Mặt
bằng kiến trúc chùa Tây Phương khác hẳn nhiều chùa đã
dẫn đến sự sắp xếp tượng pháp cũng theo lối riêng -
nhất là đối với khu Tam bảo.
Trong
sách Phật lục, Trần Trọng Kim cho chúng ta một sơ đồ bài
trí tượng ở chùa Tây Phương trước Cách mạng, so với mặt
bằng bài trí hiện tại, khu gian giữa với những tượng chính
rất ít thay đổi, song với những tượng kết hợp và tượng
ở các gian bên thì thay đổi rất nhiều: Bộ tượng Tam toà
Thánh mẫu và chư vị các cô trước được thờ ở gian giữa
toà chùa trong, nay chuyển sang điện mẫu ở gian bên nhà Tổ
phía sau. Bộ tượng Kim Cương 8 pho trước chia đôi 4 pho thờ
ở toà ngoài và 4 pho thờ ở toà trong, nay tập trung tất cả
ra toà chùa ngoài. Bộ tượng Thập điện Diêm Vương trước
chia ra hai hàng xếp dọc 2 tường hồi toà chùa giữa, nay chuyển
về gian giữa của toà chùa trong ở quanh hương án. Bộ tượng
14 pho trước gọi là La Hán bày dàn hàng ngang theo tường hậu
các gian bên của toà chùa trong, và 2 pho nữa bày ở cuối
2 hồi của toà chùa giữa, thì nay cả 16 pho được xác định
là các Tổ kế đăng bày ở tường hồi và tường hậu của
toà chùa trong (trừ gian giữa). Tượng hai vị thị nữ trước
thờ ở gian giữa toà chùa trong, nay đưa ra toà chùa ngoài
đặt cạnh Thiện Tài và Long Nữ ở hai bên pho quan Âấm trăm
tay. Tượng Kỳ Đà thiên tướng, Thổ Địa và Sơn thần (có
lẽ là giám trai hiện nay) trước đều thờ ở toà chùa ngoài,
nay chuyển sang bày ở phía ngoài của tường hồi toà chùa
giữa. Hai pho tượng hậu trước thờ ở đầu ngoài hai tường
hồi toà giữa, nay chuyển về trước ban thờ Tam toà Thánh
Mẫu ở nhà Tổ. Hai pho tượng Quan Âm Nam Hải và Quan Âm Tống
Tử trước thờ ở gian giữa toà chùa trong, nay chuyển ra cuối
đầu hồi của toà giữa.
Những
thay đổi trên xác định Phật điện có sự ổn định ở
phật chính, còn phần phụ và phần kết hợp do quan niệm
và nhận thức của từng thời có thể điều chỉnh cho thích
hợp. Và với tinh thần trên, ngày nay nếu cần vẫn có thể
điều chỉnh tiến tới có một Phật Điện hoàn hảo hơn.
Kiến
trúc chùa lớn phổ biến là kiểu "nội Công ngoại Quốc"
ngoài khu Tam bảo chữ Công còn Hành lang ở hai bên và Hậu
đường ở đằng sau, hay ít ra khu Tam bảo chữ Đinh, do đó
có tiền đường chủ yếu bày tượng Hộ pháp nên còn gọi
là chùa Hộ, có Thiêu hương cơ bản để nhà sư thắp hương
ngồi tụng niệm, có Thượng điện bày hệ thống tượng
Phật - Bồ Tát và những nhân vật liên quan. Mặt bằng kiến
trúc chữ Tam lại đòi hỏi cách bày khác với một hệ thống
tượng thích hợp.
1.
Chùa Tây Phương không có bộ tượng Hộ pháp khuyến thiện
và Trừng Aác như hầu hết các chùa, vị thần tướng bảo
vệ Phật pháp ở đây là Thái tử Kỳ Đà con Vua Ba Tư Nặc
nước Xá Vệ. Ngài có khu vườn ở vị trí thuận tiện, lại
có nhiều cây cối cho hoa quả có mùi hương u nhã, rất thích
hợp cho đức Phật giảng kinh. Cư sĩ Cấp Cô Độc đã dùng
vàng mua đất, còn Thái tử cúng cây, hai người cùng dâng
đức Phật và quy Phật pháp. Cấp Cô Độc được giao cai
quản các cảnh chùa, còn Kỳ Đà lại vâng sắc chỉ đức
Phật hộ trì Phật pháp trong ba châu, trở thành Tam châu Hộ
pháp. Ngài là thiên tướng, tượng được thể hiện đứng
nghiêm trên những đám mây đùn cao, mặc áo giáp đội mũ
trụ, hai tay chắp trước ngực theo ấn liên hoa, thanh kiếm
gác trên cánh tay để ngang trước ngực. Là võ tướng nhưng
thân hình phốp pháp, mặt hiền hậu, dáng uy nghi chững chạc.
Mang tư cách Hộ pháp, Kỳ Đà đáng ra phải được đặt ở
toà chùa ngoài, nhưng nay nhường chỗ cho bát bộ Kim Cương.
Tượng Thái tử Kỳ Đà là một pho tượng "lớn như Hộ pháp"
đặt ở gian hồi mái lan xuống thâaas gần chạm đầu tượng,
cái không gian hạn hẹp càng làm cho tượng bức bối muốn
vươn ra nhưng lại biết kiềm chế với thế đứng nghiêm
gác kiếm. Ngoại hình và nội tâm của Kỳ Đà khăớng định
một phong cách khác Lê và Nguyễn, thuộc một giai đoạn mới
của nghệ thuật đầy sức sống là Tây Sơn.
2.
Kim Cương là lực sĩ thiên thần cầm chày kim cương hoặc
một thứ vũ khí rắn, đem thần lực để hộ trì Phật pháp,
tay kia đặt ở thế quyền. Chùa Tây Phương có 8 tượng Kim
Cương đều đứng trên mây, trong đó 5 vị mặt đỏ, gân
guốc, cương nghị và 3 vị mặt trắng nhân hậu. Bản thân
tên Kim Cương đã thể hiện tính chất cứng rắn không thể
phá vỡ, là vật báu quý nhất và là thứ vũ khí tốt nhâaas.
Bộ tượng ở chùa Tây Phương gồm 8 pho là:
1.
Thanh Trừ Tai Kim Cương
2.
Tích Độc Thần Kim Cương
3.
Hoàng Tuỳ Cầu Kim Cương
4.
Bạch Tịnh Thuỷ Kim Cương
5.
Xích Thanh Hoả Kim Cương
6.
Định Trừ tai Kim Cương
7.
Tử Hiền Thần Kim Cương
8.
Đại Thần Lực Kim Cương
Tất
cả đều là võ tướng, chân tay và khuôn mặt đang phối hợp
với nhau trong những thế võ, có cả tính cương và tính nhu,
không những ngoại hình phù hợp giải phẫu cơ thể mà còn
toát ra nội tâm cương nghị mà đôn hậu. Trong bài các vị
La Hán chùa Tây Phương, Huy Cận đã giành khổ thơ thứ 3 để
nói về các vị Kim Cương:
Có
mắt vị giương, mày nhíu xệch
Trán
như nổi sóng biển luân hồi
Môi
cong chua chát, tâm hồn héo
Gân
vặn bàn tay mạch máu sôi.
Mà
đúng ra là gắn với 5 vị Kim Cương mặt đỏ - một dạng
của Hộ pháp trừng ác. Còn 3 vị Kim Cương mặt trắng lại
là một dạng khác của Hộ pháp khuyến thiện, theo tính chất
Kim Cương phải cầm võ khí, sonh khuôn mặt bầu bĩnh, mảng
khối căng nuột, võ khí cũng chỉ cầm hờ, dáng vẻ khuyến
khích. Cả 8 vị kim Cương đều cao lớn hơn hăớn người
thực, ngoại hình cân đối, nội tâm rất người, áo giáp
bó sát thân song ống tay, mép tà và dải lụa lại rất bay
và mềm mại rõ chất vải lụa. Phong cách ấy chỉ thấy ở
thời Tây Sơn, trước đó chưa có, sang Nguyễn bắt chước
nhưng gượng, cứng.
3.
Toà chùa ngoài với tính tiền đường, nhưng không như các
chùa thông thường, ở đây gian giữa được thờ tượng Quan
Âm thiên thủ thiên nhãn với những người giúp việc là thiện
tài, Long Nữ và hai Thị nữ. Nhóm tượng này được tấm
bia dựng năm 1924 nói rõ là được làm ở đầu thế kỷ XX,
song lại có mẫu từ vài thế kỷ trước, nó thiên về cái
đẹp hiện thực đời thường. Quan Âm thiên thủ thiên nhãn
vốn là vị Bồ Tát nhân hậu nhất, quảng đại từ bi, luôn
thấu suốt nỗi khổ của chúng sinh để rồi ra tay cứu vớt,
được mọi người thường xuyên kêu cầu. Ơở đây thờ
ngài ngay toà chùa ngoài cho gần đời, mọi người vào chùa
thấy ngay và do đó vơi đi nỗi khổ, nhận ngay được ý nghĩa
tên chùa Sùng Phúc. Quan Âm thiên thủ ở đây có hơn trăm
tay (112?), tất cả đều là những cánh tay lớn, được xếp
chen chúc nhưng rất hợp lý, cân đối hai bên, cánh tay trần
nõn nà, đeo vòng, bàn tay cầm vật báu hoặc kết ấn, trong
đó đôi tay chính từ vai ra được kết ấn chuẩn đề ở
trước ngực - do đó còn gọi là "Quan Âm chuẩn đề". Trăm
tay mà như hai tay đang múa ở những thời điểm chuyển tiếp,
làm cho tượng kết hợp được cả nghệ thuật không gian
và nghệ thuật thời gian. Tượng lớn hơn người thực, chùa
ở đỉnh núi, song đầu thập niên 90 đã bị kẻ gian lấy
mất, năm 1993 được tạc lại pho khác thay thế, dù theo ảnh
cũ nhưng sự bắt chước nào mà chăớng vụng dại!
Bốn
pho tượng nhỏ ở hai bên, vốn xưa chỉ có Thiện Tài và
Long Nữ, còn hai pho Thị giả là chuyển từ nhà trong ra. Những
pho này gần với loại tượng trang trí, được chạm khá tỉ
mỉ, tinh khéo, dáng có chất hài, kết hợp được vẻ đẹp
mỹ thuật với mỹ nghệ, là sự chuyển tiếp của phong cách
Tây Sơn.
Toà
chùa giữa đáng ra ở nhiều chùa là toà Thiêu hương giành
cho nhà sư ngồi tụng kinh trước bàn thờ đèn hương trang
trọng, nếu có tượng thường là bộ Thập điện Diêm Vương
bày ở hai bên tường, phía ngoài có bộ Giám Trai và Thổ
Địa. ở nơi chuyển tiếp Tiền đường sang Thiêu hương.
Ơở chùa Tây Phương, tình hình khác hăớn, nhà này không
có chỗ hành lễ của sư tăng, toàn bộ gian giữa là phần
chính của Phật điện, dọc tường của hai gian bên được
bày tượng tổng hợp từ Tiền đường đến Thượng điện,
nhưng bộ tượng Thập điện Diêm Vương lại chuyển vào giữa
toà chùa trong.
Phần
phụ ở gian bên, ngoài tượng Thái Tử Kỳ Đà ở giữa hồi
bên trái (đã nói ở trên), hai bên đối diện nhau các bộ
Giám Trai và Thổ Địa ở phía ngoài, Quan Âm Nam Hải và Quan
Âm Tống Tử ở phía trong. Hai tượng Quan Âm này thông thường
được bày ở cuối các gian bên của toà Thượng điện để
vừa trang trọng vừa gần đời.
4.
Quan Âm Nam Hải là một dạng của Quan Âm chuẩn đề hay Quan
Âm thiên thủ, đặc điểm là có một con quỷ (?) nhô đầu
lên mặt bể đội toà sen mà tượng ngồi. Tượng có 12 tay
nên còn gọi là Quan Âm thập nhị tý, gồm một đôi tay chắp
trước ngực, một đôi tay để trên đùi và 4 đôi tay xoè
ngang chếch lên ở hai bên sườn, khuôn mặt trái xoan với
đôi mắt khép hờ muốn thu mọi hoạt động vào nội tâm,
đầu đội mũ thiên quan với những bông hoa nổi khối tươi
rói, cổ cao 3 ngấn kiêu sa, thân hình thon thả, các nếp áo
gấp chảy xuôi xuống nuột nà phủ lấy chân, toàn thể biểu
hiện vẻ đẹp duyên dáng kín đáo của phụ nữ Việt Nam,
cũng toát lên tình cảm đôn hậu tế nhị.
Bệ
tượng gồm 3 phần gắn bó hữu cơ với nhau: Phần dưới
là đế biểu trưng bể nước trong hình bát giác có mặt bên
chạm rồng võng lưng, được đặt trên hai câaas khối vuông
mà phần chuyển tiếp làm thành bông sen, có chân đế rộng
chắc chắn nhưng phần đỡ bể thu lại gọn gàng. Phần giữa
là quỷ mặt người nhô đầu và giơ hai cánh tay lực lưỡng
lên khỏi những lớp sóng để đỡ toà sen, khối đậm nhưng
bố cục thủng hở nên chắc mà thoáng. Phần trên toà sen
nở xoè với những lớp cánh trơn óng ả, mập mạp. Tượng
ngồi thiền trên toà sen gây được cảm giác tĩnh mà động.
Với những đặc điểm tạo hình trên, tượng Quan Âm Nam Hải
có phong cách gần với những tượng ở nửa đầu TK XVII,
đây cũng là thời kỳ thương nghiệp phát triển mà các thuyền
buôn thờ loại tượng này để được yên tâm vào lộng ra
khơi. Đây là pho tượng sớm nhất hiện còn có thể gắn
với đợt sửa chữa chùa và an tượng 1632 - 1635, vốn đặt
ở cuối dãy hồi bên trái toà nhà giữa, nhưng đddaaf thập
niên 90 đã bị mất. Năm 1993 nhà chùa cho làm lại tượng
đặt trên bệ cũ, đã thêm một số chi tiết như 2 đầu rồng
vươn lên chầu mũ tượng và 11 đầu người xếp thành 2 tầng
trên mũ trước khi đội tượng nhỏ A Di Đà, kỹ thuật tạc
có phần thô nên dáng chung hơi cứng.
5.
Đối lại với pho Quan Âm Nam Hải, ở cuối dãy hồi bên phải
là tượng Quan Âm Tống Tưó, được dựa theo tượng Quan Âm
toạ sơn vốn đã có từ các TK XVII - XVIII rồi cải biên theo
tích truyện Thị Kính, nên còn gọi là Quan Âm Thị Kính phổ
biến ở thời Nguyễn. Thực ra đây là một nhóm tượng, nhân
vật chính là tiểu Kính Tâm mang hình một thôn nữ Việt Nam
đôn hậu, thủy chung nhưng do dồn nén oan khiên nên khuôn mặt
trầm ngâm, đau đáu, ngồi khẽ khàng trên những mỏm đá,
buông thõng cả hai chân để trên mặt đất, hai tay bế một
đứa trẻ bé tí (mới tạc lại). Đầu tượng đội mũ lại
được trùm khăn như đầu chim, mình mặc yếm, áo dài, váy
là trang phục ngày hội của bình dân, do đó trang nhã mà thân
quen. Là Quan Âm nên hai bên nhích về đằng trưuwows có cặp
tượng Kim Đồng - Ngọc Nữ đứng theo quy tắc "tả nam, hữu
nữ", là những tượng nhỏ mang tính mỹ nghệ tinh khéo và
vui như để trang trí. Phía sau vai phải của Quan Âm có thêm
con vẹt đậu trên cành cây là hoá thân của Thiện Sĩ - người
chồng cũ của Thị Kính. Nhóm tượng này được tạc ở thời
Nguyễn muộn, trong cách tạo tượng đã mang theo cái thẩm
mỹ mới của nông dân về sự cân đối nuột mịn, tỉa tót.
6.
Đầu dãy hồi bên trái của toà giữa là tượng Giám Trai.
Đây là vị Thần trông coi việc ăn uống của các sư tăng,
cũng được xếp vào hàng Bồ Tát. Trong các chùa từ thời
Lê về trước chưa thấy tượng Giám Trai, nhưng lại rất
phổ biến trong các chùa thời Nguyễn. Theo Từ điển Phật
học Hán Việt thì tượng Giám Trai mặt xanh, tóc đỏ có nghĩa
là một hình dạng kỳ dị dễ gây ấn tượng sợ. Nhưng tượng
Giám Trai ở các chùa Việt Nam đều rất người, bình dị,
thân thuộc, có nơi mang dáng dấp một ông quan, nơi lại có
dáng phong nhã tu hành, hoặc một người được bầu Hậu Phật.
Giám Trai chùa Tây Phương mang hình một ông quan văn ngồi trên
bục, đầu đội mũ cánh chuồn, mặt đầy đặn đôn hậu,
mặc áo thụng, ngực đeo đai, chân đi hài, tay đặt trên đùi
nhưng giấu trong ống tay áo cầm dựng đứng chiếc hốt, tay
trái để úp tự nhiên bàn tay trên đầu gối. Các nếp áo
sóng mượt, mũ và nửa trên áo chạm mây xoắn có tua bay ra
và long mã trên sóng nước. Tượng có thân hình cân đối,
lớn hơn người thực, mảng khối căng đẫy, trang trí vừa
phải, tạo hình gần gũi với những Kim Cương mặt trắng,
là tượng Giám Trai thuộc loại sớm nhất còn thấy.
7.
Đối diện với Giám Trai ở bên phải là Tượng Thổ địa
lớn như người thực, ngồi cân đối trên bục, hai chân buông
thõng, hai tay để ngửa trên đầu gối, trong đó tay trái cầm
dựng đứng chiếc hốt. Đầu tượng đội mũ cánh chuồn
nhưng hai cánh lại uốn cong xuống vai, khuôn mặt chữ Điền
phương phi, mắt và lông mày xếch lên, dáng trang nghiêm, bộ
râu dày và dài đến bụng càng làm tăng vẻ bệ vệ, song
trong dáng quan phụ mẫu lại rất đôn hậu và dịu hiền.
Các nếp áo chảy mềm mại, y phục trang trí rồng, mây và
sóng thêm một ít hồi văn chữ nhân, tcả dàn ra vừa phải.
Trong mẫu tượng Thổ Địa ở các chùa Việt Nam, hình ảnh
chung là một quan võ nghiên nghị, thì ở chùa Tây Phương chỉ
có bộ râu là tương đồng nhưng không bạc trắng. Tượng
Thổ Địa có phong cách như Giám Trai, thuộc loại sớm của
đề tài này.
Toà
chùa trong giành các gian bên để bày hệ thống tượng 16 vị
Tổ Kế đăng, mang tính chất nhà hậu đường, nhưng lại
giành gian giữa vừa bày những tượng quan trọng nhất của
Phật điện, vừa bày bộ tượng Thập điện Diêm Vương.
Chúng tôi giành riêng chương sau giới thiệu các vị Tổ kế
đăng, cũng chuyển các tượng Tam Thế và A Di Đà vào phần
Phật điện chính, ở đây xin trình bày về bộ Thập điện
Diêm Vương.
8.
Bộ tượng này vốn được bày dọc hai tường hồi toà chùa
giữa, nhưng về sau được chuyển đến vị trí hiện nay,
tức ở giữa Phật điện chính bị ngắt đôi, nên vừa trang
trọng, vừa gần đời. Phật giáo coi trọng thuyết NHÂN -
QUAả nó xuyên thấu cả ba đời về sự báo ứng thiện -
ác, gieo hạt nào sẽ thu được quả ấy. Cửa Phật vốn từ
bi, song đi đôi với tinh thần khuyến thiện được biểu hiện
tập trung ở phật điện chính thì vẫn không quên trừng ác
mà bộ tượng Thập Điện Diêm Vương là hình ảnh cụ thể
- mà một số chùa được vẽ thành bộ tranh lại càng sinh
động. Kinh Địa Tạng bản nguyện nói nhiều tới các loại
địa ngục và việc truy tiến công đức, trong đó các vua
cõi âm được gọi là Diêm Vương, thống lãnh cõi chết, dùng
phép bình đăớng mà trị những vong hồn đã phạm tội ở
dương gian, sau đó tuỳ theo mức độ nặng nhẹ mà cho đầu
thai ở kiếp tương ứng. Mười vị Diêm Vương cai quản các
điện sau:
- Tần
Quảrg Vương: Điện thứ nhất
-
Sở Giang Vương: Điện thứ hai
-
Tống Đế Vương: Điện thứ ba
-
Ngũ Quan Vương: Điện thứ tư
-
Diêm La Vương: Điện thứ năm
-
Biến Thành Vương: Điện thứ sáu
-
Thái Sơn Vương: Điện thứ bảy
-
Bình Đăớng Vương: Điện thứ tám
-
Đô Thị Vương: Điện thứ chín
-
Chuyển Luân Vương: Điện thứ mười
Mỗi
vị Diêm Vương xét xử một loại tội khác nhau, và do đó
tội nhân phải chịu những cực hình cụ thể. Ơở tranh,
ngay cả trường hợp không đề tên điện vẫn có thể nhận
ra tên từng vị Diêm Vương. Nhưng ở bộ tượng, xác định
chính xác tên từng vị có phần khó khăn. 10 vị bày thành
hai hàng đối nhau, mỗi bên 5 vị. Có ý kiến cho rằng cứ
đếm từ ngoài vào trong, vị bên này rồi sang vị bên kia,
cứ thế từ 1 đến 10, như vậy các vị số lẻ 1 - 3 - 5 -
7 - 9 một bên, các vị số chăợn 2 - 4 - 6 - 8 - 10 một bên.
Trong chùa nhìn ra, bên phải là dương gắn với các vị số
lẻ, bên trái là âm gắn với các vị số chăợn. Cả 10 vị
là Diêm Vương với nghĩa là vua cõi âm, nhưng chỉ vị thứ
5 mới có tên riêng là Diêm La Vương, gọi tắt là Diêm Vương,
có thể xem là đại diện, và do đó thường được tạc có
bộ râu trắng rậm dài trước ngực.
Mười
vị Diêm Vương chùa Tây Phương tuy thế ngồi, cách phục trang
và khuôn mặt gần như đồng nhất, nhưng tư thế tay mỗi
vị một khác nên toàn thể luôn đổi mới, vị cầm sách
bút, vị cầm hốt, tay để tự nhiên, tay kết ấn. Kiểu mũ
giống nhau nhưng chi tiết có khác nhau, không phải loại mũ
bình thiên, thuộc loại mũ phốc đầu. Có pho còn thêm dải
lụa từ sau mũ chảy qua vai xuống ngực. Hình trang trí trên
mũ và nhất là trên áo tránh được sự tủm mỉm, tập trung
vào những cụm hoa lá lớn, ô bổ tử trước bụng chạm long
mã trên sóng nước. Cả 10 vị đều có thân hình phốp pháp,
khuôn mặt đầy đặn chỉ riêng Diêm La Vương được chạm
chòm râu dài để trắng toát. Là Diêm Vương nhưng trang phục,
trang trí và thế tay không phải vua xa lạ, mang biểu hiện
quan văn gần đời.
Với
dáng hình cân đối, không bị bó theo công thức, chú ý mảng
khối và các trang trí đại thể, bộ tượng Thập điện Diêm
Vương chùa Tây Phương là bộ tượng sớm trong loại đề
tài này, tiếp nhận được truyền thống thẩm mỹ Tây Sơn,
thuộc loại tượng đẹp của thời Nguyễn.
PHÂậT
ĐIÊệN CHIíNH của các chùa thường được bố trí ở gian
giữa của toà Thượng điện tức nếp cuối cùng trong khu
Tam bảo, thì ở chùa Tây Phương lại kéo từ gian giữa toà
chùa giữa vào gian giữa toà chùa trong, đã ngắt bởi khoảng
sân lại đan cài vào bộ tượng Thập điện Diêm Vương. Cách
bài trí này vẫn giữ được vẻ trang nghiêm song không hút
sâu, luôn gần đời, thông thoáng với môi trường, chỉ ánh
sáng tự nhiên cũng đủ để ngôn ngữ tạo hình phát huy hết
giá trị tự thân. Phần cơ bản của Phật điện chính được
bày ở toà chùa giữa với bốn lớp tượng, từ dưới lên
trên cũng là từ trước về sau là:
9.
Lớp thứ nhất, mọi người dễ dàng tiếp cận là bộ Thích
ca sơ sinh ở giữa, có Đế Thích ở bên trái và Phạm Thiên
ở bên phải. Tượng Thích Ca sơ sinh vốn đã có ở thời
Lê trung hưng nhưng phổ biến là ở thời Nguyễn. Theo Phật
thoại, đức Thích Ca khi ra đời đi 7 bước trên 7 bông hoa
sen, tay trái chỉ trời, tay phải chỉ đất, nói một câu nổi
tiếng: "Thiên thượng, Địa hạ, duy ngã Độc tôn" khăớng
định địa vị tôn quý của mình giữa thế giới tự nhiên
và xã hội. Với Phật giáo, số 7 là chỉ tất cả, hoa sen
là sự giác ngộ tuyệt đỉnh. Trên tinh thần đó, tượng
Thích ca sơ sinh ở chùa Tây Phương mang hình một bé trai đứng
nghiêm trên bông hoa sen, tay trái gấp lại chỉ lên, tay phải
buông thõng chỉ xuống, mình trần chỉ mặc chiếc váy ngắn
tượng trưng cho việc trẻ nhỏ quấn tã. Vì khi ngài ra đời
có 9 con rồng đến phun nước tắm và có dấu hiệu ngài sẽ
trở thành Phật tổ, sẽ là đức Thế Tôn, nên ở đây cũng
như nhiều chùa, tượng Thích Ca sơ sinh đứng giữa một vòm
do 9 con rồng kết thành, trên vòm có hệ thống tượng nhỏ
đầy đủ của một Phật điện thu nhỏ: Các chư Phật, chư
Bồ Tát... và bát bộ Kim Cương. Vì thế pho tượng này còn
gọi là Cửu Long.
10.
Hai tượng Đế Thích và Phạm Thiên ở chùa Tây Phương cũng
như ở nhiều chùa khác (nếu có) được tạo hình giống nhau,
điểm khác duy nhất là do vị trí đặt tượng ở bên trái
hay bên phải tượng Thích Ca sơ sinh, nên tay trong gấp ngang
ngực cầm hốt và tay ngoài gấp chéo đỡ hốt sẽ ngược
lại nhau. Hai vị thiên thần nay là những trợ thủ đắc lực
trong suốt cuộc đời Đức phật Thích Ca Mâu Ni từ khi giáng
sinh đến khi tịch diệt, luôn hiện hữu trong cả Đạo Bà
La Môn với tên là Indra và Brahma và trong cả đạo Phật với
tên là Đế Thích và Phạm Thiên (hay Phạm Vương, Phạm Thiên
Vương hoặc Đại Phạm Thiên Vuơng). Đế Thích là vua ở trời
Đạo Lị cõi Dục giới; Phạm Thiên là vua cảnh trời Đại
Phạm, làm chủ cõi Ta Bà thuộc Sắc Giới. Khi Đức Thích
ca giáng sinh, hai vị này đã ngự xuống rước mừng, về sau
lại khuyến khích Thích Ca xuất gia. Khi đức Thích Ca thành
Phật, hai vị lại đến thụ trì giáo lý và cầu đức Thích
Ca đi truyền đạo cứu đời. Khi đức Thích Ca nhập tịch
Niết bàn, hai vị lại cùng hiện mà tỏ lời thương tiếc.
Đây là hai nhân vật song tồn và trong chùa tượng hai vị
cũng song hành, đều ngồi bục (hoặc ngai), đội mũ bình thiên,
mặc áo long bào màu đỏ nâu, các móng tay dài, hai chân buông
thõng. Hai vị này do có hành trạng giống nhau, ở một số
chùa đã đồng nhất và đặt ngồi ở chính giữa với tên
là Ngọc Hoàng thượng đế hay Ngọc Hoàng đại đế, có Nam
Tào và Bắc Đẩu ở hai bên coi sổ Sinh và sổ Tử. Tượng
ngồi nghiêm, râu cước gắn vào như thật, cùng với bộ Cửu
Long đều trang trí vụn, thuộc nghệ thuật Nguyễn có thể
làm từ đời Tự Đức.
Lớp
thứ hai là bộ tượng Di Lặc tam tôn gồm tượng Di Lặc ở
giữa, bên trái ngài là Bồ Tát Pháp Hoa Lâm và bên phải là
Bồ Tát Đại Diệu Tường. Nhưng lần bày lại Phật điện,
tượng Đại Diệu Tường đã bị bày nhầm lùi lại hàng
sau đổi chỗ cho tượng Tổ thứ 2 là A Nam Đà. Những tượng
này đều cao lớn hơn người thực một chút.
11.
Di Lặc hiện là một trong tám vị Đại Bồ Tát, nhưng đã
bị đức Phật hiện tại báo trước người sẽ thành Phật
trong tương lai. Khi nào "Di Lặc xuất thế, thiên hạ thái bình"
nên hình tượng ngài được nghệ sỹ xây dựng bằng niềm
hy vọng và sự trông chờ: con người béo tốt, đẫy đà,
toàn thân cười hỉ hả, khuôn mặt rạng rỡ... có nghĩa đầy
đủ cả về vật chất và tinh thần, không còn đòi hỏi gì
hơn. Với tinh thần đó, tượng được xây dựng bằng những
khối căng tròn nây nẩy, thân hình đã phốp pháp lại ngồi
chân khoanh chống ngả ra đằng sau rất thoải mái, tay phải
để úp nhẹ trên đùi, tay trái tỳ khuỷu lên chiếc túi hậu
thiên phồng to, áo mặc mở phanh hở cả ngực và bụng. Tham
gia vào tạo hình cùng với khối còn có những đường cong
dường như song hành ở ngấn bụng, ở cổ tay áo, ở gấu
quần càng làm tăng sự chuyển động ngầm trong một khối
đóng kín tĩnh lại. Toàn thân tượng được sơn màu xanh xám
như đồng càng chắc nịch. nếu theo Kinh Bát Đại Bồ Tát
Mạn đồ la thì tượng Di Lặc phải màu vàng óng, tay trái
cầm quân trì, tay phải kết ấn thí vô uý... Nhưng ở đây
đã vượt qua cái công thức máy móc ấy. Từ tượng luôn
thoát ra cái sinh khí của thời đại Tây Sơn đầy những tự
hào. Đây là pho tượng Di Lặc thuộc loại sớm nhất hiện
còn, là hình mẫu cho nhiều tượng cùng tính chất ở thời
Nguyễn phỏng theo nhưng có phần sa đà.
12.
Bên trái tượng Di Lặc là Bồ tát Pháp Hoa Lâm ở tư thế
đứng thăớng, chắp hai tay trước ngực theo thế kết ấn
"Liên hoa hợp chưởng": Duỗi thăớng 10 ngón tay rồi chắp
lại như bông sen hé nở. Kiểu ấn này là tay người khi còn
ở bào thai, do đó có tên là ấn Bản Tam - muội - da, biểu
thị sự bất nhị, không chia hai của lý trí. Khi con người
ra đời thì hai tay tách ra và nắm bàn tay lại tạo ra vô số
nghiệp. Tượng có khuôn mặt trẻ, dáng trầm ngâm, đứng
yên mà như nhích bước nhẹ nhàng, áo cà sa dài trùm chân
với những nếp gấp chảy rất sóng càng làm cho tượng chững
chạc, vươn cao.
13.
Đối lại, ở bên phải Di Lặc vốn là Bồ Tát Đại Diệu
Tường cũng ở tư thế đứng thăớng, hai tay đưa về trước
ngực nắm lại tay trái bọc ra ngoài tay phải như lấy cái
Định giữ yên cho cái Tuệ, được gọi là kiểu kết ấn
Mật phùng. Người đã cao tuổi, trán có mấy nếp nhăn, mặt
xương xương, ngực và tay lộ rõ các dải xương, da thịt
khô, toàn thân biểu thị sự khắc khổ, chậm chạp. Aáo cà
sa dài với một số nếp chảy xuôi, vạt vải mềm mại như
có gió thổi bay về trước. Cổ đeo tràng hạt. Dáng nghiêm
túc.
Hai
pho tượng Bồ Tát này cấu trúc cân đối, được nghiên cứu
kỹ cả giải phẫu và tâm lý, mang tính chất chân dung sống
động, thuộc phong cách nghệ thuật Tây Sơn. Có thể liên
tưởng Đại Diệu Tường với Diệu Cát Tường là một pháp
danh khác của Văn Thù Sư Lị tức Bồ Tát Văn thù. Và như
thế có thể nghĩ Bồ Tát Phổ Hiền được nói đến nhiều
trong kinh Pháp Hoa và phép tu Pháp Hoa Tam muội là Bồ Tát Pháp
Hoa Lâm. Với liên tưởng trên thì Văn Thù = Diệu Cát Tường
chủ về trí lại ở bên phải, còn Phổ Hiền = Pháp Hoa Lâm
chủ về lý lại ở bên trái, và bộ tượng này còn được
gọi là Diên Quang Tam Muội kéo dài ánh sáng Phật pháp trong
cách tu của nhà Phật để được chính tâm hành xứ. Trong
bài trí Phật điện, vị trí này thường bày bộ tượng Hoa
Nghiêm Tam thánh bên trái đức Phật là Bồ Tát Văn Thù, còn
bên phải là Bồ Tát Phổ Hiền. Nhưng thật ra vốn xưa Trí
là ở bên phải còn Lý ở bên trái, nó phù hợp với quy ước
tay phải là Tuệ còn tay trái là Định, đó cũng là sự hơn
kém và sự dung thông Lý - Trí. Như vậy bộ tượng Di Lặc
Tam tôn ở đây đã trở về nguồn xa hơn so với bộ Hoa Nghiêm
Tam thánh thường gặp.
14.
Lớp thứ ba thông thường là bộ tượng Nhất Phật Nhị tsôn
giaó gồm tượng đức Thích Ca thành đạo ở giữa, bên trái
là Tổ thứ 1 Ca Diếp tôn giả và bên phải là tổ thứ 2
A Nan Đà tôn giả. Nhưng ở chùa Tây Phương, đức Thích Ca
thành đạo được thay bằng tượng Tuyết Sơn tức Thích Ca
đang tu khổ hạnh trên núi cao, chưa đạt được sự giác
ngộ. Tuyết Sơn chưa thành Phật, chưa có nhục kháo, không
ngồi trên toà sen. Theo Phật thoại, ngay khi còn nhỏ tuổi
ở cương vị Thái tử, đức Thích Ca thấy cảnh đau khổ
của con người, bèn bỏ nhà đi nhiều nơi tìm thầy học đạo,
đã nghe thuyết pháp nhiều nhưng vẫn không thoả mãn. Ngài
bèn vào khu rừng sâu ở trên núi cao để tu đạo khổ hạnh.
Ngài khổ tu nhịn ăn, nhịn uống 6 năm liền ép xác, thân
hình gầy đét, hy sinh thân mình để tập trung suy nghĩ mà
vẫn không tìm được đạo giải thoát quanh năm đọng tuyết,
mới chỉ là Bồ Tát nên gọi đầy đủ là Tuyết Sơn đại
sĩ hay Tuyết Sơn đồng tử.
Bám
theo sự tích trên, nhà điêu khắc xưa đã tạc tượng Tuyết
Sơn mang hình chân dung một ông già quê ngồi nhàn tản chân
khoanh chân chống, tay tì tự nhiên trên gối, đầu hơi nhô
về trước, khuôn mặt nhân hậu, dáng trầm ngâm. Toàn thể
thu về một khối chóp tĩnh lặng, nhưng với khối đầu tròn
căng mà má hóp, hốc mắt sâu, cổ ngăớng, ngực và tay nhô
đủ bộ xương, các mạch máu hằn nổi rõ lại toát ra sự
sôi động ngầm bên trong. Cùng với các khối lõm trên thân
là chủ đạo, vạt áo với nhiều nếp nhăn vặn cũng toát
lên nội tâm đau khổ, dằn vặt không lối thoát. Đây là
pho tượng duy nhất sơn toàn thân một màu đen ánh nâu, tạo
bóng tối cũng gợi cái chết hình thức bao trùm cái sống
thuộc bản thể.
Nhà
thơ Huy Cận đã có khổ thơ cô đọng về Tuyết Sơn:
Đây
vị xương trần, chân với tay
Có
chi thiêu đốt tấm thân gầy
Trầm
ngâm đau khổ sâu vòm mắt
Tự
bấy ngồi y cho đến nay.
Với
lối tả thực trên cơ sở nắm vững khoa học giải phẫu
và đi sâu vào tâm lý nhân vật, tượng Tuyết Sơn mang đậm
chất chân dung "giống và sống", chỉ có thể là sản phẩm
nghệ thuật của thời Tây Sơn hiển hách và sôi động.
Hai
vị tổ thứ 1 và thứ 2 ở hai bên Tuyết Sơn, chúng tôi chuyển
sang chương sau tập trung nói về các Tổ. Chỉ xin lưu ý ở
đây vị Tổ thứ 2 bị đẩy lên hàng trước hoán đổi chỗ
với tượng Bồ tát Đại Diệu Tường.
15.
Lớp thứ 4 cũng là cuối cùng cao nhất trong toà chùa giữa
là nơi bày tượng A Di Đà tam tôn (hay còn gọi là A Di Đà
tam thánh) gồm tượng Phật A Di Đà ở giữa và hai vị Bồ
tát Quan Thế Âm ở bên trái, Đại Thế Chí ở bên phải.
Trong toà chùa này, A Di Đà là pho tượng duy nhất được đứng
trên đài sen, vì hoa sen là tiêu biểu cho công đức của đức
Phật A Di Đà, cả hai đều thanh cao trên sự ô trọc phiền
não. Cõi của ngài là Cực lạc quốc, ở đó hết thảy đều
là châu báu, lại có tiếng chim ngâm những bài thuyết pháp.
Cuộc sống ở cõi của ngài là dài vô biên nên tên ngài nghĩa
là Vô Lượng Thọ Phật. Ngoài ra ngài còn 12 danh hiệu nữa
đều gắn với Quang Phật biểu hiện ánh sáng của ngài là
trí tuệ, chiếu khắp mọi nơi để giải thoát chúng sinh,
sáng hơn hết thảy, không cái gì sánh được hay cản được,
nó trong sạch, vui sướng, sáng suốt vô tận, không ai suy xét
được trừ các chư Phật không ai cân lường được, nó lướt
qua cả sức chiếu của mặt trời mặt trăng. Ngài thường
hiện thân đi tiếp dẫn chúng sinh có duyên tu niệm. Các Phật
tử Việt Nam chào nhau là niệm tên ngài.
Tượng
A Di Đà thường thể hiện ở thế ngồi thiền định, nhưng
tượng A Di Đà chùa Tây Phương lại được tạc ở thế đứng.
Có ý kiến cho rằng A Di Đà đứng là để biểu hiện sự
cứu hộ gấp gáp, vì chúng sinh đã chìm đắm quá sâu vào
tục luượng được biểu hiện rõ quý tướng với nhục
kháo, tóc xoắn, tai dài. Ngài có khuôn mặt đầy đặn, mũi
dọc dừa trong sáng, lông mày cong thanh tao, mắt khép hờ nhìn
xuống chóp mũi như để soi tỏ nội tâm, miệng nhỏ khép
với những khoé nhăn lại như mỉm cười đôn hậu. Thân hình
chắc lăớn, khoẻ mạnh, đứng thăớng, tay phải buông xuôi,
duỗi thăớng các ngón, tay trái ngang trước bụng cầm viên
ngọc minh châu biểu hiện ánh sáng Phật pháp diệu kỳ của
ngài, tư thế tiếp dẫn. A Di Đà được trang sức đơn giản,
ngực đeo anh lạc là xâu chuỗi ngọc gắn với quý nhân, ngoài
anh lạc là chữ Vạn có 4 đầu như 4 ngọn lửa quay ngược
chiều kim đồng hồ là chuyển động mở, thuận, giúp thiêu
đốt phiền não, đem lại an lạc . Chữ Vạn ấy là một linh
tự, còn được gọi là Đức, là Cát Tường và đầy đủ
hơn là Hải Vân Cát tường, do đó là một trong 32 tướng
tốt, nên chư Phật đều có hình chữ Vạn ở ngực. Tượng
A Di Đà chỉ khoác chiếc áo cà sa vải mỏng nhẹ như quấn
buộc quanh người, xoè bay với những nếp uốn lượn tự
nhiên, còn để hở ngực và cánh tay phải. Tượng được
tạc cân đối, mang nét chân dung, đứng lặng mà rất động,
là phong cách riêng của nghệ thuật Tây Sơn.
Trong
bộ A Di Đà tam tôn, Quan Thế Âm tiêu biểu cho đức từ bi,
Đại Thế Chí tiêu biểu cho trí tuệ. Từ bi và trí tuệ phối
kết với nhau, hợp thành ngôi chính giác tức đức Phật A
Di Đà. Ơở coi Tịnh độ, trong các cuộc thuyết pháp của
A Di Đà, Quan Thế Âm luôn ở bên tả, còn Đại Thế Chí ở
bên trái ngài.
16.
Quán Thế Âm gọi tắt là Quán Âm, cũng tức là Quan Thế Âm
gọi tắt là Quan Âm, đều có nghĩa là quan sát nghe thấy các
âm thanh của chúng sinh mà hiện sức thần thông tới cứu
giúp họ. Ngài vốn là nam giới, nhưng khi truyền sang phương
Đông được nữ hoá. Theo Phật thoại, Quán Thế Âm có tới
11 caiỏ mặt, ngàn tay, ngàn mắt và 108 hồng danh. Với lòng
từ bi cứu khổ cứu nạn cho các chúng sinh, ngài có 32 cách
ứng hiện để thực thi 14 phép công đức cho những ai nguyện
vái ngài được qua tai nạn và hết sợ sệt: Ngài có thể
làm Phật, làm Tiên, làm Bồ tát, làm Vua, làm người sang hay
kẻ hèn, làm Thần hay làm quỷ... để giúp người thoát nạn
thuỷ - hoả - đạo - tặc, thoát ác thú và tù ngục, thoát
cảnh tham - sân - si, giúp sinh trai lành, gái đẹp. Với các
linh pháp trên, Quán Thế Âm đặc biệt gắn với các thuyền
buôn vượt biển, biểu hiện cho thời kỳ thương nghiệp pháp
triển.
17.
Đại Thế Chí là vị Bồ tát có uy thần rộng lớn cùng cực,
dùng trí tuệ sáng suốt soi khắp mọi phương, khiến chúng
sinh nhờ ngài mà thoát mọi khổ đau. Ngài cùng Bồ tát Quán
Thế Âm theo Phật A Di Đà đi tiếp dẫn chúng sinh.
Ơở
chùa Tây Phương, hai vị Bồ tát này được tạc rất giống
nhau, chỉ khác do tay trong gấp ngang, tay ngoài gấp đứng nên
hai tay phải và trái ở hai pho hoán đổi tư thế cho nhau. Tượng
được tạc mang hình nữ rõ ràng, thể hiện cái đẹp tinh
khiết, quý phái. khuôn mặt trái xoan hơi nhìn xuống, mũi dọc
dừa cao sang, lông mày thanh cong, mắt phượng lim dim, miệng
chúm lại, cằm lăớn có ngấn, tai rất dài, cổ cao ba ngấn,
thân mình dong dỏng, cánh tay trần tròn lăớn, các ngón tay
thon thả đang kết ấn "Chuyển pháp luân" để hội tụ sinh
lực cứu chúng sinh. Tượng được trang sức đơn giản nhưng
trang nhã mượt mà. Tóc được chải hất lên rồi được
chụp bằng chiếc mũ tì lư với cánh sen tươi rói, nổi khối,
còn rủ tua xuống ngực; riêng tóc mai chảy vắt qua tai xuống
vai rồi phân ra các dải xuôi theo cánh tay. Tượng mặc áo
dài các vạt chạy rất sóng, lại có các nếp uốn cong chữ
V tạo vẻ tôn nghiêm chững chạc. Cổ và ngực đeo dây anh
lạc như mảng đăng ten khá cầu kỳ. Hai cánh tay dường như
để trần, được đeo vòng ở cả ngang cánh tay trên và cổ
tay. Màu gụ sáng nhạt của mũ áo lại càng tôn màu trắng
ngà của da thịt mịn màng, tươi trẻ. Phong cách tạo tượng
ở đây đã kết hợp được sự tinh tế của nghệ thuật
nửa đầu thế kỷ XVII với sự chuẩn xác của giải phẫu
và tâm sinh lý thuộc khoa học thời Tây Sơn.
Với
việc bố trí tượng pháp trên, toà chùa giữa đã bài trí
gần đầy đủ một Phật điện thông thường, nó mang tư
cách một toà thượng điện (hay như cách gọi của Trần Trọng
Kim là: Chính điện). Phần còn thiếu có chăng chỉ là bộ
Tam Thế, thì ở chùa Tây Phương được chuyển sang toà chùa
trong, bày ở hàng trên cùng của gian giữa.
18.
Tam Thế Phật là hết thảy chữ Phật ba đời, nói đầy đủ
là Tam Thế Tam Thiên Phật tức 3000 đức Phật trong ba thời,
mỗi thời gồm 1000 đức Phật: Quá khứ thế nhằm Trang Nghiêm
kiếp, chỉ giai đoạn phát sinh đã diệt. Hiện tại thế nhằm
Hiền kiếp, chỉ giai đoạn phát sinh rồi nhưng chưa diệt.
Vị lai thế nhằm tinh tú kiếp, chỉ giai đoạn pháp chưa sinh
khởi. Theo Từ điển Phật học Hán Việt (Giáo hội Phật
giáo Việt Nam, Hà Nội, 1994) thì "Phật quá khứ như đức
Phật Ca Diếp... Phật hiện tại là đức Phật Thích Ca Mâu
Ni. Phật Vị lai như đức Phật Di Lặc" (trang 1336). Nhưng theo
Phật học từ điển (Đoàn Trung Còn, Sài Gòn, 1968) thì trong
1000 đức Phật của hiện tại thế có 4 đức Phật đã ra
đời trong đó có Ca Diếp và Thích Ca Mâu Ni; đức Di Lặc
sẽ là Phật thứ 5 (trang 835).
Trong
các chùa Việt Nam dường như không thể thiếu được bộ
tượng Phật Tam Thế, luôn bày ở lớp trên tột cùng của
Phật điện trong thế ngồi thiền trên đài sen lớn ngang nhau
và kiểu thức không khác nhau bao nhiêu. Bộ tượng Tam Thế
chùa Tây Phương là một trong số ít bộ tượng loại này
có thêm cái tán làm thành vòng hào quang ở phía sau. Trong tư
thế ngồi thiền xếp hai bàn chân lên bắp vế, bàn chân phải
thuộc về dương được để trên và ngửa lòng lên, lưng
vuông góc với bệ ngồi, khuôn mặt tư lự với đôi mắt
khép hờ, các quý tướng được bộc lộ rõ như: Nhục kháo
nổi cao ở đỉnh đầu, tóc xoắn, thân mình chắc lăớn mượt
mà, dung nghi đầy đặn, mặt rộng và đẹp, gò má nổi cao,
lông mày cong thanh như trăng non, dái tai rủ dài, vai tròn trịa,
ngón tay thon thả, toàn thân sáng chói như vàng thắm và toả
chiếu hào quang. Ba pho tượng chỉ khác nhau ở tư thế tay:
Phật hiện tại (pho giữa) kết ấn Tam muội để hai lòng
bàn tay ngửa lên trên lòng đùi tiếp đầu ngón cái. Phật
Quá khứ (pho bên trái) để tay phải trên lòng đùi còn tay
trái giơ ngang miệng, cả hai tay đều để ngón út uốn chạm
đầu ngón cái. Phật Vị Lai (bên phải) để tay ngược lại
với Phật Quá khứ, do đó tạo sự đăng đối thuận mắt.
các nếp áo và mút thắt bao lưng rành mạch mà mềm mại,
dây anh lạc đeo trước ngực được chạm tỉ mỉ, chữ Vạn
nổi cao, vòng hào quang phía sau được tỉa tót tươi tắn
với đường viền mềm như mây bay. Đài sen nở xoè tinh khiết
với cánh hoa nổi mập. Hăớn đây là những pho tượng mà
chúa Trịnh Giang cho tạc ở nửa đầu TK XVIII và Phan Huy Iích
đã ngợi ca khi chiêm bái, mang vẻ đẹp khéo léo, quý phái.
19.
Do Phật điện chính dàn ra hai toà chùa và được làm bổ
sung qua các thời, nên có một vài nhân vật trùng nhau: A Di
Đà và Thích Ca sơ sinh mà hành trạng đã nói rõ khi gặp ở
toà chùa giữa. Pho A Di Đà lần này đặt ở hàng dưới bộ
Tam Thế, không có hai Bồ tát ở hai bên, trong thế ngồi thiền
trên toà sen, hai tay kết ấn tam muội trong lòng đùi... thuộc
kiểu dáng phổ biến trong nhiều chùa. Tượng cũng có những
quý tướng của Phật, song hầu như không có hoạ tiết trang
trí ngoài những nếp áo tựa như Tam Thế, mặt hơi ngửa lạnh
lùng, tà áo chảy tràn xuống cả bệ, dáng nghiêm túc và đoan
trang ... thuộc phong cách nghệ thuật đầu TK XVIII. Phía trước
pho A Di Đà ngồi này còn thêm một tượng Thích Ca sơ sinh
nhỏ chỉ cao 25 cm đứng trên đài sen trong vành Cửu long thuộc
giai đoạn nghệ thuật Nguyễn muộn, có nhẽ do một chùa khác
chuyển về.
Ngoài
hệ thống tượng thờ trong khu Tam bảo, các khu phụ: Đền
Trình, nhà Tổ và điện Mẫu được xây dựng muộn ở đầu
TK XX cũng đều có một số tượng thờ cũng rất đáng lưu
ý.
20.
Miếu Sơn thần với tính cách đền Trình đã làm cho Thần
điện ở đây trở nên oai phong và thiêng liêng mà ở các
bức hoành phi đã nói rõ: Với tinh thần Thiên Cổ Miếu và
Trạc Quyết Linh, một tiểu triều đình được bày ra gồm
vị Thần Núi ngồi trên bục cao và hai vệ sỹ hầu cận hai
bên, thêm hai hàng giá gươm đao và một số đồ thờ đèn
hương uy nghi. Thần Núi ngồi như quan toà, đội mũ cánh chuồn,
mặc triều phục trang trí phượng và long mã, đeo đai, chân
đi hia, da thịt đỏ rực, tư thế quan sát - tiếp nhận những
thỉnh cầu của Phật tử rồi phán xét. Hai vệ sĩ hầu cận
đứng đối nhau ở hai bên nhưng đều xoay mặt nhìn chếch
ra, trang phục giống nhau với mũ vải vuốt về sau, mặc áo
thụng có áo mã tiền dài trùm ra ngoài, mặt hồng hào. Cả
ba nhân vật này đều được làm khá thực, lại cắm râu
cước, có xu hướng tượng chân dung, cùng với những trang
trí tỉ mỉ, là sản phẩm của nghệ thuật đầu thế kỷ
XX. Có thể liên tưởng Sơn Thần với Đức Ông, và như thế
hai hầu cận ôm sách (bên trái), cầm kiếm (bên phải) là
một dạng của Già Lam và Chân Tế là những vị Thần giữ
gìn Phật pháp, bảo hộ con người, đề cao chân như.
21.
Ban thờ Tổ ở gian giữa nhà Tổ, có tượng Tổ Tây và hai
tượng Tổ chùa. Tổ Tây là tên do người Việt gọi để
chỉ đức Bồ Đề Đạt Ma, Tổ kế đăng thứ 28 ở Âấn
Độ, năm 520 ngài đến Quảng Châu (Trung Quốc) bằng đường
biển đi dần lên phía bắc rồi dừng lại ở chùa Thiếu
Lâm núi Tung Sơn, tu theo lối Quán bích suốt ngày ngồi quay
mặt vào vách đá, tham thiền cho tỏ ngộ cái Phật tính nơi
mình, trở thành vị thuỷ tổ của Thiền tông ở phương Đông.
sau khi độ được số đông tín đồ, ngài viên tịch năm
529, để lại bài kệ:
Ta
vốn đến đất này
Truyền
pháp cứu mê tình
Một
hoa nở năm cánh
Kết
quả tự nhieen thành.
Hầu
hết các chùa ở Việt Nam có thờ ngài dưới hình thức tượng
chân dung, đặt ở vị trí trang trọng nhất trên ban thờ Tổ,
tư thế khác nhau nhưng cố gợi một nét gì đó biểu hiện
nguồn gốc Âấn Độ. Tượng ngài ở chùa Tây Phương được
tạc ở thế ngồi tĩnh toạ kiết già, vạt áo phủ che kín
chân, tay phải lần tràng hạt trên vế đùi, tay trái cầm
viên ngọc đặt ngửa trong lòng ở thế tụng niệm, khuôn
mặt phương phi chữ Điền với nét riêng dễ nhận là bộ
râu quai nón rậm để dù đã Việt hoá vẫn gợi nguồn gốc
xa. Tượng tạc theo hướng hiện thực dù hoàn toàn hư cấu,
thuộc phong cách nghệ thuật mới TK XX.
Hiện
nay chúng ta mới biết được hệ thống các sư trụ trì ở
chùa Tây Phương trong một trăm năm lại đây: Qua 5 thế hệ
truyền thừa: Cụ Thích Thanh Ngọc, cụ Thích Thanh Túc, cụ
Phúc Hải, cụ Đàm Thanh và thày Đàm Thuỷ đang trụ trì.
Cụ Đàm Thanh năm nay (1997) đã thọ 85 tuổi còn khoẻ mạnh
và rất minh mẫn. Cụ Phúc Hải tịch năm 1971 chỉ có ảnh
thờ, riêng hai cụ Thanh Ngọc và Thanh Túc tịch trước cách
mạng 1945 đã có tượng thờ. Tượng hai vị Tổ chùa này
được bày một hàng ngang dưới hàng Tổ Tây: Cụ Thích Thanh
Ngọc ở bên trái, cụ Thích Thanh Túc ở bên phải theo đúng
thứ tự trái trước phải sau.
22.
