Hệ
thống tượng Tổ kế đăng ở chùa Tây phương trước 1943
và ngày nay bày có khác nhau, song cơ bản được tập trung
ở toà chùa trong của khu Tam Bảo, vì thế toà chùa này mang
tính Hậu đường hơn là chùa Thượng.
Không
rõ trước kia tượng các vị Tổ được bày theo hệ thống
nào, hiện nay không bày theo trật tự kế đăng nhưng cũng
không quá lộn xộn. Trừ Tổ thứ 1 Ca Diếp Tôn giả và Tổ
thứ 2 A Nan Đà tôn giả bày ở Phật điện chính trong bộ
tượng "Nhất Phật Nhị tôn giả", các Tổ khác được bày
ở gian bên của toà chùa trong, do tượng có pho đứng pho ngồi
đã gây được nhịp điệu vui mắt, có vươn lên, có dàn
trải với quãng cách khác nhau.
Hệ
thống tượng Tổ kế đăng ở chùa Tây Phương có 18 pho là
18 cá thể, mỗi người một dạng vẻ, một tư thế, ai nấy
có cuộc sống riêng biệt rất sắc nét, tất cả đều sống
động (ngay cả với Tổ thứ 14 Long Thụ Tôn Giả). Đối chiếu
những tượng này với hình vẽ trong các thư tịch cổ, hầu
hết về bố cục giống nhau đến lạ lùng, chỉ một ít tượng
khác hăớn bố cục song vẫn đồng nhất về cái chung và
nhất là ở những chi tiết đặc thù. Vì thế qua nhận diện
có thể khôi phục chính xác tên và xây dựng lai lịch cho
từng nhân vật. Bám theo hình mẫu trong thư tịch cổ, nhấn
mạnh tính cách cá nhân, các nhà điêu khắc xưa đã sáng tạo
được những tác phẩm tượng tròn mang đậm chất chân dung,
chăớng những nắm bắt cấu tạo cơ thể chính xác theo giải
phẫu và theo tình cảm, mà còn đi sâu vào cuộc sống nội
tâm của nhân vật, đảm bảo được cả hai mặt của loại
hình tác phẩm chân dung là giống và sống. tất nhiên không
có người ngồi mẫu, nhưng cái giống ở đây là chất người
của nhân vật đã tạo thành mẫu hình ổn định trong ý thức
người xem. Các vị Tổ đều là người Âấn Độ, song ở
chùa Tây Phương tượng các vị đã được các nghệ nhân
Việt Nam sáng tạo mang phong cách riêng của nghệ thuật truyền
thống Việt Nam. Chúng ta gặp ở đây sự xum họp của những
lớp người Việt đang sinh sống trên mọi miền quê đất
nước. Nó đạt tính dân tộc ở thời điểm ra đời, và
giữ mãi tính dân tộc ấy để đóng góp một diện mạo Việt
Nam vào kho tàng nghệ thuật tạo hình thế giới.
Trong
nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam, từ những tượng cổ
điển ở thời Lý, đến loạt tượng Phật - tượng Tổ -
tượng Hậu thế kỷ XVI -XVII với nhiều tác phẩm đặc sắc
trong các chùa là sự khăớng định tài năng của nghệ sĩ
Việt Nam. Thế kỷ XVIII ít có điều kiện cho điêu khắc phát
triển, song là sự tích tụ âm ỉ của những kỳ tài Nguyễn
Công Huệ, Tô Phú Vượng, Hoàng Đình Ưức và Đào Thúc Kiên...
để đến thời Tây Sơn đã chớp cơ hội tốt nhất, sáng
tạo ra những tuyệt tác "Tượng chùa Tây Phương" mà đỉnh
điểm là các vị Tổ kế đăng.
Tổ
thứ 1: Ma Ha Ca Diếp Tôn giả (Màhàkàsyapa)
Gọi
tắt là Ca Diếp nghĩa là uống ánh hào quang nên còn gọi là
Âẩm Quang. Trong một kiếp xa xưa, Ca Diếp đã giúp cô gái
tán cục vàng để thếp lên chỗ tượng Phật bị bong, vì
thế liền 91 kiếp thân 2 người đều có màu vàng ròng. Trước
khi khuất gia, ông làm thợ kim hoàn, rất sành tuổi vàng ròng.
Là con một gia đình Bà La Môn, song ông quyết xả bỏ dòng
dõi để tu theo Phật trở thành người nêu cao đạo lớn.
Khi Đức Phật Thích Ca ở núi Linh Thúy, một hôm giơ bông
hoa cho mọi xem. Hàng trăm vạn người không hiểu ý, chỉ một
mình Ca Diếp hiểu ý, rạng rỡ mỉm cười. Đức Phật bèn
nói: "Ta có chính pháp nhãn tạng, nay trao cho ông Diệu pháp
Niết bàn", phong ngài làm Tổ sư đầu tay cai quản Giáo hội
Tăng già. Sau khi Đưcỏ Phật nhập diệt, ngài gõ chuông tập
hợp chúng tăng kết tập ba tạng kinh điển tiểu thừa. Khi
A Nan chứng quả A La Hán, ngài truyền cho y bát và bài kệ:
Pháp
pháp bản lai pháp
Vô
pháp vô vi pháp
Hà
vi nhất pháp trung
Hữu
pháp hữu phi pháp
(Pháp
vốn có xưa nay
Không
pháp, chẳng không pháp
Cớ
gì cứ trong pháp
|Có
pháp, có không pháp)
Rồi
vào núi Kê Túc nhập diệt.
Ơở
chùa Tây Phương, tượng Ca Diếp hiện đứng ở bên trái tượng
Tuyết Sơn, là một người tuổi cao, ăn mặc nghiêm chỉnh,
ánh mắt tinh tường, khoát tay ở thế chém . Đây là một
pho đậm chất chân dung, đặc tả cả dung mạo và tính cách.
Tổ
thứ 2: A Nan Đà tôn giả (Aànanda)
Gọi
tắt là A Nan, nghĩa là vui mừng, nên gọi là Hoan Hỉ, Khánh
Hỷ. Ngài là em thúc bá của đức Phật sinh vào đêm phật
thành đạo, 25 tuổi xuất gia và theo hầu bên đức Phật suốt
25 năm liền, được thụ trì tất cả Phật pháp, là người
đa văn (hiểu biết ) số một. Ngài có hâù bên Phật lúc
cuối cùng, được Phật truyền cho những giáo điều sau rốt
và cách giữ gìn đạo lý.
Sau
khi đức Phật nhập diệt, Tổ thứ 1 Ca Diếp tổ chức kết
tập kinh tạng, ANan phiền não chưa hết nên chưa chứng được
quả La Hán. Tổ Ca Diếp bên dắt ANan ra ngoài Hội nghị để
ngồi thiền. Đến cuối đêm mệt mỏi A Nan định nằm nghỉ,
nhưng đầu chưa chạm gối thì bỗng nhiên giác ngộ thành
Đại A La Hán. Ngay khi ấy, ngài gõ cửa Hội nghị xin vào
tham gia, Tổ Ca Diếp bảo hãy chui qua lỗ khóa. A Nan vận thần
thông chui qua lỗ khóa, đủ tư cách cùng tham gia kết tập
kinh tạng với các vị A La Hán khác. Tổ Ca Diếp sai A Nan kết
tập:’’Đức Phật thuyết pháp dù chỉ là một lời một
chữ, nhà người cũng phải thận trọng, chớ để khuyết
lậu. Bồ Tát tạng tập hợp ở một nơi, Thanh Văn tạng tập
hợp ở một nơi, Giới Luật tạng cũng tập hợp ở một
nơi ‘’. Lần đầu tiên kinh văn xuất hiện do A Nan soạn
là thế.
Sau
khi Ca Diếp nhập tịch, A Nan được truyền làm Tổ thứ 2.
Khi A Nan mệnh yểu nhược, ngài vắt chân ngồi yên trên dòng
sông Hằng cứ nhè giữa dòng mà đi vào cõi Niết bàn. Các
vị Tiên nhân và La Hán ra tiễn biệt. A Nan thấy trong số
đó có một vị La Hán là Thương Na Hòa Tu, biết có thể trao
truyền y bát cho được, bèn nói với ông này: ’’... Ta sắp
đi vào cõi tịch diệt vậy truyền lại chính pháp cho người’’
và đọc bài kệ:
Bản
lai phó hữu pháp
Phó
liễu ngôn vô pháp
Các
các tu tự ngô
Ngọ
liễu vô vô pháp
(Xưa
nay đem pháp truyền
Truyền
rồi nói không pháp
Mọi
người phải tự ngộ
Ngộ
rồi không không pháp)
Trao
truyền xong, A Nan nhún mình lao vào hư không, xá lị phân ra
để thờ trong 2 xứ Tỳ Xa Ly và Hoa Thị.
Theo
quy định của bài trí Phật điện, A Nan phải được bày
sóng đôi với Ca Diếp trong bộ tượng "Nhất Phật nhị tôn
giả", đáng ra ở bên phải Tuyết Sơn thì trong một lần bày
lại đã tiến lên hàng trước đổi chỗ cho Đại Diệu Tường.
Do tượng Ca Diếp đứng nên với tính sóng đôi A Nan cũng
được tạc ở thế đứng với hình dáng chung nuột nà, trẻ
trung, đang kết tập kinh tạng (ôm sách), ánh mắt và khóe
miệng cùng cười vui vẻ. Nụ cười hể hả biểu hiện bản
chất của nhân vật đã trở thành tên gọi. Tượng được
tạo dáng đứng thẳng chững chạc, những nếp áo chảy sóng
càng làm tượng vươn lên trong khối chung óng nuột, tỷ lệ
các phần cân đối, cả hình dáng và nội tâm đều sáng láng.
Tổ
thứ 3: Thương Na Hòa Tu tôn giả (Sanakavàsa)
Thương
Na Hòa Tu còn gọi là Thương Nặc Ca Phoọc Sa, xuất phát từ
loại cỏ thiêng và một loại áo lạ gọi là Thương Na hay
Thương Nặc Ca. Khi nào có bậc thánh nhân ra đời thì loại
cỏ này ứng nghiệm từ đất sạch mọc lên báo trước. Khi
còn ở kiếp trước, ngài đã lấy loại cỏ thiêng này tết
thành áo. Ngài ở trong bụng mẹ những 6 năm mới sinh hạ,
sinh ra đã có áo mặc sẵn theo thân, thân mình cao lớn dần
thì áo mặc cũng rộng lớn theo cho phù hợp. Khi ngài xuất
gia thì áo đó trở thành pháp phục, khi ngài thụ cụ túc
giới thì áo đó biến thành áo cà sa 9 mảnh, khi sắp tịch
ngài nguyện để lại áo cho đến khi đạo pháp của đức
giới Thích Ca huyền tận thì áo mới bị mục nát. Do đó
tên cỏ và tên áo trở thành tên người.
Ngày
trước khi Thích Ca đi hoằng dương đạo pháp có đến xứ
sở của ngài, thấy dải cây xanh um, mới nói với A Nan rằng:
"... Sau khi ta tịch diệt 100 năm sẽ có một vị tăng nhân
tên là Thương Na Hoà Tu truyền bá giáo pháp của ta ở đây".
Nay quả đúng như thế.
Thương
Na Hoà Tu sau khi chứng ngộ quả pháp, có lần đi giáo hoá
chúng sinh đã tìm được Ưu Ba Cúc Đa, cho xuống tóc làm thị
giả. Một lần ngài hỏi Ưu Ba Cúc Đa về tuổi đời và tâm
tính, được đáp: "Thân con 17 tuổi nhưng tính tình chăớng
phải 17 đâu". Đây là vấn đề hiện tượng và bản chất
thuộc triết học, nói chung thì phù hợp nhưng không phải
lúc nào cũng phù hợp. Ba năm sau ngài lập đàn thụ giới
thanh văn cho Ưu Ba Cúc Đa làm Tổ thứ 4 với lời kệ:
Phi
pháp diệc phi tâm
Vô
tâm diệc vô pháp
Thuyết
thị tâm pháp thời
Thị
pháp phi tâm pháp
(Chăớng
pháp cũng chăớng tâm
Không
tâm cũng không pháp
Bảo
là tâm là pháp
Là
pháp chăớng tâm pháp)
Sau
khi dặn Ưu Ba Cúc Đa chớ sao nhãng làm đứt đoạn đạo pháp,
ngài vào núi ở ẩn nhưng vẫn thiền định theo dõi và nhắc
nhở. Khi các tăng chúng chứng được quả A La Hán, Thương
Na Hoà Tu bèn hiện 18 ban biến hoá đi vào ánh lửa Tam muội
để tự thiêu, xá lị nhập tháp.
Trong
chùa Tây Phương, tượng Thương Na Hoà Tu bày ở gian bên phải
toà chùa trong là một ông già luôn lo toan, ngồi chân thõng
chân co vắt ngang, một tay để trên đùi còn tay kia thu trong
bọc, áo mặc nhiều nếp lượn để hở bộ ngực gầy giơ
xương... đôi mắt xụp, miệng mím, ít nói nhưng nghĩ nhiều...
đã tạo nên một ông già khắc khổ, sống bằng nội tâm.
Tổ
thứ 4: Ưu Ba Cúc Đa tôn giả (Upagupta)
Ưu
Ba Cúc Đa nghĩa là Cận Tàng, ra đời khi đức Phật nhập
diệt được 100 năm. Ngài thân tuy không đủ 32 tướng tốt
và 80 vẻ đẹp của Phật, nhưng ngài tinh tấn mà làm Phật
sự. Từ năm 12 tuổi ngài đã bộc lộ rõ sự thông minh. Hàng
ngày mỗi khi nghĩ việc xấu thì bỏ một viên đá đen vào
bao, còn nghĩ việc tốt thì bỏ vào viên đá trắng. Lúc đầu
đá đen nhiều, đá trắng ít, rồi dần đá đen và đá trắng
bằng nhau, về sau không có đá đen chỉ toàn đá trắng, bấy
giờ ngài đã vững vàng. Năm 17 tuổi ngài xuất gia, năm 20
tuổi đã chứng được quả. Ngài hay vân du để xiển dương
Phật pháp, độ được rất nhiều người. Điều đó khiến
ma quỉ lo sợ và tìm mọi cách quấy phá. Nhờ pháp thuật
cao, ngài hàng phục được cả ma. Khi thuyết pháp, cứu độ
được cho một người, ngài lại cất một thẻ tre vào nhà
đá. Về sau có Hương Văn xin xuất gia. Qua trao đổi, biết
hương Văn đã ngộ được đạo, ngài làm lễ xuống tóc cho
và trao cho giới thanh văn, lại bảo: "Phụ thân người nằm
mộng thấy mặt trời chói lọi sắc vàng, liền đó sinh ra
người, vậy nên đặt pháp danh là Đề Đa Ca". Sau đó lại
trao truyền đạo pháp cho làm Tổ thứ 5 và đọc kệ:
Tâm
tự bản lai tâm
bản
tâm phi hữu pháp
Hữu
pháp hữu bản tâm
Phi
tâm phi bản pháp
(Tâm
vốn tự là tâm
Tâm
đây chăớng có pháp
Có
pháp có tâm này
Chăớng
tâm chăớng phải pháp)
Truyền
đạo xong, ngài ngồi yên trên pháp toà, tự nhiên hoá, Xá
lị được xây tháp để thờ.
Tượng
Ngài ở chùa tây Phương đặt ở góc sau bên phải toà chùa
trong thể hiện ngài là một người độồ lượng, ham học
hỏi, ham giúp đời. Ngồi nhấp nhổm trên gót chân trái quỳ
gập lại, còn chân phải gấp chống làm điểm tựa cho bàn
tay cầm một vật nhẹ (bút hay thanh tre? - đã bị mất), tay
bên kia cầm thẻ tre, người dướn lên, đầu nhô cao, mình
mặc 2 lớp áo dài xoà trùm xuống đất. Tượng có đầu to
tròn, trán cao, hói quá đỉnh biểu hiện sự thông minh; lông
mày to rộng cùng với bộ râu quai nón và hàng ria mép là những
vệt đen đậm làm nổi đôi mắt tròn sáng mở to nhìn xa rất
chăm chú, phối hợp với cái miệng chúm mở, rõ ràng là sự
thuyết giảng nhũng giáo lý uyên thâm, cứ như thôi miên quán
xuyến cả đám đông người nghe. Đôi tai dài, gò má đầy
và cánh mũi nở càng ăn ý với những mảng khối căng tròn
trên vai và đầu gối, tất cả đều biểu đạt sự sung mãn
mà ngay khi xuất gia tâm tính đã vượt xa 17 tuổi đời. Bộ
ngực chỉ lộ một mảng nhỏ hơi hằn nổi xương sườn,
cùng với các mảng khối da thịt khác sáng láng là sự tráng
kiện của tuổi trung niên. Pho tượng đơn chiếc nhưng người
chiêm ngắm lại cứ mường tượng có đám đông chúng sinh
phía trước cùng hướng về nơi Tổ ngồi. Đây là một pho
tượng rất thành công trong sự cân đối và sống động.
Tổ
thứ 5: Đề Ca Đa tôn giả (Dhritaka)
Tên
tục là Hương Văn (hay Hương Trượng), khi xuất gia được
sư phụ đặt pháp hiệu Đề Đa Ca nghĩa là thông chân lượng,
biểu hết thảy vì khi được hỏi rằng: "Thân người xuất
gia hay tâm người xuất gia?" đã trả lời: "Tôi xuất gia chăớng
vì thân cũng chăớng vì tâm. Không sinh không diệt là cái
chân thường của Đại Đạo, chư Phật cũng là thường đạo.
Tâm không hình tướng, thể cũng vậy?
Khi
ngài mới sinh ra, ông bố nằm mơ thấy 1 mặt trời chói lọi
sắc vàng từ trong nhà bay ra chiếu khắp trời đất, phía
trước có toà núi lớn, khắp núi là những thứ chân bảo
hoa mĩ, đỉnh núi có khe nước trong vọt ra phân thành 4 nhánh
chảy réo rắt. Khi biết chuyện, Ưu Ba Cúc Đa giải thích:
Núi báu kia là thân thể ngươi, suối nước là chỉ pháp Phật
vô tận, mặt trời là sự nhập đạo của ngươi để rồi
rọi chiếu trí tuệ đến mọi người.
Đề
Đa Ca sau khi nhận y bát của Ưu Ba Cúc Đa để làm Tổ thứ
5 đã phụng trì không biếng trễ. Một lần đến miền trung
Âấn Độ, Di Giá Ca đem 8 ngàn Đại tiên đến nghênh đón.
Xa xưa 2 người là đồng học, rồi một tu đạo Tiên một
tu thiền định, đã qua 6 kiếp nay lại gặp nhau. Đề Đa Ca
thọ giới cho Di Giá Ca, lại vận thần thông để tất cả
các vị Tiên đều xin xuất gia. Sau đấy Đề Đa Ca đem thanh
tịnh pháp nhãn truyền lại cho Di Giá Ca làm Tổ thứ 6 với
lời kệ:
Thông
đạt bản pháp tâm
Vô
pháp vô phi pháp
Ngộ
liễu đồng vị ngộ
Vô
tâm diệc vô pháp
(Thông
đạt vốn pháp tâm
Không
pháp không phi pháp
Ngộ
rồi như chưa ngộ
Không
tâm tức không pháp)
Nói
xong, Đề Đa Ca vươn mình lao vào hư không, hiện 18 ban biến
hoá, lấy lửa tam muội tự thiêu, xá lị để trong tháp.
Ơở
chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 5 Đề Đa Ca được bày ở
bên trái Tổ thứ 4, ở thế ngồi , hai tay đưa trước ngực.
Toàn bức tượng tạo thành một khối chóp đóng kín, đường
viền rõ ràng, mảng khối óng ả, các nếp áo chảy song hành
dễ dàng, tất cả như gợi lại điềm lành khi sinh, nhưng
khuôn mặt đăm chiêu như có sự vướng mắc chờ đợi người
xứng đáng để trao truyền y bát, do đó gợi khoảng không
mênh mông tuyệt đối.
Tổ
thứ 6: Di Giá Ca tôn giả (Michakha)
Di
Giá Ca sau khi trở thành vị Tổ thứ 6 đã đi giáo hoá nhiều
nơi. Một hôm thấy trên thành có mây lãnh sắc vàng bèn bước
vào, đến chợ gặp người cầm chén rượu chặn hỏi. Sau
những câu thăm dò, Tổ bảo người kia nói rõ họ tên sẽ
cho biết nguyên cớ. Được biết đó là Bà Tu Mật họ Phả
La Đọa, Di Giá Ca liền bảo: "Thầy ta là Đề Đa Ca có nói
rằng xưa đức Thế Tôn vân du đến miền Bắc Âấn, đã
nói với A Nan rằng: Sau khi ta tịch diệt chừng 300 năm, xứ
này sẽ sinh bậc thánh nhân họ Phả La Đoạ tên Bà Tu Mật
làm vị Thiền Tổ thứ 7. Đức Phật đã biết trước, vậy
nay ngươi nên xuống tóc xuất gia". Bà Tu Mật cũng cho hay:
Trong một kiếp xưa có cúng giàng, được Như Lai bảo ở đời
Hiền kiếp sẽ thay ngài xiển dương chính pháp, vậy nay xin
Đại sư cho được xuất gia. Tổ bèn thu nhận, và về sau
trao truyền cho Phật pháp để làm Tổ thứ 7 với bài kệ:
Vô
tâm vô khả đắc
Thuyết
đắc bất danh pháp
Nhược
liễu tâm phi tâm
Thuỷ
giải tâm tâm pháp.
(Không
tâm không thể đắc
Bảo
đắc pháp không xong
Nếu
hiểu tâm chăớng tâm
Mới
biết pháp của tâm)
Đọc
kệ xong, Tổ nhắm mắt đi vào cảnh giới giải thoát, vọt
vào hư không rồi lại trở về pháp toà làm ngọn lửa tự
thiêu, xá lị để vào tháp.
Ơở
chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 6 Di Giá Ca được đặt ở
giữa Tổ thứ 3 và Tổ thứ 5, thế đứng chững chạc, mặc
áo dài nghiêm túc, đang trong sự ngỡ ngàng tìm hiểu điều
gì đó, tay phải thu trong bọc còn tay trái như bấm đốt lần
tính, khuôn mặt có vẻ bàng hoàng ngơ ngác, cả mắt và miệng
đều đang thăm dò với động thái hấp háy khó nói rõ. Và
như thế, người xem cảm nhận phía trước Tổ có cảnh lạ
hay ai đó đang đối thoại. Tượng có dáng vẻ bình tĩnh song
nội tâm lại động rộn.
Tổ
thứ 7: Bà Tu Mật tôn giả (Vasumatra)
Bà
Tu Mật vốn là người thích ăn mặc sạch sẽ, tay không rời
chén rượu, thường du hành trong đám dân quê, hay ngâm thơ
và lớn tiếng ca hát. Người ta cho ngài là người cuồng.
Khi được Tổ thứ 6 tuyên giảng về tiền duyên, Bà Tu Mật
bỏ rượu và xin xuất gia. Sau khi tiếp thừa y bát trở thành
Tổ thứ 7, ngài hay đi các nơi giáo hoá chúng sinh. Một hôm
có kẻ trí đến gặp, xưng tên là Phật Đà Nan Đề, muốn
được cùng bàn về nghĩa cả, nhưng khi biết Tổ thứ 7 hơn
hăớn một cái đầu, thì tình nguyện xin theo để cầu chính
pháp.
Sau
khi xuống tóc và trao giới thanh văn cho Phật Đà Nan Đề,
ngài nhắc phải chuyên tâm hộ trì, và phó cho bài kệ:
Tâm
đồng hư không giới
Thị
đăớng hư không pháp
Chứng
đắc hư không thời
Vô
thị vô phi pháp
(Tâm
hư cõi hư không
Âấy
là pháp hư không
Chứng
được thời hư không
Đâu
pháp và phi pháp)
Khi
Tổ đi vào chốn từ tâm Tam muội, các chư Tiên đều xin Tổ
mở cho con đường giải thoát. Tổ bèn hướng về phía quần
Tiên đọc kệ tiếp:
Pháp
mà ta ngộ được
Thời
chăớng phải có pháp
Muốn
ngộ được Phật tính
Hãy
bỏ cả có - không.
Đọc
xong Tổ đi vào cảnh giới niết bàn.
Hình
Tổ thứ 7 Bà Tu Mật được vẽ trong các thư tịch cổ và
tạc thành tượng ở chùa Tây Phương đặt ở bên trái Tổ
thứ 3 gần như tương đồng: Tổ là người cao tuổi, rất
chú ý đến trang sức, đầu tóc buộc dây và chải mượt,
mặc áo tĩnh y với những nếp gấy chảy nuột, chân giầy,
cổ tay đeo vòng, đứng thăớng, ngửa mặt lên trời, miệng
há vừa như chào đon đả hay đọc kệ, hai tay chắp lại đưa
lên ngang mặt thi lễ, mắt lim dim... Hăớn nghệ sỹ xưa muốn
diễn tả giây phút cuối đời của Tổ đang truyền kệ cho
các chư Tiên. Là tượng đơn, song chiêm ngắm Tổ, người
xem cảm được cả một tập thể mà Tổ đang giao tiếp. Hình
ảnh Tổ được nghiên cứu rất kỹ để từng chi tiết phối
hợp lại bộc lộ rõ tính cách lịch thiệp, trang trọng, ngoại
hình gắn bó chặt chẽ với nội tâm.
Tổ
thứ 8: Phật Đà Nan Đề tôn giả (Bouđhanandi)
Tổ
có nhục kháo trên đầu, có tài biện luận, giỏi ăn nói,
sống thoải mái. Khi biết Tổ thứ 7 đến nước mình, ngài
chủ động tìm gặp, tự giới thiệu và xin cùng luận bàn
nghĩa cả. Sau khi được Bà Tu Mật trao truyền giáo Pháp làm
Tổ thứ 8, đã đi vân du khắp nơi để xiển dương chính
pháp.
Một
lần thấy trên nhà nọ toả ra thứ ánh sáng trắng kỳ lạ.
Tổ nói với các đồ đệ: "Trong nhà ắt có thánh nhân có
thể hoằng dương Phật pháp. Người này chưa hề nói và đi
đâu vì không muốn tiếp xúc với ô uế bên ngoài". Chủ nhà
ra mời Tổ vào và nói rõ: "Con trai tôi là Phục Đà Mật Đa
đã 50 tuổi mà chưa nói một lời, chưa đi một bước". Tổ
nhận ra đây là người mình cần tìm, thì Phục Đà Mật Đa
cũng bước ra thi lễ, đọc kệ nói lên công ơn cha mẹ khó
đáp đền và tâm nguyện muốn đi tìm đạo, sau đó đi 7 bước.
Sau
khi nghe Tổ giải thích, vị trưởng giả chủ nhà quyết định
xa con, để Phục Đà Mật Đa theo Tổ làm đầu đà. Không
bao lâu, Phật Đà Nan Đề trao truyền thanh tịnh pháp nhân
cho Phục Đà Mật Đa làm Tổ thứ 9 và đọc bài kệ:
Hư
không vô nội ngoại
Tâm
pháp diệc như thử
Nhược
liễu hư không cố
Thị
đạt chân như lý
(Hư
không đâu trong ngoài
Tâm
pháp cũng như thế
Nếu
hiểu hư không vậy
Lag
đạt cảnh giới rồi).
Đọc
kệ xong, Phật Đà Nan Đề thiu thiu đoan toạ mà viên tịch,
xá lị an táng trong tháp.
Tượng
Tổ thứ 8 ở chùa Tây Phương bày ở các góc ngoài phía bên
phải toà chùa trong, là một người béo tốt, ngồi bệt, chân
phải xếp bằng, chân trái chống nghiêng, tay trái để trên
đùi, tay phải đang ngoáy tai. Cả pho tượng thể hiện sự
căng nây, óng ả, mặt hỉ hả, đôi mắt hóm hỉnh, miệng
cười dễ dãi, khuôn mặt sáng sủa, tất cả toát lên sự
thông minh, mềm mỏng, nói khéo, dễ gần. Đây là pho tượng
đặc biệt sống động, dù cái que bị mất vẫn luôn gợi
động tác ngoáy tai, ngoài sự kích thích còn biểu hiện sự
giao tiếp và ứng xử văn hoá uyên bác.
Tổ
thứ 9: Phục Đà Mật Đa tôn giả (Bouđhamitra)
Phục
Đà Mật Đa tuy 50 năm liền không nói không đi nhưng không
phải là bệnh lý mà là muốn giữ mình trong sạch. Ngay cả
khi gặp Tổ thứ 8 Phật Đà Nan Đề, ngài đã có những biểu
hiện như khi đức Phật ra đời là đọc bài kệ và đi 7
bước, khiến Tổ thứ 8 nhận xét về ngài: "Vị Tiên sinh
này kiếp xưa chắc đã gặp Phật Tổ, có tâm nguyện sâu
rộng, nhưng khó báo ân nghĩa mẹ cha". Ngay sau khi nhận sự
phó thác của Phật Đà Nan Đề, ngài đã tán tụng công đức
sư phụ:
Thầy
ta là Tổ thứ Tám
Đem
Phật pháp dạy dỗ quần sinh
Khiến
ai cũng được A Na Hàm đắc quả.
