Hội
chùa Hương, hội chùa lớn nhất trong cả nước bắt đầu
từ rằm tháng giêng kéo dài đến hết tháng ba âm lịch. Trẩy
hội chùa Hương, khách thập phương không chỉ đến với ngôi
chùa trong động Hương Tích "đẹp nhất trời Nam" mà còn để
thưởng thức cảnh đẹp của non nước Hương Sơn với những
suối Yến, chùa Trò, am Phật tích, động Tuyết Quỳnh... tất
cả như một bức tranh "sơn thủy hữu tình".
Cảnh
đẹp Hương Sơn rất đa dạng, rất phong phú, rất thực mà
cũng rất mộng, rất trần thế mà cũng rất thần tiên. Cảnh
đẹp như thơ, như vẽ, như nhạc bồi dưỡng tinh thần ta,
nâng cao tâm hồn ta, giúp ta thêm cảm hứng trong tình yêu núi
sông đất nước. Cảnh giúp cho tình. Cảnh cũng là tình. Với
ý nghĩa ấy, nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu coi cảnh
đẹp Hương Sơn như "một bức tranh tình":
Chùa
Hương trời điểm lại trời tô
Một
bức tranh tình trải mấy thu
Xuân
lại, xuân đi, không dấu vết
Ai
về ai nhớ, vẫn thơm tho...
Bao
nhiêu năm tháng đến và đi, "bức tranh" ấy vẫn tươi trẻ,
không có dấu vết gì của tuổi tác. Sau những ngày làm việc
căng thẳng, sang xuân được chút giờ phút nghỉ ngơi du ngoạn,
ta vào xem "bức tranh", vào hẳn "bức tranh", rồi từ trong "tranh"
đi ra, mang theo một mùi hương thanh nhẹ của "bầu trời cảnh
Bụt" góp với hương vị của cuộc sống đời thường. Có
lẽ vì cái mùi hương thanh nhẹ ấy mà người xưa đặt tên
thắng cảnh là Hương Sơn và danh lam là chùa Hương... Nét
trội nhất, đặc sắc nhất của vẻ đẹp thiên nhiên Hương
Sơn là sự hài hòa giữa non và nước, tạo nên một vẻ đẹp
tuyệt vời, xứng với bốn chữ "Sơn thủy hữu tình" khắc
trên vách đá.
Xưa
nay trong ngôn ngữ thường dùng cũng như trong thực tế của
cảnh thiên nhiên, sông hay đi với núi, nước hay đi với non.
Đành rằng có nơi chỉ có non cũng đủ làm nên một cảnh
đẹp nhưng sao bằng những nơi có cả non nước kết đôi
như trong thơ: Thề non nước của Tản Đà.
Dãy
núi Hương Sơn không đẹp ở chiều cao, mà đẹp ở chiều
dài, chiều rộng, ở cái thế quần tụ, ở bố cục nhịp
nhàng giữa núi với núi, lại nhịp nhàng giữa núi với nước.
Những
dòng suối Hương Sơn - đặc biệt là suối Yến - không đẹp
ở sự mênh mông mà đẹp ở sự buông thả hiền hòa, uyển
chuyển giữa hai triền núi.
Trên
đường vào chùa Hương, thú vị nhất là đi đò suối Yến.
Những cô gái làng Yến Vĩ vừa xinh đẹp vừa khỏe mạnh
cứ đến ngày xuân là chở khách vào hội chùa.
Trong
không khí vui say, ta gặp vô số những chiếc đò đầy như
đò ta đang ngồi, cũng đầy những mầu sắc khăn áo, đầy
những tiếng cười nói của các chàng trai cô gái. Ta đồng
hành với những vạt lúa xanh viền hai mép suối, với những
con le, con cốc thỉnh thoảng bay vù từ mặt nước lên, với
đàn chim sáo ríu rít trên chùm hoa gạo đỏ rực mầu hội
hè, với những đốm trắng dê núi nhảy nhót, cheo leo...
Đò
suối Yến đỗ bến Thiên Trù, khách lên thăm cảnh chùa Thiên
Trù (chùa Trò) nghỉ ngơi rồi lên đường núi qua thăm chùa
Thiên Sơn, chùa Giải Oan, am Phật tích, động Tuyết Quỳnh...
Đường núi dẫn vào động - chùa Hương Tích tuy có khúc khuỷu
nhưng rất đẹp như Chu Mạnh Trinh đã tả trong thơ:
Gập
ghềnh mấy lối uốn thang mây***
"Nam
thiên đệ nhất động"
Đó
là danh hiệu cao quý của động - chùa Hương Tích, trung tâm
điểm của thắng cảnh Hương Sơn, và tiêu biểu cho cả một
vùng thắng cảnh. Trong ngôn ngữ thường dùng, chùa Hương
gần như đồng nghĩa với toàn bộ cảnh đẹp Hương Sơn.
Nói "đi chùa Hương" tức là nói "vào thăm cảnh Hương Sơn
nói chung" chứ không riêng gì động Hương Tích. Nhưng ví thử
có người nào lần đầu tiên vào thăm cảnh Hương Sơn mà
không vào thăm động Hương Tích thì cũng có như đi không
đến nơi.
Vào
cửa động Hương Tích trông lên trên vách đá thấy ngay năm
chữ "Nam thiên đệ nhất động" (Động đẹp nhất trời Nam)
nghe như một lời ca tuyệt vời hàm súc. Năm chữ ấy là chữ
viết tay của chúa Trịnh Sâm, khắc vào đá năm Canh Dần (1770).
Vào
trong động ai chẳng thích thú đến say mê trước vẻ đẹp
lạ thường của những nhũ đá tưởng nhễ những công trình
điêu khắc tuyệt tác của thiên nhiên. Nhũ đá ở đây có
khối to, có khối nhỏ, có cái đẹp ở toàn khối, có cái
đẹp ở dáng dấp tinh vi, có cái rủ từ trên trần xuống,
có cái mọc từ dưới đất lên. Tất cả đều tùy theo hình
dáng mà được đặt những cái tên rất nôm na rất trần
thế, biểu hiện những mơ ước của con người.
Trước
hết là Đụn Gạo đồ sộ, bước vào cửa động đã trông
thấy. Gạo là cái quan trọng hàng đầu nên Đụn Gạo trong
động nhà Phật cũng ở vào vị trí hàng đầu. Dưới chân
Đụn Gạo có một hõm đá nhỏ xíu gọi là Cối Giã. Gần
Đụn Gạo là Núi Cô và Núi Cậu. Núi Cô nhỏ hơn Núi Cậu
nhưng giống nhau ở chỗ có những hình em bé nằm nghiêng,
nằm sấp hoặc đang bò lổm ngổm, đầu nhaün thín. Núi Cô
ở ngang tầm với Cửu Long tranh châu (Chín con rồng tranh hòn
ngọc). Núi Cậu ngang tầm với Sữa Mẹ quanh năm suốt tháng
rỏ xuống không ngừng.
Cùng
một hàng dọc với Núi Cô, Núi Cậu và lui vào phía trong là
Cây Bạc, Cây Vàng ngồn ngộn chất chứa những hình tròn
như những đồng tiền vàng bạc lấp lánh. Vào trong góc động
gần tận cùng sẽ thấy Chuồng Lợn, Ao Bèo, Nong Tằm, Né
Kén... Toàn là những hình ảnh bằng nhũ đá.
Bên
cạnh những "công trình điêu khắc thiên nhiên" là các kiểu
nhũ đá, trong động còn có những công trình điêu khắc nhân
tạo. Giá trị nhất về mặt nghệ thuật điêu khắc, không
những trong động Hương Tích mà kể cả trong toàn bộ hệ
thống chùa chiền ở Hương Sơn là pho tượng Phật Bà Quan
Âm bằng đá xanh tạc vào thời Tây Sơn, sức quật cường
của dân tộc đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nghệ thuật,
kể cả nghệ thuật tôn giáo. Người tạc tượng không nhắm
mắt khuôn theo những ước lệ saün có về tượng Phật là
mặt phải vuông, tai phải to mà một phần dựa vào truyện
thơ Nôm tả chân dung bà Chúa Ba "cổ cao ba ngấn, miệng cười
trăm hoa", một phần rút từ những nét đẹp của những người
có thực để tạc tượng Phật Bà.
Pho
tượng có dáng người thon thon, mặt trái xoan, nét thanh tú,
đầu đội mũ Tì Lễ (tức là mũ Bồ Tát) nhưng lại có búi
tóc và tóc mai, sau lưng có hai món tóc buông xuống. Tà áo
mềm mại. Chỗ ngồi giống như một tảng đá sù sì, lại
cũng giống như một gốc cổ thụ. Chân trái để trần, đặt
lên một bông sen nở. Chân phải co lên. Hai chân co duỗi thật
thoải mái. Tay phải cầm một viên minh châu (ngọc sáng). Bên
cạnh bông hoa sen dưới chân, lá sen tỏa ra mềm mại như có
gió lay động. Người thợ tài tình đã hoàn toàn làm chủ
được chất liệu đá mà mình sử dụng. Xin trích dẫn ở
đây mấy câu thơ tôi viết trong bài "Tượng phật Quan Âm":.
..Hồn
thơ thấm sâu nhiều vẻ mặt
Mặt
bà, mặt mẹ, mặt quê hương
Thần
thông bỗng nhập vào dao khắc
Tạo
vẻ từ bi đẹp lạ thường...
Trần
Lê Văn
Xem
tiếp bài Ký Sự Ði Chùa Hương