Chùa
Tây Phương ở núi Tây Phương, xã Thạch Xá, huyện Thạch
Thất, Hà Tây. Theo các tài liệu để lại thì chùa xây từ
đời Cao Biền (865-875). Vào niên hiệu Chính Hoà (1680-1705),
Tây Vương Trịnh Tạc đi qua thấy cảnh trí trang nghiêm, bèn
truyền
cho sửa chữa lại chùa và xây tam quan. Sau đó chùa bị phá.
Chùa Tây Phương còn đến nay đã được xây lại trên nền
chùa cũ, vào khoảng 1788-1789 dưới triều Tây Sơn. Hiện trong
chùa còn chuông đồng đúc năm Bính Thìn 1796, năm Cảnh Thịnh
thứ 4 và bài Minh do Phan Huy ích soạn khắc vào chuông năm
Mậu Ngọ (Cảnh Thịnh thứ 6).
Chùa
Tây Phương xây 3 toà xếp thành hình chữ tam (=), nhìn bề
ngoài mỗi toà có hai tầng, 8 mái và 8 đầu đao cong vút. Toà
giữa hẹp nhưng cao hơn toà thượng và hạ. Do xếp hình chữ
tam, không nối liền mà mỗi toà cách nhau một quảng nhất
định, thềm toà nọ cách thềm toà kia là 1m60, nên nội thất
mỗi toà đều được chiếu sáng. Các toà nhà gạch trần
theo hình cong và được chạm trổ theo kiểu "bán âm, bán dương",
hay kiểu "sắc sắc không không" theo triết lý nhà Phật. Phía
trong chùa dựng theo lớp chồng giừơng thống nhất, chồng
cột có xà đỡ.
Nghệ
thuật trang trí kiến trúc Chùa Tây Phương được biểu hiện
qua các đề tài: rồng phượng, hoa, lá ở trên các vì xà,
van nong... với kỹ thuật chạm bẹt (chạm nông).
Về
tượng Chùa Tây Phương là những di sản quý giá những tượng
Phật và tượng các vị tổ. Tổng công có 62 pho tượng. Trong
đó tượng của 18 vị Phật Tổ được các nghệ nhân tạo
tác một cách tinh vi tài giỏi, sinh động.
Lịch
Sử
Chùa
Tây Phương dựng trên đỉnh núi Tây Phương thuộc xóm Tây
Phương của thôn Yên xã Thạch Xá huyện Thạch Thất tỉnh
Hà Tây. Nhiều tư liệu thư tịch và truyền truyền thuyết
cho hay núi Tây Phương còn gọi là núi Câu Lậu. Sách xưa Việt
sử thông giám cương mục và thơ Phan Huy Iích gọi tên chùa
theo tên núi là Chùa Tây Phương. Cổng chùa và một bức hoành
trong chùa đều ghi rõ Tây Phương Cổ Tự. Nhưng tất cả bia
và chuông hiện còn đều ghi tên chùa là Sùng Phúc ở trên
núi Tây. Phương. Trong khu vực núi Tây Phương xưa nay có 3
chùa : Quan Âm ở chân núi, Am Thanh ở lưng chừng và Sùng Phúc
ở trên đỉnh. Sách Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (NXB KHXH, năm
1993) trang 230 giới thiệu tóm tắt 2 văn bản bia chùa Quảng
Phúc và chuông chùa Sùng Phúc ở cùng một địa phương và
cho biết đều là những tên của chùa Tây Phương. Tấm bia
mang tên "Quảng Phúc tự hưng công tu tạo thạch bi" ở tình
trạng "bia vỡ", "chữ mờ" vì thế có lẽ chữ Quảng chính
là chữ Sùng, dựng năm 1639.
Trong
bài thơ Qúa Tây Phương Sơn tự ( Thăm chùa núi Tây Phương)
làm năm 1788, Phan Huy ích viết ở câu 3 : "Cát lệnh dễ sa
đôi xích nhưỡng" đã tả cảnh núi: Đan sa còn dễ của quan
lệnh họ Cát chất thành đống đất đỏ. Và ông ghi chú
: "Núi Tây Phương xưa có tên là núi Câu Lậu. Sách sử chép
rằng : Đời Tấn có Cát Hồng thích việc luyện đan, biết
núi Câu Lậu có đan sa bèn xin làm chức lệnh Giao Chỉ, tức
là vùng đất này". Đá núi xám đỏ nay vẫn còn, song không
có dấu tích gì của việc luyện đan ở đây.
Trong
sách Sơn Tây địa chí (1939), Phạm Xuân Độ dẫn lời tâu
của Cao Biền với vua Đường ghi trong truyện Kiều Cao Vương:
" Tại cấp giữa núi Câu Lậu có huyệt đế vương, thần
đã làm chùa để yểm". Trần Trọng Kim trong sách Phật lục
cũng dẫn truyền thuyết trên, song nghi ngờ ngay: " Kể thực
ra, thì không có di tích gì làm bằng chứng cả".
Một
số sách báo viết về chùa Tây Phương cho rằng được xây
dựng vào thời Mạc, nhưng không chứng minh. Niên đại này
có thể tin được, vì đầu thế kỷ XVII vào những năm 30
chùa đã phải sửa chữa lớn, hơn nữa trong chùa còn hai tấm
bia đều bị mờ hết chữ nhưng còn đọc được rõ tên bia
ở mặt ngoài là Tín thí và Tây Phương sơn Sùng Phúc tự
thạch bi (mặt bia kia áp vào tường hồi toà chùa giữa nên
không đọc được), các hoa văn trang trí thuộc phong cách nghệ
thuật cuối TK XVI sang đầu TK XVlI.
Ngoài
sân vườn, cạnh gốc cây sung có tấm bia Tây Phương sơn Sùng
Phúc tự bị mờ gần hết nhưng còn vài dòng in rập cẩn
thận có thể đọc được những thông tin rất quý: "Đại
Việt quốc Sơn Tây trấn Quốc Oai phủ...Ngày 12 tháng 11 năm
Nhâm Thân trùng tu chùa Sùng Phúc núi Tây Phương, dựng Thượng
điện 3 gian, Hậu đường và hành lang 22 gian... Ngày 2 tháng
2 năm Ất Hợi đặt hội an tượng, khai quang điểm nhỡn...
Nguyên soái tổng quốc chính sễ phụ Thanh Vương..." Thanh Vương
là niên hiệu của chúa Trịnh Tráng (1623-1657), như vậy năm
Nhâm Thân sửa chùa là 1632 và năm Ât Hợi an tượng là 1635,
phù hợp với hoa văn trang trí thuộc phong cách nửa đầu TK
XVII. Quy mô chùa có Thượng điện ở giữa, Hậu đường phía
sau, Hành lang dài ở hai bên, và tất nhiên phía trước phải
có Tiền đường, đã được xây dựng theo kiểu "nội Công
ngoại Quốc" giống như nhiều chùa cùng thời.
Tấm
bia Quảng Phúc tự hưng công tu tạo thạch bi (được đề
cập ở phần trên) cho biết năm Kỷ Mão - 1639, chùa Tây Phương
được vị sư trụ trì cùng các hội chủ (như công chúa Trịnh
Thị Ngọc Thể và chính phi Trịnh Thị Ngọc Tài... ) góp tiền
tô tượng và sửa chùa. Có thể coi đây là đợt tu sửa bổ
sung hay kéo dài của lần trùng tu chùa năm 1632 và an tượng
chùa năm 1635. Pho tượng Quan Âm Nam Hải 12 tay (tượng mới
bị mất và đã làm lại, bệ cũ vẫn còn) với lối chạm
trau chuốt, khối hình duyên dáng, các nếp áo cân đối, các
hoa văn trang trí mềm mại, khuôn mặt phúc hậu... được các
chuyên gia xếp vào nửa đầu TK XVll, có lẽ thuộc đợt an
tượng năm 1635.
Theo
tấm bia Thập phương tín thí thạch bi dựng năm Canh Ngọ niên
hiệu Chính Hoà II (1690) thi lúc này chùa Tây Phương được
chúa Trịnh Căn cho tu sửa lớn, làm Tam quan, ngoài kinh phí
của triều đình còn huy động sự đóng góp của nhân dân
từ nhiều vùng xa gần, trong đó có những người ở tận
Tiên
Du
và Từ Sơn thuộc xứ Bắc (Bắc Ninh). Nhưng ngày nay chưa tìm
được dấu tích của đợt tu sửa này.
Sách
Việt sử thông giám cương mục cho biết chúa Trịnh Giang (1729
- 1740) đã cho tu sửa quy mô nhiều chùa, trong đó có chùa Tây
Phương được bắt đầu từ 1735, kéo dài đến 1740 Trịnh
Doanh lên ngôi chúa cũng là lúc khởi nghĩa nông dân rầm rộ
mà sử cũ gọi là "Đại loạn năm Canh Thân", đã cho ngừng
lại. Phan Huy ích nhiêu lần đề cập đến đợt tu sửa này.
