THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 

 

c
Những Ngôi Chùa Việt Nam
TỈNH HÀ TÂY
CHÙA THIÊN TRÙ HƯƠNG SƠN
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4

Đi Chùa Hương

Hương Sơn hay còn gọi là chùa Hương Tích, một danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở nước ta. Theo kinh Phật, Hương Sơn là một ngọn núi ở phía Bắc Tuyết Sơn trong dãy Hy Mã Lạp Sơn (ấn Độ) - nơi tuyên truyền Phật đến ngồi tu hành khổ hạnh. Theo sách Hương Sơn thiên trù thiền phả thì chùa Hương Tích được xây dựng từ đời Lê Chính Hòa (1680 - 1705) do một vị hòa thượng tìm ra địa điểm. Hương Sơn thuộc huyện Mỹ Đức (Hà Sơn Bình).

Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về vào tiết trời tháng Giêng, tháng Hai, nơi đây lại diễn ra một ngày hội lớn. Dòng người thiện nam, tín nữ (già, trẻ, gái, trai) lại tấp nập từ khắp các miền của Tổ quốc đổ về Hương Sơn vãng cảnh. Các thi sĩ mọi thời đại nối tiếp nhau đã dành cho phong cảnh Hương Sơn kỳ thú những vần thơ ngợi ca vô tận, không nơi nào sánh kịp.

Khu danh thắng Hương Sơn cách Hà Nội quãng 60 km về phía Tây Nam. Du khách tới Hương Sơn có thể đi bằng nhiều phương tiện. Người ta đi xe hơi, xe máy, xe đạp từ Hà Nội qua thị xã Hà Đông tới Vân Đình và vào Bến Đục để nhanh chóng được thưởng thức cái nồng nàn, thi vị của giang sơn cẩm tú:

Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kìa non non, nước nước, mây mây,
"Đệ nhất động" hỏi là đây có phải"?

Từ Bến Đục Khê tới Hương Sơn có hai đường thủy, bộ. Đường thủy, ngồi trên đò, dọc theo suối Yến hai bên bờ là cảnh núi non ẩn hiện trong làn sương mỏng, phong cảnh ảo mộng như vào động tiên trong các huyền thoại. Thuyền lướt đi giữa dòng suối trong vắt như pha lê nhìn rõ từng đàn cá bơi lội, tung tăng và các lớp rong, phù du sinh vật. Du khách có cảm giác mơn man giữa làn gió xuân nhẹ thổi nhễ quanh quất đâu đây vần thơ của Chu Mạnh Trinh còn vang vọng:

"Giữa dòng đáy nước lồng gương,
Mượn chèo ngư phủ đưa đường Đào Nguyên."

Từ dưới thuyền, du khách có thể hướng tầm nhìn; một phong cảnh núi non ẩn hiện trong cảnh trời xuân dìu dịu. Đây núi Ngũ Nhạc (năm quả núi), cầu Hội, hang "Sơn thủy hữu tình", núi Đụn, núi Voi Phục, đây núi Thuyền Rồng, núi Con Phượng, trên núi có khắc bốn chữ :"Kỳ sơn, thủy tú". Và hàng loạt tên núi mà người xưa gọi theo hình dáng núi Ông Sư, núi Bà Vãi, núi Mâm Xôi, núi Trông, núi Chiêng...

Thuyền đò lướt nhẹ, đưa du khách tới đền Trình trước khi vào chùa chính. Theo truyền thuyết triết lý nhân gian và phong tục, khi khách đến đây phải thắp hương trình với "Sơn thần". Rồi từ đền Trình, du khách lại xuống thuyền len lỏi theo dòng suối lượn uốn khúc quanh co giữa hai dãy núi để tới hang Bà. Trước hang hiện ra cả một vùng non nước nhễ bức tranh thủy mạc. Đó đây những sắc vàng xanh chen lẫn của lá cây, của cỏ non và rau sắng. Một loại rau ăn ngọt nhễ đường mà thi sĩ Tản Đà đã nhắc tới trong một bài thơ gửi cho nữ sĩ "ẩn danh" qua nhà "dây thép". Xa xa trên sườn núi thấp thoáng bóng những tiều phu đi đốn củi, và nhởn nhơ ven đồi từng đàn dê đang gặm cỏ. Du khách có thể thấy những đóa mẫu đơn tươi thắm nở hai bên sườn núi và những giò phong lan phô sắc dưới trời xuân. Hòa lẫn trong cảnh vật chim hót, thông reo là những dòng nước bạc ào ào trút xuống từ các sườn non, khe núi, phong cảnh thực là: 

"Muôn hồng nghìn tía tưng bừng.
Suối nghe thét nhạc, thông rừng dạo sênh".

Từ giã hang Bà, thuyền tiếp tục đễa khách viễn du trên dòng suối. Du khách còn đang mơ màng trước cảnh vật thì đột nhiên phảng phất mùi hương hoa đưa tới. Và bỗng:

"Thoảng bên tai một tiếng chày Kình,
Khách tang hải bỗng giật mình trong mộng".

