Hương
Sơn hay còn gọi là chùa Hương Tích, một danh lam thắng cảnh
nổi tiếng ở nước ta. Theo kinh Phật, Hương Sơn là một
ngọn núi ở phía Bắc Tuyết Sơn trong dãy Hy Mã Lạp Sơn (ấn
Độ) - nơi tuyên truyền Phật đến ngồi tu hành khổ hạnh.
Theo sách Hương Sơn thiên trù thiền phả thì chùa Hương Tích
được xây dựng từ đời Lê Chính Hòa (1680 - 1705) do một
vị hòa thượng tìm ra địa điểm. Hương Sơn thuộc huyện
Mỹ Đức (Hà Sơn Bình).
Hàng
năm, cứ mỗi độ xuân về vào tiết trời tháng Giêng, tháng
Hai, nơi đây lại diễn ra một ngày hội lớn. Dòng người
thiện nam, tín nữ (già, trẻ, gái, trai) lại tấp nập từ
khắp các miền của Tổ quốc đổ về Hương Sơn vãng cảnh.
Các thi sĩ mọi thời đại nối tiếp nhau đã dành cho phong
cảnh Hương Sơn kỳ thú những vần thơ ngợi ca vô tận, không
nơi nào sánh kịp.
Khu
danh thắng Hương Sơn cách Hà Nội quãng 60 km về phía Tây
Nam. Du khách tới Hương Sơn có thể đi bằng nhiều phương
tiện. Người ta đi xe hơi, xe máy, xe đạp từ Hà Nội qua
thị xã Hà Đông tới Vân Đình và vào Bến Đục để nhanh
chóng được thưởng thức cái nồng nàn, thi vị của giang
sơn cẩm tú:
Thú
Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kìa
non non, nước nước, mây mây,
"Đệ
nhất động" hỏi là đây có phải"?
Từ
Bến Đục Khê tới Hương Sơn có hai đường thủy, bộ. Đường
thủy, ngồi trên đò, dọc theo suối Yến hai bên bờ là cảnh
núi non ẩn hiện trong làn sương mỏng, phong cảnh ảo mộng
như vào động tiên trong các huyền thoại. Thuyền lướt đi
giữa dòng suối trong vắt như pha lê nhìn rõ từng đàn cá
bơi lội, tung tăng và các lớp rong, phù du sinh vật. Du khách
có cảm giác mơn man giữa làn gió xuân nhẹ thổi nhễ quanh
quất đâu đây vần thơ của Chu Mạnh Trinh còn vang vọng:
"Giữa
dòng đáy nước lồng gương,
Mượn
chèo ngư phủ đưa đường Đào Nguyên."
Từ
dưới thuyền, du khách có thể hướng tầm nhìn; một phong
cảnh núi non ẩn hiện trong cảnh trời xuân dìu dịu. Đây
núi Ngũ Nhạc (năm quả núi), cầu Hội, hang "Sơn thủy hữu
tình", núi Đụn, núi Voi Phục, đây núi Thuyền Rồng, núi
Con Phượng, trên núi có khắc bốn chữ :"Kỳ sơn, thủy tú".
Và hàng loạt tên núi mà người xưa gọi theo hình dáng núi
Ông Sư, núi Bà Vãi, núi Mâm Xôi, núi Trông, núi Chiêng...
Thuyền
đò lướt nhẹ, đưa du khách tới đền Trình trước khi vào
chùa chính. Theo truyền thuyết triết lý nhân gian và phong tục,
khi khách đến đây phải thắp hương trình với "Sơn thần".
Rồi từ đền Trình, du khách lại xuống thuyền len lỏi theo
dòng suối lượn uốn khúc quanh co giữa hai dãy núi để tới
hang Bà. Trước hang hiện ra cả một vùng non nước nhễ bức
tranh thủy mạc. Đó đây những sắc vàng xanh chen lẫn của
lá cây, của cỏ non và rau sắng. Một loại rau ăn ngọt nhễ
đường mà thi sĩ Tản Đà đã nhắc tới trong một bài thơ
gửi cho nữ sĩ "ẩn danh" qua nhà "dây thép". Xa xa trên sườn
núi thấp thoáng bóng những tiều phu đi đốn củi, và nhởn
nhơ ven đồi từng đàn dê đang gặm cỏ. Du khách có thể
thấy những đóa mẫu đơn tươi thắm nở hai bên sườn núi
và những giò phong lan phô sắc dưới trời xuân. Hòa lẫn
trong cảnh vật chim hót, thông reo là những dòng nước bạc
ào ào trút xuống từ các sườn non, khe núi, phong cảnh thực
là:
"Muôn
hồng nghìn tía tưng bừng.
Suối
nghe thét nhạc, thông rừng dạo sênh".
Từ
giã hang Bà, thuyền tiếp tục đễa khách viễn du trên dòng
suối. Du khách còn đang mơ màng trước cảnh vật thì đột
nhiên phảng phất mùi hương hoa đưa tới. Và bỗng:
"Thoảng
bên tai một tiếng chày Kình,
Khách
tang hải bỗng giật mình trong mộng".
Thuyền
dừng mái. Khách lên bờ. Chùa Thiên Trù (Bếp Nhà trời) đã
hiện ra trước mắt. Ơở đây, còn gọi là chùa Ngoài hay
chùa Trò, được xây dựng từ thế kỷ 18. Chùa Thiên Trù
có tháp Thiên Thủy (một mỏm đá mọc ngược nhễ hình cây
tháp) và Viên Công bảo tháp với những đường nét chạm
khắc tinh vi. Bên phải chùa Thiên Trù là động Tiên Sơn nổi
tiếng với năm pho tượng tạc bằng đá và nhũ đá trên vách
động khi gõ vào âm vang như tiếng khánh, tiếng chuông. Quanh
chùa Thiên Trù, bốn bề núi cao sừng sững và hàng trăm ngọn
tháp xây từ các triều đại phong kiến. Và đây là những
khu khách sạn vừa được xây dựng khang trang để đón khách.
Còn kia một chiếc hồ hình bán nguyệt xây rất công phu, thả
cá, trồng sen thơm ngát. Tới Thiên Trù, khách có thể dừng
chân, vãng cảnh nghỉ ngơi một hai ngày, sau đó tiếp tục
cuộc hành hương vào chùa Trong (động Hương Tích). Khách có
thể thưởng lãm những cảnh đẹp, am, động như Chu Mạnh
Trinh đã mô tả trong thơ:
"Này
suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng,
Này
am Phật Tích, này động Tuyết Quynh".
Đường
vào động Hương Tích thì thật diệu kỳ. Một lối mòn len
lỏi, bằng những tấm đá được thiên nhiên mài nhaün xếp
nối nhau gập gềnh lúc lên cao, xuống thấp quanh co lượn
theo các triền núi đá. Bốn bề vắng lặng, hương hoa rừng
thơm ngát. Du khách được hít thở khí trời nồng nàn xuân
sắc của cỏ cây hoa lá. Và đôi lúc nhễ được nhìn núi
thở, mây sà dưới chân cùng với bản hòa tấu của thiên
nhiên: chim ca, vượn hót, tiếng róc rách của dòng nước từ
khe sâu ào ra ngõ tựa khúc nhạc cống, xang, hồ nhễ thi sĩ
Dương Khuê đã tả:
"Khen
ai khéo lựa tơ đồng
Cống,
Xang, hồ đủ tam cung nhịp nhàng".
Tới
động Hương Tích, quang cảnh càng bộn bề sơn dã. Rừng cây
xanh ngát thăm thẳm bốn bề. Xa xa thấp thoáng rừng mơ dưới
chân đồi. Cao Bá Quát khi xưa đến đây đã xúc động làm
"mười khúc thơ vịnh Hương Sơn", đây là khúc thứ tám:
"Tám
khúc bên non lắm vẻ xinh
Rừng
mơ hoa kết, quả đầy cành
Giấc
tiên mơ tưởng mình tiên thật
Gặp
gỡ nhìn ra kẻ mắt xanh".
Động
Hương Sơn nằm trong một hang núi. Thế kỷ 18, khi Trịnh Sâm
tới đây đã khắc lên cửa động: "Nam thiên đệ nhất động".
Theo truyền thuyết và ngọc phả thì động này tìm ra cách
đây hơn hai nghìn năm, nhưng mãi tới năm 1575, nhân dân mới
dựng chùa và lập bàn thờ Phật. Bước vào động một cảnh
sắc kỳ diệu hiện ra trong ánh sáng huyền diệu mờ ảo,
thật là:
"Nhác
trông lên ai khéo vẽ hình
Đá
ngũ sắc long lanh như gấm dệt
Thăm
thẳm một hang lồng bóng nguyệt
Gập
ghềnh mấy lối uốn thang mây".
(Chu
Mạnh Trinh)
Trong
động Hương Tích có rất nhiều nhũ đá tạo thành những
hình thù đẹp đẽ như: núi cây Gạo, cây Vàng, Buồng Tằm,
Nong Kén, núi Cô, núi Cậu (gồm những hòn đá giống hệt
nhễ đầu trẻ em; theo tiềm thức của người xễa, các bà,
các chị hiếm con thường đến đây vuốt ve, xoa đầu "cầu
tự" mong đức Phật ban cho một "cậu"). Ngoài ra, động còn
có các tượng Vua Cha, Hoàng hậu, Phật Quan âm, Kim đồng,
Ngọc nữ... Đặc biệt là tòa Cửu Long là những nhũ đá
lớn long lanh hình chín con rồng từ phía trên chầu xuống.
Hương
Sơn còn có nhiều đền, chùa, hang động hấp dẫn khác như
Long Vân, Tuyết Sơn, Hinh Bồng... Nhất là hang Ông Bẩy (Sũng
Sâm) cách chùa Long Vân khoảng hai cây số, được tìm thấy
từ năm 1975. Hang này là nơi cư trú của người xưa cách đây
hàng chục nghìn năm. Tới Hương Sơn, ngoài cảnh đẹp kỳ
thú tuyệt vời, khi ra về du khách còn có một thứ đặc sản
nổi tiếng làm quà cho người thân, người yêu. Đó là mơ
Hương Tích và rau sắng. Trái mơ ở đây, do chất đất mọc
ở vùng núi đá vôi nên có những hương vị kỳ lạ: dày
cùi, nhỏ hạt, quả chín có vị ngọt chua chua mà không chát.
Chọn mơ cũng có nhiều loại: mơ Nứa: màu da hơi trắng, quả
tròn, nhiều nước. Mơ đào: hơi giống quả đào, quả to,
đầu nhọn. Mơ mép giải: có chấm đỏ, quả không to. Mơ
bồ hóng: quả có chấm đen, để hay bị nẫu, ăn không ngon,
nên ít trồng. Gần đây, có giống mơ song thọ: quả to gần
bằng quả trứng gà con so, song cũng không ngon bằng mơ Hương
Tích.
Kỳ
thú Hương Sơn là vậy, mong ai đó có một lần trong đời
hãy tới Hương Sơn.
Hoàng
Điệp