện tính cách khác nhau khiến
người xem không thấy nhàm chán.
Các
câu đối của chùa Giác Viên tuy có một số câu bị trùng,
do được tặng và khi trùng tu vẫn giữ lại nhưng về nội
dung rất phong phú. Ngoài những giáo lý căn bản của Phật
thể hiện cung cách, oai nghi, phẩm hạnh; những câu khuyên
nhủ, ca tụng cuộc sống thanh tịnh ở cõi Phật thể hiện
tinh thần trong 5 bộ kinh của Phật giáo..., còn có những câu
đối ảnh hưởng của Nho giáo, Đạo giáo. Theo hòa thượng
Thích Huệ Viên, hiện đang trụ trì chùa thì những tên gọi,
các môn phái hoặc phổ hệ, kinh hệ, pháp giới... thường
chỉ nằm trong sách vở hoặc trong trí nhớ của các vị cao
tăng, còn đi đôi với số đông tu hành, nhất là các thiện
nam tín nữ thì việc thờ Thần, thờ Phật cũng không khác
việc thờ cúng ông bà tổ tiên, miễn sao trong tâm hướng
về cái thiện và cảm thấy thoải mái là được. Đây cũng
là tâm lý phổ biến của cư dân trong vùng thời bấy giờ
mà những gì còn lại được thể hiện rõ, cụ thể nhất,
đó là trong hệ thống câu đối của chùa Giác Viên.
Phù
điêu
Hệ
thống phù điêu của chùa Giác Viên đa dạng và tinh xảo không
kém so với các bao lam, câu đối. Ngoài việc làm nền cho các
câu đối, phù điêu còn được chạm khắc trên thân cột.
Qua hệ thống phù điêu, khung cảnh dân gian Nam Bộ hiện ra
rực rỡ dưới những đường nét chạm trổ khéo léo, tài
tình của nghệ nhân. Các phù điêu được chạm khắc với
những đề tài: Bát Tiên, Thập bát La Hán, Tứ linh... được
đặt và có chủ ý ở hai bên bàn thờ của chánh điện. Xung
quanh chánh điện và các gian khác, phù điêu được chạm khắc
với các đề tài dân dã, từ những con thú quý hiếm đến
những con vật bình thường và các loài cây cỏ, hoa lá thường
gặp trong cuộc sống hàng ngày của người nông dân. Hình
ảnh những con sóc đuổi nhau trên những dây bầu, bí; những
con chuột cắn đuôi nhau; những con ong đang đi tìm hoa hút
mật; những con bướm xòe khoe đôi cánh đẹp; những chú chim
đang hót gọi nhau, có con đang bới lá tìm sâu, chim sẻ đang
mớm mồi cho con ăn; những cánh hoa sen đang nở rộ chờ bướm
đến tìm nhụy, cành lá sen nhô lên khỏi mặt nước che cho
những con cá đang bơi lội tung tăng phía dưới... Khung cảnh
thiên nhiên Nam Bộ đã được các tác giả cụ thể hóa vào
thân cột, gợi lại cho người xem khung cảnh thực, sống động
ở nơi đây từ những thế kỷ trước.
Các
phù điêu được tạo tác cùng thời với các câu đối nên
có niên đại như nhau vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX, sau các lần trùng tu lớn. Ảnh hưởng phong cách nghệ
thuật chạm khắc nổi giai đoạn cuối thế kỷ XIX, có chú
ý sự đối xứng trên cách cột với nhau, hai cột đối xứng
thì có chung một đề tài. Phù điêu trên các thân cột tại
chùa, ngoài chức năng làm vật trang trí, nó cũng đem lại
một ý nghĩa lịch sử nhất định, minh chứng cho sự ảnh
hưởng của các luồng tư tưởng của Nho, Phật, Đạo vào
tâm thức người Việt ở phía Nam thời bấy giờ. Các đề
tài trên phần nào thể hiện, tâm tư, tình cảm của người
dân nơi đây: lòng yêu thiên nhiên, con người, óc thực tế
mang đậm đà phong cách dân gian.
Qua
nghệ thuật trang trí của chùa Giác Viên, ta có thể cảm nhận
được cái thiêng liêng, cao xa hòa quyện với những cái đơn
sơ, mộc mạc trong cuộc sống. Đối với cư dân vùng đất
mới, đạo Phật đã được bình dân hóa và được đưa về
gần gũi hơn với cuộc sống con người. Các mô típ trình
bày ở đây dường như đã vượt khuôn khổ, phá vỡ tính
ước lệ, thể hiện sự phóng khoáng trong tư tưởng và quan
điểm thẩm mỹ, có chiều hướng thoát ly dần sự bắt chước,
rập khuôn theo những ngôi chùa miền Trung và miền Bắc. Điều
này bước đầu đã thể hiện một phong cách mới, mang tính
hiện thực và đầy sáng tạo của điêu khắc gỗ đất Gia
Định.
Hệ
thống bao lam, câu đối và phù điêu ở chùa Giác Viên vượt
trội so với chùa Giác Lâm và một số ngôi chùa cổ trong
vùng, từ kỹ thuật chạm lộng đến các đề tài phong phú,
hữu tình, gần gũi với cuộc sống người nông dân chứ không
gò ép theo một khuôn nhất định với các chủ đề quen thuộc.
Theo chúng tôi, sở dĩ nghệ thuật trang trí chùa Giác Viên
có những bước phát triển vượt trội hơn so với chùa Giác
Lâm bởi một mặt nó ra đời muộn hơn nên các nghệ nhân
đã rút ra nhiều kinh nghiệm; mặt khác: có thể vào thế kỷ
XIX chùa Giác Lâm đóng vai trò là Tổ đình của phái Lâm Tế,
dòng đạo Bổn Ngươn, là trung tâm đào tạo Ứng Phú của
vùng Gia Định - một loại âm nhạc của Phật Giáo, cộng
với tính chất cởi mở, dễ chấp nhận và dễ hòa đồng
của cư dân nơi đây, vì vậy tư tưởng có phần phóng khoáng,
tự do.
Thành
phố Hồ Chí Minh là một thành phố trẻ với lịch sử hình
thành hơn 300 năk, những di tích kiến trúc nghệ thuật có
niên đại sớm không còn nhiều. Chùa Giác Viên là một trong
những di tích còn lưu lại nhiều hiện vật thể hiện được
bản sắc của văn hóa Phật giáo ở Nam Bộ. Nhiều nhà nghiên
cứu mỹ thuật đã đánh giá cao giá trị kiến trúc nghệ
thuật và điêu khắc của chùa Giác Viên, khẳng định đây
là một công trình quý hiếm, tiêu biểu cho nền nghệ thuật
chạm khắc gỗ ở đất Gia Định giai đoạn cuối thế kỷ
XIX. Là một di tích Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận di tích
lịch sử văn hóa cấp quốc gia, cho đến nay chùa Giác Viên
vẫn lưu giữ trong mình những giá trị đặc sắc được tích
tụ trong suốt quá trình tồn tại.
Với
những giá trị văn hóa nghệ thuật như vậy, có thể nói,
chùa Giác Viên là một trong những di tích có kiến trúc và
trang trí điêu khắc độc đáo, đặc sắc của vùng đất
Gia Định - Sài Gòn. Chùa Giác Viên không chỉ là trung tâm
sinh hoạt tâm linh của cộng đồng cư dân thành phố Hồ Chí
Minh mà còn là một điểm du lịch hấp dẫn cho du khác tham
quan trong và ngoài nước, là nơi thu hút các nhà nghiên cứu
và tất cả những ai muốn tìm hiểu về cội nguồn dân tộc,
về văn hóa dân gian Nam Bộ.
Lâm
Nhân