Thuyền dừng mái. Khách lên bờ. Chùa Thiên Trù (Bếp Nhà trời) đã hiện ra trước mắt. Ơở đây, còn gọi là chùa Ngoài hay chùa Trò, được xây dựng từ thế kỷ 18. Chùa Thiên Trù có tháp Thiên Thủy (một mỏm đá mọc ngược nhễ hình cây tháp) và Viên Công bảo tháp với những đường nét chạm khắc tinh vi. Bên phải chùa Thiên Trù là động Tiên Sơn nổi tiếng với năm pho tượng tạc bằng đá và nhũ đá trên vách động khi gõ vào âm vang như tiếng khánh, tiếng chuông. Quanh chùa Thiên Trù, bốn bề núi cao sừng sững và hàng trăm ngọn tháp xây từ các triều đại phong kiến. Và đây là những khu khách sạn vừa được xây dựng khang trang để đón khách. Còn kia một chiếc hồ hình bán nguyệt xây rất công phu, thả cá, trồng sen thơm ngát. Tới Thiên Trù, khách có thể dừng chân, vãng cảnh nghỉ ngơi một hai ngày, sau đó tiếp tục cuộc hành hương vào chùa Trong (động Hương Tích). Khách có thể thưởng lãm những cảnh đẹp, am, động như Chu Mạnh Trinh đã mô tả trong thơ:

"Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng,
Này am Phật Tích, này động Tuyết Quynh".

Đường vào động Hương Tích thì thật diệu kỳ. Một lối mòn len lỏi, bằng những tấm đá được thiên nhiên mài nhaün xếp nối nhau gập gềnh lúc lên cao, xuống thấp quanh co lượn theo các triền núi đá. Bốn bề vắng lặng, hương hoa rừng thơm ngát. Du khách được hít thở khí trời nồng nàn xuân sắc của cỏ cây hoa lá. Và đôi lúc nhễ được nhìn núi thở, mây sà dưới chân cùng với bản hòa tấu của thiên nhiên: chim ca, vượn hót, tiếng róc rách của dòng nước từ khe sâu ào ra ngõ tựa khúc nhạc cống, xang, hồ nhễ thi sĩ Dương Khuê đã tả:

"Khen ai khéo lựa tơ đồng
Cống, Xang, hồ đủ tam cung nhịp nhàng".

Tới động Hương Tích, quang cảnh càng bộn bề sơn dã. Rừng cây xanh ngát thăm thẳm bốn bề. Xa xa thấp thoáng rừng mơ dưới chân đồi. Cao Bá Quát khi xưa đến đây đã xúc động làm "mười khúc thơ vịnh Hương Sơn", đây là khúc thứ tám:

"Tám khúc bên non lắm vẻ xinh
Rừng mơ hoa kết, quả đầy cành
Giấc tiên mơ tưởng mình tiên thật
Gặp gỡ nhìn ra kẻ mắt xanh".

Động Hương Sơn nằm trong một hang núi. Thế kỷ 18, khi Trịnh Sâm tới đây đã khắc lên cửa động: "Nam thiên đệ nhất động". Theo truyền thuyết và ngọc phả thì động này tìm ra cách đây hơn hai nghìn năm, nhưng mãi tới năm 1575, nhân dân mới dựng chùa và lập bàn thờ Phật. Bước vào động một cảnh sắc kỳ diệu hiện ra trong ánh sáng huyền diệu mờ ảo, thật là:

"Nhác trông lên ai khéo vẽ hình
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây".
(Chu Mạnh Trinh)

Trong động Hương Tích có rất nhiều nhũ đá tạo thành những hình thù đẹp đẽ như: núi cây Gạo, cây Vàng, Buồng Tằm, Nong Kén, núi Cô, núi Cậu (gồm những hòn đá giống hệt nhễ đầu trẻ em; theo tiềm thức của người xễa, các bà, các chị hiếm con thường đến đây vuốt ve, xoa đầu "cầu tự" mong đức Phật ban cho một "cậu"). Ngoài ra, động còn có các tượng Vua Cha, Hoàng hậu, Phật Quan âm, Kim đồng, Ngọc nữ... Đặc biệt là tòa Cửu Long là những nhũ đá lớn long lanh hình chín con rồng từ phía trên chầu xuống.

Hương Sơn còn có nhiều đền, chùa, hang động hấp dẫn khác như Long Vân, Tuyết Sơn, Hinh Bồng... Nhất là hang Ông Bẩy (Sũng Sâm) cách chùa Long Vân khoảng hai cây số, được tìm thấy từ năm 1975. Hang này là nơi cư trú của người xưa cách đây hàng chục nghìn năm. Tới Hương Sơn, ngoài cảnh đẹp kỳ thú tuyệt vời, khi ra về du khách còn có một thứ đặc sản nổi tiếng làm quà cho người thân, người yêu. Đó là mơ Hương Tích và rau sắng. Trái mơ ở đây, do chất đất mọc ở vùng núi đá vôi nên có những hương vị kỳ lạ: dày cùi, nhỏ hạt, quả chín có vị ngọt chua chua mà không chát. Chọn mơ cũng có nhiều loại: mơ Nứa: màu da hơi trắng, quả tròn, nhiều nước. Mơ đào: hơi giống quả đào, quả to, đầu nhọn. Mơ mép giải: có chấm đỏ, quả không to. Mơ bồ hóng: quả có chấm đen, để hay bị nẫu, ăn không ngon, nên ít trồng. Gần đây, có giống mơ song thọ: quả to gần bằng quả trứng gà con so, song cũng không ngon bằng mơ Hương Tích.

Kỳ thú Hương Sơn là vậy, mong ai đó có một lần trong đời hãy tới Hương Sơn.

Hoàng Điệp


 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap