THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 

 

c
Những Ngôi Chùa Việt Nam
TỈNH HÀ TÂY
CHÙA THIÊN TRÙ HƯƠNG SƠN
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trẩy Hội Chùa Hương
 
Hội chùa Hương, hội chùa lớn nhất trong cả nước bắt đầu từ rằm tháng giêng kéo dài đến hết tháng ba âm lịch. Trẩy hội chùa Hương, khách thập phương không chỉ đến với ngôi chùa trong động Hương Tích "đẹp nhất trời Nam" mà còn để thưởng thức cảnh đẹp của non nước Hương Sơn với những suối Yến, chùa Trò, am Phật tích, động Tuyết Quỳnh... tất cả như một bức tranh "sơn thủy hữu tình". 

Cảnh đẹp Hương Sơn rất đa dạng, rất phong phú, rất thực mà cũng rất mộng, rất trần thế mà cũng rất thần tiên. Cảnh đẹp như thơ, như vẽ, như nhạc bồi dưỡng tinh thần ta, nâng cao tâm hồn ta, giúp ta thêm cảm hứng trong tình yêu núi sông đất nước. Cảnh giúp cho tình. Cảnh cũng là tình. Với ý nghĩa ấy, nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu coi cảnh đẹp Hương Sơn như "một bức tranh tình":

Chùa Hương trời điểm lại trời tô
Một bức tranh tình trải mấy thu
Xuân lại, xuân đi, không dấu vết
Ai về ai nhớ, vẫn thơm tho...

Bao nhiêu năm tháng đến và đi, "bức tranh" ấy vẫn tươi trẻ, không có dấu vết gì của tuổi tác. Sau những ngày làm việc căng thẳng, sang xuân được chút giờ phút nghỉ ngơi du ngoạn, ta vào xem "bức tranh", vào hẳn "bức tranh", rồi từ trong "tranh" đi ra, mang theo một mùi hương thanh nhẹ của "bầu trời cảnh Bụt" góp với hương vị của cuộc sống đời thường. Có lẽ vì cái mùi hương thanh nhẹ ấy mà người xưa đặt tên thắng cảnh là Hương Sơn và danh lam là chùa Hương... Nét trội nhất, đặc sắc nhất của vẻ đẹp thiên nhiên Hương Sơn là sự hài hòa giữa non và nước, tạo nên một vẻ đẹp tuyệt vời, xứng với bốn chữ "Sơn thủy hữu tình" khắc trên vách đá.

Xưa nay trong ngôn ngữ thường dùng cũng như trong thực tế của cảnh thiên nhiên, sông hay đi với núi, nước hay đi với non. Đành rằng có nơi chỉ có non cũng đủ làm nên một cảnh đẹp nhưng sao bằng những nơi có cả non nước kết đôi như trong thơ: Thề non nước của Tản Đà.

Dãy núi Hương Sơn không đẹp ở chiều cao, mà đẹp ở chiều dài, chiều rộng, ở cái thế quần tụ, ở bố cục nhịp nhàng giữa núi với núi, lại nhịp nhàng giữa núi với nước.

Những dòng suối Hương Sơn - đặc biệt là suối Yến - không đẹp ở sự mênh mông mà đẹp ở sự buông thả hiền hòa, uyển chuyển giữa hai triền núi.

Trên đường vào chùa Hương, thú vị nhất là đi đò suối Yến. Những cô gái làng Yến Vĩ vừa xinh đẹp vừa khỏe mạnh cứ đến ngày xuân là chở khách vào hội chùa.

Trong không khí vui say, ta gặp vô số những chiếc đò đầy như đò ta đang ngồi, cũng đầy những mầu sắc khăn áo, đầy những tiếng cười nói của các chàng trai cô gái. Ta đồng hành với những vạt lúa xanh viền hai mép suối, với những con le, con cốc thỉnh thoảng bay vù từ mặt nước lên, với đàn chim sáo ríu rít trên chùm hoa gạo đỏ rực mầu hội hè, với những đốm trắng dê núi nhảy nhót, cheo leo...

Đò suối Yến đỗ bến Thiên Trù, khách lên thăm cảnh chùa Thiên Trù (chùa Trò) nghỉ ngơi rồi lên đường núi qua thăm chùa Thiên Sơn, chùa Giải Oan, am Phật tích, động Tuyết Quỳnh... Đường núi dẫn vào động - chùa Hương Tích tuy có khúc khuỷu nhưng rất đẹp như Chu Mạnh Trinh đã tả trong thơ:

Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây***
"Nam thiên đệ nhất động"

Đó là danh hiệu cao quý của động - chùa Hương Tích, trung tâm điểm của thắng cảnh Hương Sơn, và tiêu biểu cho cả một vùng thắng cảnh. Trong ngôn ngữ thường dùng, chùa Hương gần như đồng nghĩa với toàn bộ cảnh đẹp Hương Sơn. Nói "đi chùa Hương" tức là nói "vào thăm cảnh Hương Sơn nói chung" chứ không riêng gì động Hương Tích. Nhưng ví thử có người nào lần đầu tiên vào thăm cảnh Hương Sơn mà không vào thăm động Hương Tích thì cũng có như đi không đến nơi.

Vào cửa động Hương Tích trông lên trên vách đá thấy ngay năm chữ "Nam thiên đệ nhất động" (Động đẹp nhất trời Nam) nghe như một lời ca tuyệt vời hàm súc. Năm chữ ấy là chữ viết tay của chúa Trịnh Sâm, khắc vào đá năm Canh Dần (1770).

Vào trong động ai chẳng thích thú đến say mê trước vẻ đẹp lạ thường của những nhũ đá tưởng nhễ những công trình điêu khắc tuyệt tác của thiên nhiên. Nhũ đá ở đây có khối to, có khối nhỏ, có cái đẹp ở toàn khối, có cái đẹp ở dáng dấp tinh vi, có cái rủ từ trên trần xuống, có cái mọc từ dưới đất lên. Tất cả đều tùy theo hình dáng mà được đặt những cái tên rất nôm na rất trần thế, biểu hiện những mơ ước của con người.

Trước hết là Đụn Gạo đồ sộ, bước vào cửa động đã trông thấy. Gạo là cái quan trọng hàng đầu nên Đụn Gạo trong động nhà Phật cũng ở vào vị trí hàng đầu. Dưới chân Đụn Gạo có một hõm đá nhỏ xíu gọi là Cối Giã. Gần Đụn Gạo là Núi Cô và Núi Cậu. Núi Cô nhỏ hơn Núi Cậu nhưng giống nhau ở chỗ có những hình em bé nằm nghiêng, nằm sấp hoặc đang bò lổm ngổm, đầu nhaün thín. Núi Cô ở ngang tầm với Cửu Long tranh châu (Chín con rồng tranh hòn ngọc). Núi Cậu ngang tầm với Sữa Mẹ quanh năm suốt tháng rỏ xuống không ngừng.

Cùng một hàng dọc với Núi Cô, Núi Cậu và lui vào phía trong là Cây Bạc, Cây Vàng ngồn ngộn chất chứa những hình tròn như những đồng tiền vàng bạc lấp lánh. Vào trong góc động gần tận cùng sẽ thấy Chuồng Lợn, Ao Bèo, Nong Tằm, Né Kén... Toàn là những hình ảnh bằng nhũ đá.

Bên cạnh những "công trình điêu khắc thiên nhiên" là các kiểu nhũ đá, trong động còn có những công trình điêu khắc nhân tạo. Giá trị nhất về mặt nghệ thuật điêu khắc, không những trong động Hương Tích mà kể cả trong toàn bộ hệ thống chùa chiền ở Hương Sơn là pho tượng Phật Bà Quan Âm bằng đá xanh tạc vào thời Tây Sơn, sức quật cường của dân tộc đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nghệ thuật, kể cả nghệ thuật tôn giáo. Người tạc tượng không nhắm mắt khuôn theo những ước lệ saün có về tượng Phật là mặt phải vuông, tai phải to mà một phần dựa vào truyện thơ Nôm tả chân dung bà Chúa Ba "cổ cao ba ngấn, miệng cười trăm hoa", một phần rút từ những nét đẹp của những người có thực để tạc tượng Phật Bà.

Pho tượng có dáng người thon thon, mặt trái xoan, nét thanh tú, đầu đội mũ Tì Lễ (tức là mũ Bồ Tát) nhưng lại có búi tóc và tóc mai, sau lưng có hai món tóc buông xuống. Tà áo mềm mại. Chỗ ngồi giống như một tảng đá sù sì, lại cũng giống như một gốc cổ thụ. Chân trái để trần, đặt lên một bông sen nở. Chân phải co lên. Hai chân co duỗi thật thoải mái. Tay phải cầm một viên minh châu (ngọc sáng). Bên cạnh bông hoa sen dưới chân, lá sen tỏa ra mềm mại như có gió lay động. Người thợ tài tình đã hoàn toàn làm chủ được chất liệu đá mà mình sử dụng. Xin trích dẫn ở đây mấy câu thơ tôi viết trong bài "Tượng phật Quan Âm":.

..Hồn thơ thấm sâu nhiều vẻ mặt
Mặt bà, mặt mẹ, mặt quê hương
Thần thông bỗng nhập vào dao khắc
Tạo vẻ từ bi đẹp lạ thường...

Trần Lê Văn

 
Xem tiếp bài Ký Sự Ði Chùa Hương


 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap