Tên
chính thức của chùa là sùng Phúc mưu cầu mọi sự tốt lành
như bao ngôi chùa vốn có nguồn gốc từ buổi đầu kỷ nguyên
độc lập: Vạn Phúc, Vĩnh Phúc, Thiên Phúc, Ninh Phúc, Diên
Phúc... Song mọi người cứ gọi theo tên núi, là chùa Tây
Phương với niềm tin đã đúc kết thành câu đối ghi ở toà
chùa trong!
Tây
Phương hữu Phật tín tư sơn
Thạch
Thất truyền kinh nghi thử địa
(Tin
ở núi này - Tây Phương có Phật
Ngờ
đâu đất ấy - Thạch Thất truyền kinh)
Chứ
tâm thức Việt Nam cổ gọi đây là núi Trâu - xa xưa phát
âm là Klâu, rồi dần phiên âm Hán Việt thành Câu Lậu. Lớp
văn hoá gốc nhoà đi, Câu Lậu được giải thích do núi có
hình cong tựa chiếc móc câu khổng lồ! Nói thế thâm tâm
vẫn tin các dãy núi đá lẫn đất của vùng Thạch Thất là
đàn trâu 9 con: Câu Lậu, Lôi Âm, Gai - Vòi Voi, Nứa, Dền,
Nồng, Đỏ, Miễu và Đống Cao. Câu Lậu cao hơn 50m là con
trâu đầu đàn quay đầu lại vẫy gọi cả đàn ra sông Tích
Giang uống nước.
Quần
thể núi đá lẫn đất của vùng Thạch Thất như đối trọng
với quần thể núi đá của vùng Quốc Oai ở phía Nam trước
mặt, lại như cùng trong tổng thể với dải núi So, núi Sở...
Phía sau được hình dung thành các con hổ, con ngựa, con rồng,
con mộc, con hoả. Những núi này là sự chuyển tiếp của
vùng đồng bằng ở thềm cao lên vùng trung du Ba Vì, để rồi
nhập vào vùng núi đá vôi Hoà bình trùng điệp.
Gắn
với núi cao là sông dài. Sông nội đồng có dòng Tích Giang
từ chân núi Ba Vì chảy về, trườn lượn quanh co, lững lờ
trôi chảy, khúc nào cũng như tụ phúc ban lộc cho xóm làng.
Xa hơn một chút là sông Đáy vốn là đường giao thông thuỷ
xuôi xuống xứ Nam. Và đi thêm một chút nữa là sông Hồng
cuộn chảy tung sóng hào hùng.
Núi
sông ở vùng châu thổ là sự điểm tô cho đồng ruộng, tạo
thế đối đãi âm dương, hình thành những vùng địa linh,
mà dấu son là một loạt chùa danh tiếng được gọi theo tên
núi. Nếu các chùa Sở, chùa So, chùa Thày... có quy mô lớn
thuộc loại "chùa trăm gian" lại mở ra hoà đồng với ngoại
cảnh để như vô hạn, thì chùa Tây Phương lại khuôn trong
mặt bằng đỉnh núi vừa phải, nổi lên ở vẻ đẹp kiêu
sa cả về kiến trúc lẫn điêu khắc.
Núi
Trâu - Câu Lậu vượt lên toàn vùng là đất thiêng, trong thời
Bắc thuộc đã gắn với huyền thoại cung cấp đan sa cho Cát
Hồng luyện thuốc trường sinh, và viên đô hộ sứ kiêm thày
phù thuỷ Cao Biền phát hiện ra huyệt đế vương rồi tìm
cách trấn yểm, sang kỷ nguyên độc lập dân tin là đất
Phật cực lạc nên mang thêm tên nữa Tây Phương. Núi nhỏ
nhưng từ chân lên đỉnh có tới 3 chùa: Đầu non phía Bắc
là chùa Quan Âm (hay Quan Quận), vạch đường lên đỉnh cũng
là về đất Thánh có chùa Am Thanh (hay Thanh Am) ở lưng chừng,
và cuối cùng chùa Tây Phương ở trên đỉnh nên còn gọi
là chùa Cao Sơn. Dân địa phương từ lâu vẫn truyền tụng:
"Đệ nhất Cao Sơn, đệ nhị Thanh Am, đệ tam Quan Quận" nói
lên sự đánh giá nghệ thuật, đồng thời cũng là con đường
chúng sinh tìm đến Phật giáo để được giải thoát: Trong
trần tục có Quan Âm cứu khổ, giúp chúng sinh hiểu kinh pháp
có sư tăng lập am giảng đạo, giác ngộ rồi thành Phật
ở Tây Phương vời vợi. Đường xưa lên chùa lượn theo sườn
núi thoai thoải dễ đi, vòng qua am thanh mới lên Sùng Phúc,
nay vẫn dùng nhưng khuất nẻo, chỉ những ai lắng tâm cầu
Phật mới có duyên tìm được. Nhưng cũng từ lâu đã mở
một con đường chạy thăớng từ chân núi chỗ bãi rộng
có bóng đa cổ thụ soi gương đầm nước lên thăớng đỉnh
núi, đường dốc, trước xếp đá thỏi to nhỏ ngang dọc
xa gần khác nhau để du khách vui đùa khi trẩy hội và thay
đổi nhịp chân, vậy mà đợt trùng tu năm 1971 đã xây lại
"nuột nà", "hiện đại"!
Từ
đường 21B liên huyện Quốc Oai - Thạch Thất vào chùa cũng
là đường thôn Yên (An) sang xóm Tây Phương được trải nhựa
thênh thang, đầu ngoài là đầm Liêu dạng hình chữ Âất
(Z), đầu trong vượt qua kênh đào thủy nông sang đầm Cầu
Đá bán nguyệt là nơi tụ thủy tích phúc. Phía trước núi
đồi ôm bọc. Người xưa quan niệm đó là một địa cục
hiếm hoi, dựng đền thờ Thần dựng chùa thờ Phật là đắc
địa hơn cả.
Cạnh
gốc đa bờ đầm Cầu Đá có một miếu nhỏ, trong có tấm
bia Thạch kiều mộc quán bi kí dựng năm Cảnh Hưng 27 (1766)
nói về cầu Hoa Phong ở Tây Phương do một bà cúng hậu mà
dân địa phương còn nhớ với những tình cảm kính trọng.
Theo tên bia, xa xưa nơi đây có cầu đá và quán gỗ, có thể
là loại kiến trúc kết hợp "Thượng gia hạ kiều" bắc qua
chỗ eo của đầm để sang chân núi lên chùa. Quán gỗ đầu
xóm cùng với cây đa cổ thụ vừa là chỗ ngồi chơi hóng
mát của người già với những chuyện quê, là chỗ bán nước
và hàng vặt cho đời sống ngày thường của dân làng. Đây
chính là một môi trường văn hoá tạo cho cây đời xanh tươi,
thêm một thế đối trọng với cảnh thoát tục trên đỉnh
núi. Cầu đá không còn nhưng đã trở thành tên đầm để
còn mãi với thời gian.
Núi
Câu Lậu là núi đất lẫn đá, tre-mai-vầu cùng một số cây
hoang quanh năm xanh tốt um tùm, một số vạt bằng - nhất là
hai bên đường lên chùa đã được dân khai thác dựng nhà
làm vườn nhưng không làm mất vẻ hoang sơ tự nhiên của
núi. Núi thấp nên chùa ở trên đỉnh nhưng không xa dân, thoát
tục mà vẫn gần đời, đủ đảm bảo sinh hoạt đời thường
của sư tăng và là chỗ dựa tinh thần của các Phật tử.
Từ
chân núi lên chùa, trước chỉ là hẻm nhỏ như lối mòn đi
vào các xóm ngõ, gần đây được xây Tam quan ngoại phỏng
theo kiểu ở chùa Láng (Hà Nội) kết hợp thờ Phật với
thờ Thần: Cơ bản là 4 cột hoa biểu vươn cao, vuông thành
sắc cạnh, uy nghi chững chạc; phía trên có dầm ngang tạo
ra khung cửa giữa cao hơn 4 mét và khung cửa hai bên cao hơn
3 mét, trên dầm cr 3 cửa đều úp bộ mái toả ra bốn phía
với những đầu đao cánh hoa chênh vênh trên cao. Qua Tam quan
ngoại phải leo hơn 230 bậc đá, dọc đường có vài chiếu
nghỉ, cuối cùng dẫn đến cổng chùa cũng mới được xây
lại theo kiểu tam quan: Cửa giữa treo biển Tây Phương Cổ
tự, hai bên cánh gà trổ cửa vòm cuốn, bên trên có mái,
nhưng các cửa bên chỉ mang tính tượng trưng không hợp với
bậc lên xuống.
Đỉnh
núi là một mặt bằng khá rộng, bao khuôn viên là hệ thống
cây xanh tự nhiên mọc theo sườn núi. bình đồ toàn khu chùa
trước 1945 và nay, khu Tam bảo và miếu Sơn thần vẫn giữ
nguyên, nhưng các kiến trúc khác đã thay đổi. Theo bản vẽ
trong Phật lục (1943) thì tháp mộ, nhà Tổ, điện Mẫu, tăng
phòng và các nhà phụ đều ở bên phải khu Tam bảo; nhưng
giờ đây tháp mộ xây lại ở phía bên trái còn các kiến
trúc khác chuyên về phía sau khu Tam bảo. Sự thay đổi này
biểu hiện tính linh hoạt, không cố chấp của Phật giáo,
tạo cho tổng thể cân đối và nhất là giành khoảng rộng
ở sườn bên để du khách tiến lui chiêm bái các toà chùa
của khu Tam bảo mà thụ cảm cao nhất vẻ đẹp kiến trúc
cùng trang trí ngoại thất. Vườn hoa vườn cảnh ở khu trước
chùa, trừ những cây to ổn định, nếu trước kia có hai bồn
hoa nhỏ ở hai bên, giành khoảng giữa làm đường chính đạo
vào thăớng gian giữa tiền đường; thì giờ đây khoảng
trống ấy phía ngoài là bồn hoa, phía trong là bể non bộ,
du khách đi vòng sang hai bên cho lòng tĩnh tại. Trước miếu
Sơn thần cũng thế.
Ngoài
những bồn cây cảnh nhỏ, sân vườn quanh khu Tam bảo là cả
một vườn cây vườn cảnh không rậm rạp huyền bí, không
cao trội che trùm kiến trúc, mà vừa độ để cùng kiến trúc
tôn nhau lên, thâaas thoáng song rõ ràng, đủ râm mát để vẽ
hoa nắng trên sân vườn, có màu xanh tán lá bên màu nâu tường
mà mái, có những cành cây vươn uốn tự nhiên bên những
mép tường, cạnh cửa thăớng tắp và những diềm mái uốn
nhẹ bên những hoa đao vút cong duyên dáng.
Hệ
cây xanh ở chùa Tây Phương nếu kể đầy đủ phải tính
từ chân núi lên đỉnh để rồi vào khuôn viên chùa. Mở
đầu là cây đa cổ thụ ở bờ đầm Cầu Đá, nó xum xuê,
vươn dài cành lá, buông rủ rễ thành thân phụ song hành chắc
chắn. Cây đa vừa là hình ảnh của những làng quê văn hoá,
vừa liên tưởng đến cây bồ đề mà đức Phật đã ngồi
thiền tìm lẽ giải thoát cho kiếp đời khổ ải. Rồi quanh
núi và bao lấy khuôn viên chùa là bạt ngàn tre - mai - vầu
vươn thăớng nhưng lả lướt, lòng rỗng và trong trắng biểu
hiện "tâm không" nhà Phật, cũng là cái bản thể tuyệt đối
chung nhất của muôn loài. Trong sân vườn nhiều nhất là cây
đại, thân cành mọc rất tự nhiên như sự giác ngộ vượt
khỏi mọi sự giàng buộc, mùa đông lá rụng thì tua tủa
sừng hươu nhú bọng nhung vươn lên nhận sinh lực của trời
cha truyền cho đất mẹ,. mùa hạ thì rợp lá xanh điểm hoa
trắng vàng ngan ngát hương thiêng, nó là cây chăm-pa của người
Chàm và người Lào, xem như hình đất nước hồn dân tộc
mà họ thờ trọng vọng. Đó đây còn một số cây mít với
tên chữ là ba-la-mật hàm chứ một sự huyền bí thiêng liêng,
ở tiếng Phạn có nghĩa là đến bờ giác ngộ, vì thế các
tượng thờ đều phải tạc bằng gỗ mít. Lại cả cây sung
có tên chữ là vô-ưu, biểu hiện sự thoát tục, bỏ được
hết mọi ưu tư phiền muộn. Rồi thông reo mang theo sự thông
hiểu tận cùng của trí tuệ, nó thanh cao, vượt lên mọi
gian khó cuộc đời.
Cây
xanh còn len lỏi vào không gian nội thất. Giữa các toà chùa
Hạ - chùa Trung - chùa Thượng là những khoảng sân hẹp có
bể nước với nhiều chậu cảnh, bồn hoa làm cái gạch nối
tự nhiên, đóng mà vẫn mở, chan hoà nghệ thuật với cuộc
đời.
Ba
toà chùa song hành tách bạch, toà trước và sau 5 gian, bố
cục mặt bằng chữ Tam (º ) là một sáng tạo độc đáo,
tuy trước đó đã có tiền để ở chùa Thày (Hà Tây) với
chữ Nhất (- ) sau chữ Công (I). Nhưng đầu hồi các toà nhà
thò thụt này lại được xây tường nối với nhau nên nhìn
bên ngoài mang dạng chữ Công. Đây là một hướng đi đổi
mới trong truyền thống. Nhìn chéo ở sườn bên, tường và
mái chùa cứ lô xô, cái hữu hạn gợi ra sự động vui vô
hạn. Cả ba chùa lại đều làm theo kiểu chồng diêm hai tầng
tám mái, toà giữa rộng và cao hơn một chút, phá đi sự lặp
lại đơn điệu mà vẫn thống nhất chặt chẽ, vừa tạo
cảm giác nhẹ nhàng thanh thoát, vừa tạo sự đông vui nhộn
nhịp. Cả một hệ thống hoa đao chen chúc vươn lên, tua tủa
những đầu rồng, phụ hoạ vào là những cặp lân - rồng
đón đầu nhau trên bờ giải như đấu trí đua tài. Các mảng
mái mũi ngói nhấp nhô như sóng nước rập rờn xô đuổi,
dàn ra cho đến cạnh mép gặp nhau được khuôn lại bằng
những đường bờ nóc, bờ giải sắc cạnh song lại trổ
hoa thủng như dải đăng ten sang trọng. Các lá mái lan nhô
ra thì phía dưới mái lại thụt vào thẫm tối, đối lập
để cùng nổi bật.