Trong bài thơ Quá Tây Phương sơn tự (Qua chùa núi Tây Phương)
làm năm 1788, ông viết ở lời chú "Còn tượng Phật chùa
chiền dựng trên đỉnh núi, là vào khoảng niên hiệu Vĩnh
Hựu (1735 - 1740), Thuận Vương (Trịnh Giang) có uỷ cho viên
Trung sứ đến xây". Thậm chí mãi đến năm 1809 khi làm bài
thơ Thu đăng Tây Phễơng sơn tự ký kiến (Mùa thu trèo lên
chùa núi Tây Phường ghi lại những cảnh nhìn thấy) cũng
ghi lại trong lời chú rằng chúa Trịnh Giang từng sai sửa
chùa và tạc "mười pho tượng cực kỳ khéo léo". Ngay cả
năm 1798 viết bài văn dài Sùng Phúc tự chung để khắc lên
quả chuông đúc sau khi dựng chùa 2 năm, ông khăớng định
ngay ở đoạn mở đầu : "Trước đây dưới triều vua Lê
niên hiệu Vĩnh Hựu, vua sai trung sứ xây dựng lại thiền
viện to lớn, điêu khắc tượng pháp, chế tác pháp âm tiếng
kêu vang bên tai". Những sử liệu trên rất thống nhất khăớng
định đợt tu sử lớn từ 1735 đến 1740. Nhễng đoạn sau
bài văn chuông, Phan Huy Iích cho biết tiếp: "Kịp khi vật đổi
sao dời, vạn vật biến đổi, cảnh chùa u tịch, chuông đồng
chăớng còn, mà chùa ngày thêm đổ nát... Mùa đông năm Mậu
Thân (1788) tôi đến nơi đây, nhìn bóng tùng xễa mà lòng
bồi hồi nhớ lại cảnh cũ!" Nhễ vậy cho đến cuối đời
Lê - Trịnh, chùa Tây Phương đã đổ nát, may chăng còn được
ít tượng.
Hiện
tại trong chùa có bộ tượng Tam Thế và pho A Di Đà ngồi
trên toà sen được gọt tỉa cầu kỳ, họa tiết trên áo
và nhất là cái tán phía sau các pho tượng Tam Thế được
chạm khắc lộng lẫy, toàn thể cân đối nhễng công thức
nên nghiêm trang đến lạnh lùng, sự mượt mà do tỉa tót
công phu nên khô cứng... Nhưng tính chất tạo tượng này hoàn
toàn phù hợp phong cách nghệ thuật đầu TK XVIII, có thể
nằm trong số "mười pho tượng cực kỳ khéo léo" tạc trong
đời Vĩnh Hựu.
Sau
phần nói về quá khứ, Phan Huy Iích trong bài văn chuông trở
về hiện tại: "Nay may gặp lúc thịnh thời, Phật giáo hưng
thịnh, thiện nam tín nữ trong ấp quyên góp tiền của công
sức, hưng công tu tạo và đúc quả chuông lớn nặng chừng
200 cân. Tiếng chuông lại ngân vang nhễ xưa. Mỗi khi rảnh
rỗi, tôi thường đến đây thăm thú". Chính ông là hội chủ
đứng ra hưng công đúc chuông, năm 1796 đã cúng 10 quan tiền
cổ, năm 1798 lại nhận lời các vị kỳ lão trong thôn viết
bài minh văn chuông.
Cùng
với nguồn sử liệu trên, xà nóc của toà chùa trong còn ghi
năm xây dựng là "Giáp Dần niên quý đông cát nhật tạo"
và năm sửa chữa: "Bính Tuất niên mạnh xuân cát nhật tu
lý".
Năm
Giáp Dần ở đây gắn với năm Mậu Ngọ - 1798 viết minh văn
chuông, hăớn là năm 1794, đã dựng lại chùa theo đúng kiểu
chùa Kim Liên (Hà Nội) dựng năm 1792 được ghi rõ bằng can
chi trên xà nóc là Nhâm Tý và bằng niên hiệu vua Quang Trung
5 trên bia đá. Lần làm lại chùa ở thời Tây Sơn này đến
nay vẫn còn hầu nhễ nguyên vẹn. Một số sửa chữa ở thời
Nguyễn vào năm Bính Tuất mà các cụ già ở địa phương
còn nhớ "thuộc đời vua Tự Đức",
có
thể ứng với năm 1886, nhưng sửa nhỏ không ảnh hưởng đến
kết cấu và trang trí kiến trúc thời Tây Sơn. Lần làm lại
chùa cuối thế kỷ XVIII đã làm thêm rất nhiều tễợng gỗ
mà nay vẫn còn: các vị Phật, các vị Bồ Tát, các vị Tổ
kế đăng, các vị Kim Cương... có phong cách khắc hăớn tượng
các thời khác.
Trước
đây một số tài liệu dựa vào lời kể của người già
địa phương cho rằng đời Tự Đức tạc thêm một số tượng.
