Nhà
thơ Huy Cận và bài thơ
"Các
vị La Hán chùa Tây Phương"
Bài
thơ này cả ý tưởng lẫn đề tài không hề ngẫu hứng như
những bài thơ khác. Tôi đã "nặng lòng" với bài thơ này
20 năm. Từ năm 1940 khi ý tưởng về nó bắt đầu manh nha
cho đến khi được viết ra năm 1960. Suốt 20 năm tôi trằn
trọc và nung nấu nó. Năm 1940, tập Lửa thiêng xuất bản
được ít lâu, một nhóm bạn rủ tôi đi thăm chùa Tây Phương,
nhóm gồm có: Khải Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ, Nguyễn Đỗ
Cung. Khi đó tôi là một thanh niên nhưng lại rất thích đi
thăm chùa chiền, nhà thờ... Dường như bấy giờ tôi ý thức
được rằng đó là những nét văn hóa lớn của dân tộc
mà không kẻ giặc nào có thể cướp đi. Việc đi thăm chùa
chiền có ý nghĩa như cuộc hành hương về cội nguồn. Trước
khi đến chùa Tây Phương tôi đã đi thăm một số chùa khác,
nhưng khi đến đây tôi cảm động bởi kiến trúc độc đáo
của chùa và đặc biệt là 18 pho tượng La Hán bằng gỗ.
Mỗi pho tượng là một phong cách điêu khắc lạ lùng và khi
nhóm lại với nhau tạo ra một khung cảnh thật ấn tượng.
Đi
thăm chùa về tôi lập tức ghi ý tưởng vào sổ tay: "Các
vị La Hán chùa Tây Phương - nỗi đau khổ của cha ông". Nhưng
nếu chỉ dừng lại ở ý tưởng đó thôi thì tôi thấy không
ổn lắm và bài thơ không thành là vì thế. Nỗi đau khổ
ấy sẽ tìm thấy lối thoát ở đâu? Đấy là câu hỏi của
tôi trong suốt 20 năm sau đó. Cuối năm 1960 có một số bạn
bè Trung Quốc sang thăm. Tôi và một số người khác mời họ
đi thăm chùa Tây Phương. Đấy là lần thứ hai tôi đến chùa.
ấn tượng vẫn còn mới nguyên như 20 năm trước. Tôi viết
một mạch bài thơ trong đêm 27-12-1960. Nếu chỉ viết về
nỗi đau đời, quằn quại của cha ông thì không đủ. Bởi
lẽ cái đau ấy là cái đau tuyệt vọng không lối thoát, dù
có đau đớn bao nhiêu cuộc sống vẫn không thể tươi sáng
lên được. Nếu bài thơ dừng ở đấy thì thơ cũng sẽ thành
tối tăm, tuyệt vọng. Nhiệm vụ của bài thơ là chỉ ra được
cái nỗi đau khổ tuyệt vọng ấy, đồng thời phải tìm ra
được lối đi, phương pháp giải quyết cho nó. Cho nên khi
tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và xây dựng
cuộc đời mới ở miền bắc tôi mới làm nốt được phần
sau bài thơ. Xã hội bấy giờ đã giúp tôi, chỉ rõ cho tôi
rằng chỉ có cách mạng giải phóng dân tộc mới là lối
thoát cho những đau khổ của cha ông và của chính tôi nữa.
Tôi nhập vào tâm sự của cha ông và tìm thấy ánh sáng cuối
đường hầm đau khổ. Cách mạng đến không chỉ giải thoát
cho tôi, cho những người đang sống mà còn giải thoát cho
các giá trị tinh thần của cha ông đang bị giày xéo.
Vì
viết về chùa chiền, là nơi linh thiêng, mờ ảo, nên tôi
chọn cách vào đề thật giản dị: "Các vị La Hán chùa Tây
Phương, tôi đến thăm về lòng vấn vương", để cho bớt
cái vẻ huyền ảo đi. Nhưng những câu thơ này tả thực tâm
trạng của tôi mà không cần sự trợ giúp của các thủ thuật
khác. Xứ Phật, nơi trong ý nghĩa của kinh sách, cũng như trong
tín ngưỡng của người dân chúng ta là nơi yên bình, hạnh
phúc vĩnh viễn, không có đau khổ, không có chết chóc, tất
cả sống trong cực lạc. Nhưng khi nhìn những mặt tượng
đau đớn khổ sở đó rõ ràng bất kỳ người nào cũng phải
thốt lên:
Há
chẳng phải đây là xứ Phật
Mà
sao ai nấy mặt đau thương
Xứ
Phật xa vời, mơ hồ nào đó không ai biết nhưng đau khổ
thì được thể hiện rõ ràng, minh bạch bằng đường nét,
hình khối hẳn hoi. Phải chăng có điều gì ẩn giấu dưới
tất cả các vẻ mặt ấy? Cái gì khiến cho các vị được
hưởng phúc lạc lại phải mở ra tất cả những đau đớn
tinh thần thế này? La Hán không giống như Bồ Tát cứu nhân
độ thế, La Hán chỉ tự cứu lấy mình mà dường như vẫn
không tự cứu được. Vì đâu có tất cả những nỗi đau
khổ triền miên đó? Câu chuyện của cuộc sống, nỗi đau
khổ của cuộc sống bắt nguồn từ đây.
Đạo
Phật quan niệm, ngay khi sự sống bắt đầu trong tiếng khóc
chào đời, con người đã biết hết mọi nỗi đau thương
của kiếp sống. ở đây trong ba khổ thơ tả thực những
pho tượng La Hán cũng hàm ý tả thực lại các nỗi đau khổ
của con người và cũng là nỗi đau khổ chung của xã hội
bấy giờ. Với từng cá nhân con người, đau thương "thiêu
đốt tấm thân gầy", họ luôn mang theo "tâm hồn héo", phải
sống trong cuộc sống "nghe đủ chuyện buồn". Hai khổ trên
miêu tả nỗi đau riêng của từng con người cá nhân, nhưng
chỉ cần một câu "cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn"
ta lập tức hiểu ra đau thương đã trùm lên toàn bộ xã hội.
Nếu
mỗi pho tượng là một vẻ mặt con người với bao đớn đau
của phận người thì cuộc họp mặt của các La Hán chính
là cuộc họp "trong vật vã" của muôn số phận, muôn thương
đau. Mới hay đau thương đã thành bản chất, đã chìm ngập
cả xã hội. Điều đó thật khủng khiếp. Bởi vậy nhu cầu
giải phóng xã hội là một nhu cầu lớn lao và đã chất chứa
từ nhiều thế hệ trước. Và cuộc cách mạng của chúng
ta đã thực sự có ý nghĩa nhân văn khi giải phóng được
gánh nặng tinh thần của con người.
Câu
hỏi về ý nghĩa cuộc đời là câu hỏi lớn mà chưa từng
có ai trả lời rõ ràng được. "Một câu hỏi lớn không lời
đáp". Quả con người đang bị một thúc bách ghê gớm. Nhưng
câu hỏi đó, cái ý nghĩa mà con người trăn trở từ ngàn
đời thật là một điều khó khăn mà dường như phải mất
rất nhiều thời gian người ta cũng chỉ hiểu lờ mờ chút
ít. "Một câu hỏi lớn. Không lời đáp". Xin chú ý đến hình
thức câu thơ này. Dấu chấm câu đặt ở giữa dòng thơ là
một điều đặc biệt. "Một câu hỏi lớn"... dấu chấm dừng
câu ở đây tạo cho người đọc cảm giác có đoạn dừng
suy ngẫm để nhận ra ngay câu trả lời cho nó là "không lời
đáp". Tuy nhiên sự không bình thường ở dòng thơ này phải
tương ứng với dòng trên. ở dòng thơ trên, tôi dùng ba thanh
trắc liên tiếp ở giữa câu: "quay theo tám hướng hỏi trời
sâu", nếu không nhằm mục đích nào đó thì việc dùng ba
âm trắc này rất có vẻ "nghịch tai". Nó nhằm nêu bật được
nỗi băn khoăn khắc khoải, sự cố gắng đến tuyệt vọng
của con người trong khát vọng đi tìm ý nghĩa của cuộc đời.
Để
hiểu tâm sự của chính tác giả, bạn đọc cần nhận thấy
một sự dứt khoát trong ý tưởng. Người nghệ sĩ khi tạc
những "hình khổ hạnh" ấy, hẳn phải thấu hiểu cái đau
chung của mọi người. Bởi nếu chỉ biết đau nỗi đau riêng
mình thì không thể tạo được nhiều trạng thái đau khổ
như thế. Nghệ thuật có khả năng khơi gợi cảm thông, làm
cho người ta thấu hiểu nhau là vì thế.
Như
vậy, người "thợ cả" xưa đã cảm nhận được nỗi đau
khổ của cộng đồng, đã chia sẻ được nỗi đắng cay của
người khác. Đó chính là điều mà tôi dằn vặt suốt 20
năm trời, thời gian ấp ủ bài thơ này. Để chỉ ra ý nghĩa
cuộc sống hiện tại cũng cần phải có nỗi đau nhân thế.
Nhung chỉ chỉ ra thôi thì chưa đủ, mà còn phải tìm được
lối đi cho những nỗi đau khổ ấy. Hàng thế kỷ, con người
bị những gánh nặng tinh thần và cuộc sống là sự "dậm
chân một chỗ". Không một chút hạnh phúc nào soi dọi tới.
Bao nhiêu kiếp sống lầm than "sờ soạng", "tìm lối ra" mà
vẫn bị chìm đắm, vây bủa trong mầu đen của cuộc đời.
Có
phải thế mà trên tượng Phật
Nửa
như ám khói, nửa sương tà
Không
nên hiểu rằng ở đây sương khói phủ mờ tượng Phật mà
chính là phủ mờ tâm hồn nghệ sĩ - người tạc tượng.
Không thể có cách nào để giải thoát nỗi buồn, nghệ sĩ
đành gửi gắm nó trên những đường nét chạm khắc. Như
vậy cả nghệ thuật cũng cần phải được giải phóng mới
có thể vươn tới những giá trị mới mẻ, mới thực sự
có ích cho cuộc đời.
Sau
20 năm tôi trở lại thì "Hôm nay xã hội đã lên đường",
một cuộc sống tươi trẻ đã bắt đầu, tương lai được
rộng mở, câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời được giải đáp
và tôi có cảm giác như "mặt tượng dường tươi lại". Tâm
sự của nhà thơ lúc ấy "đồng thanh tương ứng" - với nhịp
sống hân hoan của cuộc đời. Những bước đi vấp ngã, những
bi kịch, bế tắc trên con đường đi tìm sự giải phóng và
nỗi đau đời của cha ông trong quá khứ được đền đáp.
Nguyễn
Quyến
(Báo
Văn nghệ trẻ)