Phần
mái động rộn thì phần tường lại tĩnh lặng, dựng đứng
chững chạc. Ngược lại với các đường mũ tường và cạnh
cửa được quét vữa trát vôi như những nẹp viền trắng
làm khung ghìm giữ, cả mảng tường được xây gạch Bát
tràng già đanh đỏ xẫm với những mạch vữa dày vuốt cong
vỏ măng, tạo thành hệ thống vạch ngang song hành đưa tầm
mắt mở rộng sang hai bên, bề thế, chắc chắn. Nét sáng
tạo rất riêng là giữa các mảng tường vuông và chữ nhật
lại được trổ một cửa tròn, là sự kết hợp âm - dương,
quy - củ mang tính mẫu mực cả trong nghệ thuật và cuộc
sống. Trong lòng cửa sổ được lồng 4 hình tròn tạo ra các
vành khăn bằng nhau, cắt dọc cứ nửa đặc gắn với nửa
rỗng, cái hư kết hợp với cái thực tạo thành một cấu
trúc hoàn hảo, gắn với tư tưởng Phật giáo được gọi
là cửa sổ sắc sắc - không không. Bó nền của cả khu Tam
bảo là những khối đá ong đẽo gọt vuông thành sắc cạnh,
mặt đanh nâu nhưng lỗ chỗ, đằm mà xốp.
Bản
thân các mảng khối kiến trúc đã là sự trang trí, các phần
gỗ lộ ra, từ khu đĩ - rốn nhện ở nóc hồi với diềm
mái và đầu bẩy đều được trang trí những hình trạm nhất
quán, nhẹ nhàng, tươi rói như băng hoa làm duyên. Ơở diện
to nổi bật là ván gió khu đĩ của 2 toà ngoài và trong đều
nhấn mạnh chiếc lá nhiều thuỳ, còn ở mặt giữa là mặt
hổ phù. Những đề tài này sẽ được lặp lại nhiều lần
ở nội thất.
Ra
vào khu Tam bảo có hệ thống cửa bức bàn ở ba gian toà chùa
ngoài phía trước, hoặc những cửa phụ ở hồi bên. Trong
nội thất dù đóng kín cửa vẫn sáng thoáng, chăớng những
nhờ hai sân hẹp mở ra khoảng trời nhỏ lấy ánh sáng và
gió từ trên cao rọi xuống, còn nhờ hệ thống cửa sổ thông
ngang với ngoài. Trong mỗi sân thiên tỉnh lại có một bể
nước vừa là gương hắt sáng, vừa là chiếc máy điều hoà
giữ cho trong chùa có một ôn độ cần thiết để bảo dưỡng
bộ khung chùa và các hiện vật bằng gỗ, nhất là hệ tượng.
Tam
bảo được dựng trên khu đất rộng hơn 18m và sâu hơn 25m.
Hai toà ngoài và trong đều cao 6m, lòng (giữa hai dãy cột quân)
rộng hơn 5m, trong khi đó toà giữa cao 7m lòng rộng 5m8, hết
nền thêm 2m, đều theo kiểu chồng diêm có cấu trúc các bộ
vì giống nhau là sự kết hợp chặt chẽ của các đường
ngang (xà, giường, câu đầu, đầu bẩy) với cột dọc, xác
định các trục tung và hoành rõ ràng, đối lập để tạo
cảm giác chắc khoẻ và mạnh mẽ. Không có kẻ, đddaaf bẩy
cũng nằm ngang mà trước đó mới xuất hiện rè rặt ở các
cột góc Thượng điện chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), thì giờ
đây được khăớng định rứt khoát nó nâng bộ mái lên
cao hơn. Ngang chuyển sang dọc không cứng nhờ cái nghé ở
đuôi kẻ được gọt cong gần như cung phần tư đường tròn.