Tấm bia Nam Mô A Di Đà Phật khắc năm 1924 dựng trong tháp
mộ Phương Viên cho biết thiền sư Thanh Ngọc quê làng Cao
Xá huyện Đan Phượng tỉnh Hà Đông, xuất gia từ nhỏ, năm
1893 đến ở chùa Sùng Phúc núi Câu Lậu - Tây Phương. Trong
thời gian trụ trì ở đây, cụ đã cùng địa phương tu tạo
chùa, tô lại và tạc thêm một số tượng, đặc biệt làm
nhà thờ Tổ và tạc một tượng truyền thần. Đến khi tạc
bia là lúc "tự vũ nguy nga, Phật hình sán lạn". Pho tượng
truyền thần mới tạc ấy hăớn là tượng cụ, cùng với
nhà thờ Tổ có niên đại vào đầu thập niên 20 của thế
kỷ XX. Tượng cụ được tạc ở thế ngồi bán kiết để
ngửa bàn chân phải trên vế đùi trái, hai tay kết ấn Tam
muội, mặc áo cà sa vắt chéo vạt tạo thành những hình chữ
V lồng nhau trước ngực, vai trái có khoá tròn, áo trong kéo
cổ lên che kín yết hầu. Mặt cụ mang rõ nét chân dung của
nhà chân tu với trán rộng, gò má cao, nguyệt mi cong thanh,
mắt sáng, mũi đầy, tai dài, miệng tươi, cằm nẩy... Tượng
được tạc trực tiếp trước mẫu, đảm bảo được cả
hai yêu cầu của tượng chân dung là giống và sống.
23.
Cụ Thích Thanh Túc quê ở Trôi, nay cùng với Cao Xá hợp thành
xã Đức Giang huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây, như vậy cùng
quê với sư phụ Thích Thanh Ngọc. Sau khi cụ Ngọc tịch, cụ
Túc kế tục trụ trì cho đến khi tịch. Cụ Túc tịch một
thời gian khá dài, đến đầu thập niên 50 mới có cụ Phúc
Hải về trông nom chùa. Có thể theo gương thày, cụ Túc đã
cho tạc tượng chân dung mình khi cụ còn đang tại thế. Tượng
cụ Túc cùng kiểu với tượng cụ Ngọc, song có chút thay
đổi như thế ngồi kiết già được vạt áo phủ qua chỉ
lộ ít ngón của cả hai chân, cổ áo trong thấp hơn để lộ
chiếc cổ dài với những ngấn cơ bắp ngang dọc sinh động,
khuôn mặt chữ Điền phương phi, trán có vài nếp nhăn, áo
nhiều nếp gấp hơn, cằm có ngấn. Các tướng đẹp khác
trên khuôn mặt thì cũng tương tự như cụ Ngọc. Đây là
một tượng chân dung Tổ chùa khá muộn đã tích tụ được
giá trị của điêu khắc truyền thống với điêu khắc mới.
Điện
Mẫu được thiết lập ở gian bên trái của nhà Tổ, ngoài
Tam toà Thánh Mẫu và hai Công chúa Quỳnh Hoa - Quế Hoa còn
có thêm hai tượng Hậu nữa, được phân ngôi vị xếp theo
3 hàng ngang.
Điện
Mẫu là đền thờ của tín ngưỡng Mẫu của người Việt,
vốn có nguồn gốc rất xa xưa, và rất phổ biến ở khắp
các làng quê, nhưng các dấu tích kiến trúc và tượng thờ
còn thấy thì mới từ TK XIX mà phát triển là ở đầu TK
XX. Có thể là trong lúc lòng tin xã hội khủng hoảng, nhất
là khi thực dân Pháp đô hộ lại nâng đỡ đạo Thiên chúa,
thì việc khăớng định và phát triển tín ngưỡng Mẫu được
xem như một đối trọơng tinh thần. Mọi người vào chùa
lễ Phật ở Tam Bảo rồi sang điện lễ Mẫu. Lễ và chiêm
bái cần có hình để nhận diện, do đó hệ thống tượng
ở điện Mẫu ra đời ngày càng phức tạp. Song ở chùa Tây
Phương, điện mẫu còn đơn sơ và thuần phác, thuộc loại
sớm trong sự thể nghiệm ở TK XIX.
24.
Hàng trên cùng là Tam Toà Thánh Mẫu gồm đệ nhất Mẫu thiên
ở giữa, đệ nhị Mẫu Thượng Ngàn ở bên phải và đệ
tam mẫu Thoải ở bên trái. cả 3 Mẫu đều ngồi trên bệ
như bàn đá tự nhiên với những xoắn cuộn gợi hang gốc,
thế ngồi bình dị của tầng lớp trên ở thôn quê gồm một
chân tì lên chồng gối xếp và chân kia gấp nằm thu vào lòng,
bên chân thấp thì tay để úp đầu gối, bên chân cao thì
tay cầm quạt tỳ vào đầu gối, mặc áo dài có yếm bên
trong, đầu trải tóc ngược lên rồi chụp một vương miện
cài hoa, tai đeo hoa xoáy, khuôn mặt bầu bầu với vẻ lãnh
đạm, nói chung là chưa tập trung những nét đẹp lý tưởng
của phụ nữ, không đẹp quý phái như nhiều tượng Mẫu
muộn. Riêng Mẫu Thiên được chỉ định rõ thêm với yếm
đỏ, ở đây lại nhỏ nên thấp hơn 2 Mẫu bên. Ngoài phần
tạc và phần sơn thếp cũng như ở nhiều điện Mẫu khác,
các Mẫu còn được đeo chuỗi hạt và trùm khăn đầu. Đáng
ra mỗi mẫu ứng với một màu khăn: đỏ, xanh lá cây, trắng
thì ở đây đều là khăn xanh ngả các màu lơ, lục, rêu,
đẻ rồi băng hoa viền mới gợi màu chỉ định Mẫu Thiên
đỏ, Mẫu Thượng Ngàn lục, Mẫu Thoải trắng.
25.
Hàng giữa chỉ có 2 tuợng nhỏ ở vị trí xen cài của 3 tượng
Mẫu, dáng đứng, tay trong đưa xuống, tay ngoài chỉ lên dáng
như múa, ăn vận quần áo ngày hội của thôn nữ xưa, hai
cô giống nhau ở màu của khăn đầu và bao lưng, do kích thước
nhỏ bé lại chạm khắc chi tiết nên mang tính tượng nhỏ
trang trí. Hai nhân vật này được gọi là Công chúa Quỳnh
Hoa và Công chúa Quế Hoa, tương truyền là con gái Đức Thánh
Trần Hưng Đạo.
26.
Hàng dưới cùng là hai pho tượng Hậu. Tượng Hậu gọi đầy
đủ là Hậu Phật gắn với Phật điện chứ không gắn với
điện Mẫu. Trong sơ đồ bài trí tượng chùa Tây Phương mà
Trần Trọng Kim ghi lại năm 1943, hai pho tượng này vốn ở
đầu hai dãy tường hồi của toà chùa giữa, hăớn sau lần
bày lại tượng sau ngày hoà bình 1954 đã di chuyển về đây.
Dân địa phương và các vị sư trụ trì chùa đều chỉ gọi
là "Bà Hậu" mà không còn nhớ được tên và ngày giỗ các
bà. Là tượng Hậu được sáng tác từ người thực đã cúng
tài sản khá lớn vào chùa, song cả 2 pho tượng này đều
thiếu nét chân dung như các tượng Tổ, trái lại khuôn mặt
khái quát hoá như Tượng Mẫu. Cả hai bà đều ngồi toạ
thiền, đầu trùm khăn chảy xoã ngang lưng và che gần hết
tai. Mặc áo dài để lộ rộng yếm ngực, trên áo có một
số cụm hoa lá to thoáng. Trên đại thế, hai pho giống nhau
nhưng về chi tiết lại luôn đổi khác: pho bên phải trùm
khăn bồng lên gần như mũ, cổ áo võng chữ U gắn với chuỗi
hạt, ngồi kiết già giấu kín cả hai bàn chân; Trái lại
pho bên trái đội khăn sát da đầu, cổ áo chữ V lồng, ngồi
bán kiết lộ cả bàn chân phải, tay để trong lòng cầm viên
ngọc... Hai tượng Hậu xếp vào điện Mẫu tuy không đúng
chỗ, song lại thống nhất phong cách với bộ tượng Tam Toà
Thánh Mẫu, làm cho Điện Mẫu gần
Theo
"Chùa Tây Phương" của Chu Quang Trứ
NXB
Mỹ Thuật - 1998