Nhưng những tượng này lại được nói rõ xuất xứ muộn
hơn một chút trong tấm bia Nam Mô A Di Đà Phật dựng năm Khải
Định 9 (1924) ở lòng tháp Phương Viên: Nhà sư Thanh Ngọc
đến chùa Sùng Phúc trụ trì từ năm Thành Thái 5 (1893), đã
cùng các "thân hào kỳ lí trong xã hội họp nhất trí tu tạo
và sửa sang 3 toà tự vũ, nhiều lần chấn chỉnh,
đồng
thời tạc tượng Quan Âm trăm tay, cùng tượng Thiện Tài và
Long Nữ. Cũng trong thời gian này còn tô lại Bát bộ Kim Cương
và Thập bát La Hán vàng son lộng lẫy, lại dựng một toà
thờ Tổ, một pho tượng truyền thần... Ngày 1 tháng 9 năm
Canh Thân (1920) làm lễ trà tì ghi trong Phật lục để lưu
truyền dài lâu. "Như vậy các tượng Kim Cương và Tổ kế
đăng (mà ở đây gọi là La Hán) đã có từ thời Tây Sơn,
giờ được sơn thếp lại, còn tượng Quan Âm trăm tay cùng
hai tượng Thiện Tài và Long Nữ mới được tạc khoảng năm
1920. Cũng cần kể thêm một số tễợng nữa như bộ Thập
điện Diêm Vương, Phạm Thiên, Đế Thích, Quan Âm tống tử,
Sơn thần và quan hầu cận... đều thuộc phong cách nghệ thuật
thời Nguyễn muộn cuối thế kỷ XIX có thể thuộc đời Tự
Đức (?).
Trên
xà nóc của toà chùa ngoài còn ghi hai niên đại sửa chùa:
"Canh Tý niên trọng thu cát nhật tu lý - Việt Nam dân chủ
cộng hoà thập tứ niên mạnh xuân trùng tu: Lần sửa sau rõ
ràng là năm 1958 thì lần sửa trước vào năm Canh Tý hẳn
là gắn với nhà sư Thanh Ngọc ứng với năm 190. Những lần
sửa chữa này hoặc nhỏ, hoặc đã mang ý thức bảo tồn
nên không làm thay đổi phong cách nghệ thuật của cha ông.
Cũng
như tháp mộ, một kiến trúc phụ nhưng quan trọng là miếu
Sơn Thần mà dân địa phương gọi là đền Trình xây ngay
ở góc bên trái trước sân chùa, trên xà nóc còn viết dòng
chữ Hán: "Quý Dậu niên xuân nhị nguyệt sơ thập nhật Ngọ
thời trùng tu Thiên Cổ miếu" cho biết kiến trúc này đã
được sửa chữa lớn vào năm Quý Dậu - 1935. Trong miếu,
ngoài bức hoành phi thiên cổ miếu muốn khẳng định miếu
thờ thần Núi có từ xa xưa, thì bức hoành phi trạc quyết
linh xác định vị trí tối linh của thần quét sạch bụi
trần, có ghi lạc khoản Đinh Mùi (- 1907?) đều nói về lớp
văn hoá - kiến trúc bổ sung ở đầu thế kỷ XX.
Nhà
tổ và điện Mẫu hiện tại ở sau khu Tam bảo là sự chuyển
dịch vài mươi năm trước từ khoảng đất bên phải khu Tam
bảo, nhưng lối kết cấu và trang trí kiến trúc đều cùng
khẳng định niên đại ban đầu của nó không thể sớm hơn
đầu thế kỷ XX, nó làm cho cảnh chùa thêm hoàn hảo, gắn
bó Phật giáo với tín ngưỡng bản địa và thế giới tâm
linh với cuộc sống thực tại.
Thế
nhưng chính trong thời đại chúng ta, từ định hướng "hiện
đại hoá" xã hội, đôi khi chúng ta lại muốn "làm mới cho
đẹp" đã vi phạm cảnh quan và chức năng di tích. Con đường
lên chùa vốn là một lối mòn ẩm có rêu mọc quanh những
tảng đá ong xếp tự nhiên, để cuộc trẩy hội chùa như
đi trên thảm nhung mà nhịp chân luôn thay đổi, thì nay được
xây bậc đều đặn, khô khốc như cầu thang hun hút lên đỉnh
ngôi nhà 15 tầng! Đầu đường dốc xây thêm một cái cổng
nửa Tam quan chùa, nửa Nghi môn đền, và cuối đường xây
thêm một nhà khách mà dường như chẳng bao giờ mở cửa!
mấy pho tượng quan âm bị mất hồi đầu thập niên 90, giờ
đã làm lại song có ảnh mẫu mà vẫn như sáng tác mới. Thậm
chí có lúc đã sơn lại tượng y phục bóng nhoáng không ăn
nhập với da thịt làm cho đầu và tay cứ như phân thân lơ
lửng! May mà thời gian dần làm nhoà cho. Tất nhiên cái tích
cực là chúng ta đã hạn chế được sự phá hoại của thời
gian, giữ cho dân tộc một di sản sáng giá.