Cấu trúc cổ diêm ngoài nhìn vào gợi nhà hai tầng, song nội
thất thông từ nền đến mái cao thoáng, cột cái vươn cao
đỡ thăớng mái trên, cột quân chỉ đỡ mái dưới, thêm
cột trốn ở trên xà đùi (nối đầu cột quân với bụng
cột cái) để đỡ phần dưới mái trên. Như vậy trên thực
tế mỗi vì có tới 6 cột, nhưng từng "tầng" thì chỉ có
4 cột, do đó kết cấu rất chắc mà không vướng, không gian
nội thất đảm bảo cả hai phần cao và rộng, đáp ứng cho
việc bày tượng không bị che khuất và treo cờ phướn không
vướng. Các cột cái và cột quân dựng trên nền nhà dựng
trên nền nhà đều được kê trên chân tảng đá không chỉ
có hình tròn ở trong hình vuông, mà quanh hình tròn còn ngả
xoè ra hai lớp cánh sen, khăớng định sự phát triển ở đất
Phật thanh tao. Các cột quân dựng trên xà đùi cũng thông
qua cái đấu tròn mang hình bông sen nở hoặc cả hồ sen. Đầu
các cột trước khi đỡ hoành đều được đội cái đấu
tròn chạm bông sen. Các con giường ở vì nóc chồng nhau và
chồng lên câu đầu cũng đều thông qua những cái đấu chạm
bông sen. Hệ thống hoa sen ở chùa Tây Phương rất phong phú,
khăớng định tính chất đất Phật.
Xà
nóc là chiếc hoành cao nhất, còn tàu đao là chiếc hoành dưới
cùng, không kể những hoành mái trên chiếu rọi xuống mái
dưới trùng nhau, thì ở mỗi hệ thống mái trước hoặc sau
của toà ngoài và toà trong có 9 hoành ứng với điềm Sinh,
còn ở toà giữa có 10 hoành ứng với điềm bệnh (trong chu
kỳ đời người: Sinh - Bệnh - Lão - Tử). Hệ thống rui trên
hoành được gắn thanh ngang vào mộng thành các ô vuông, tạo
ra cả một mảng phên liên kết chặt chẽ đỡ mái ngói, mỗi
ô ngói lót được nhuộm một màu xanh - đỏ - trắng - vàng
như lá cờ nhà Phật, là nét riêng chỉ có ở chùa Tây Phương.
Hoành
nằm ngang rất dài theo chiều mặt của chùa nên phải nối
ở trên các vì, do đó giường đỡ hoành ở chỗ chắp được
thông qua cái dép hoành có dạng con thuyền để vừa che khuất
vết chắp, vừa tăng diện tiếp xúc đảm bảo độ bền vững.
Riêng đầu bẩy do nằm ngang xa hoành nên đỡ thông qua cái
dép hoành kép. Bụng dép hoành soi gờ kéo ra ăn nhập vào hoành,
tạo sự chuyển giường dọc sang hoành ngang rất tự nhiên.
Các đấu hoa sen và dép hoành ngoài giá trị chịu lực còn
là hình thức trang trí. Các con giường, xà, câu đầu và đầu
bẩy cơ bản được bào trơn, xoi gờ, chạy chỉ, ở phần
đầu còn được chạm các guột mây và bó lá. Riêng ở nếp
giữa thay hoa lá bằng rồng và hổ phù, rồng ở đầu bẩy
chui qua cộtcó đuôi phía trong xoắn gắn liền mảng nghé với
xà. Những bộ phận chịu lực được các trang trí trên phủ
lên đã trở nên nhẹ nhõm và tươi mát. Phần chạm theo bố
cục của nghệ thuật trang trí chính là các giải hồi văn
trên các ván không chịu lực: Diềm lá sòi chuyển tiếp hàng
mũi ngói giọt nước xuống tàu đao, trong mỗi lá sòi ở toà
ngoài và toà trong là một chiếc lá nhiều thùy còn ở mặt
giữa là mặt hổ phù; ván nong xà hạ nối các cột quân chạm
hệ thống 3 tầng đấu chạc toả ngang, xen kẽ là hình chiếc
lá nhiều thùy với mây xoắn biểu thị sự phong đăng phồn
thịnh ở toà ngoài và toà trong, hoặc rồng và phượng ở
toà giữa. Nếu rồng phượng biểu hiện tầng trời thì chiếc
lá nhiều thùy tựa lá đu đủ, lá thầu dầu hay còn gợi
lá ngô đồng dễ gây sự liên tưởng cuộc sống cộng đồng
đầy đủ và giàu sang.
Cắt
dọc khu Tam bảo, 3 toà nhà lòng rộng khác nhau được tách
ra bởi khoảng sân rộng chừng 2m trũng xuống một chút, phá
đi sự phăớng lặng đơn điệu. Cắt ngang, các gian chùa rộng
hẹp khác nhau, từ giữa ra là 3m51, 3m35 rồi 2m87 đã tập trung
được sự bài trí vào tâm.
Từ
bố cục mặt bằng 3 toà nhà, mỗi toà nhà có 2 tầng mái,
mỗi tầng có 4 lá mái... có người đã nghĩ đến một vũ
trụ luận Tam tài (Thiên - Địa - Nhân) với sự phát triển
Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, sinh Bát quái rồi biến hoá vô
cùng. Nếu điều suy luận này tin được thì kiến trúc chùa
Tây Phương đã lồng được ý nghĩa triết học vào trong giá
trị nghệ thuật để càng đẩy cao tính nhân văn.
Chùa
Tây Phương là chùa lớn có lịch sử lâu đời, song cả chùa
chỉ có một tháp mộ sư, hiện mới được xây lại ở vườn
cạnh hồi bên trái khu Tam bảo, mang tên Phương viên bảo tháp.
Tháp bình diện vuông, trên phần nền cao là 3 tầng thu nhỏ
dần ngăn cách bởi các hàng mái có góc đao uốn cong lên.
ở tầng 1 có bia dựng năm Khải Định 9 (1924). Lòng tháp có
sá lị thiền sư Thanh Ngọc và di hài các thiền sư khác nhau
là cụ Thanh Túc rồi cụ Phúc Hải. Tháp và tường hoa bao
quanh đều được xây khá muộn (cụ Hải Tịch năm 1971). Không
có tư liệu gì - kể cả trí nhớ của nhân dân về các thiền
sư trước cụ Ngọc (cụ Ngọc về đây trụ trì năm 1893),
thậm chí sau khi cụ Túc tịch, một thời gian dài do các ông
thống trong làng quản lý, mãi sau mới có cụ Hải về. Tháp
mới, song nhờ gắn với cây xanh vươn cành xoè tán ra để
cùng hoà nhập đã nhân lên cả vẻ đẹp và thời gian. Cũng
cần biết cây tháp mộ này tuy xây sau 1971 nhưng tiền thân
của nó đã có trước năm 1943, vốn ở sát hồi toà chùa
giữa khu Tam bảo.
Trong
toàn cảnh chùa cũng cần lưu ý miếu Sơn thâaaf, tuy lối kiến
trúc thuộc lần sửa chữa năm 1933 nhưng ở đó có một chiều
sâu văn hoá. Nếu ở nhiều chùa, tượng Đức Ông không thể
thiếu, là sự kết hợp của nhân vật Cấp Cô Độc trong
Phật thoại với thổ thần của dân gian, thì ở chùa Tây
Phương, Thổ thần chính là Sơn thần tự tại, không cần
nhận thêm chức danh nhà Phật, với hai tấm biển thờ còn
treo khăớng định cả chiều sâu lịch sử và uy thế lẫm
liệt. Dân gian gọi miếu này là Đền Trình càng củng cố
thêm sức mạnh tín ngưỡng bản địa. Miếu 4 gian xây dọc,
giành gian ngoài làm sảnh sắp lễ và ba gian trong thờ cúng,
tạo chiều sâu hun hút linh thiêng, hồi sau là tường hậu
xây tường bít đốc nhưng hồi trước có mái phụ tạo hoa
đao uốn cong lại gợi kiến trúc truyền thống. Sự tồn tại
của miếu Sơn thần - đền Trình cũng là một nét độc đáo
của chùa Tây Phương.
Theo
"Chùa Tây Phương" của Chu Quang Trứ
NXB
Mỹ Thuật - 1998