Là
Tổ thứ 9, Phục Đà Mật có lần đi giáo hoá đã gặp ông
Hương Cái dắt theo đứa con nhỏ đến và nói: "Con tôi từng
ở trong bụng mẹ 60 năm, do đó khi sinh ra khó mới đặt tên
là Nan Sinh. Có vị Tiên đã phán bảo sau này nó sẽ thừa
truyền sự nghiệp cao cả. Nay xin Tôn giả thu nhận nó làm
đệ tử". Được thụ giới Tổ thứ 9, Nan Sinh khi hành đạo
có hào quang toả sáng Pháp toà, long lanh như xá lị Phật.
Về sau Phục Đà Mật Đa trao cho Nan Sinh thanh tịnh pháp nhãn
để làm Tổ thứ 10, và đọc kệ:
Chân
lý bản vô danh
Nhân
danh hiển chân lý
Thụ
đắc chân thực pháp
Vô
chân diệc vô ngụm>
(Lý
thực vốn không tên
Nhân
danh tỏ lý đó
Thụ
được pháp thực chân
Thì
không chân không ngụfont>
Truyền
pháp xong, Phục Đà Mật Đa thiu thiu đi vào cảnh giới Niết
bàn giải thoát, xá lị để trong tháp.
Tượng
Tổ thứ 9 Phục Đà Mật Đa được bày ở bên trái Tổ thứ
8, tả cảnh Tổ đang ngồi tựa mỏm đá, mặc áo nhiều nếp
nhăn, để hở ngực và cánh tay. Tượng được nhấn mạnh
những nét gồ ghề, tạo sự già dặn từng trải pha chút
hóm hỉnh như đầu nhô nhục kháo, lông mày nhíu lại tạo
những vết nhăn dọc trên ấn đường, lưỡng quyền nổi
cao, cánh mũi nở, miệng mở hẹp với nếp nhăn bên khoé mép,
cằm bạnh, mắt sáng nhìn xuống. Tay trái ngài cầm một cuốn
sách mở, tạo được sự hợp lý của khuôn mặt đang nhìn
xuống sách, đọc và phát hiện những tư tưởng mới như
chính ngài đặt ra khi nói câu đầu tiên: "... Đạo lớn kia
là Đạo ta cần biết. Còn cái gì cần biết hơn Đạo kia?".
Đây là tác phẩm thể hiện được một nội tâm khá phức
tạp.
Tổ
thứ 10: Hiệp tôn giả (Parsva)
Tên
tục của ngài là Nan Sinh, nhưng người đương thời gọi ngài
là Hiệp tỳ kheo với nghĩa nhà tu hành không đặt lưng xuống
chiếu nằm nghỉ. Truyện kể người cha nằm mộng thấy con
voi trắng mang trên lưng chiếc ngai báu đặt hạt minh châu
từ cửa tiến vào, toả ánh sáng đầy nhà. Khi tỉnh dậy
thì Nan Sinh ra đời. Vì ngài nằm trong thai những 60 năm nên
lọt lòng đã có râu và lông mày bạc trắng. Buổi đầu ngài
theo đạo Bà La Môn, là nhà thông thái. Năm 80 tuổi ngài mới
xuất gia đi tu, bị những người trẻ chê là ông già đần,
họ bảo người xuất gia phải biết thiền định và tụng
kinh, mà ông thì già yếu chỉ biết ăn no thôi. Nghe vậy, ngài
phát nguyện: Nếu không thông nghĩa lý ba tạng kinh, không đoạn
trừ được lòng dục ba cõi, không đắc được sáu thần
thông và không đắc được giải thoát thì mãi mãi không bao
giờ đặt lưng xuống chiếu. Trải 3 năm kiên trì tu luyện,
ngài đã đạt được những điều hạnh nguyện.
Sau
khi được Phật Đà Mật Đa truyền cho pháp bảo làm Tổ thứ
10, Hiệp tôn giả đi vân du giáo hoá chúng sinh, một lần dừng
chân bên cây cổ thụ, ngài chỉ tay xuống đất nói với đồ
chúng: "Đất nơi đây sẽ biến thành vàng, và khi đó sẽ
có vị thánh nhân xuất hiện". Nói xong quả nhiên đất dưới
chân vàng rực và có Phú Na Dạ Xà đi đến yết kiến. Hai
người đàm đạo Phật pháp rất tâm đắc. Biết được Phú
Na Dạ Xà đã tỏ thiền cơ, Tổ bèn thế tóc trao giới cho
làm thị giả, về sau lại truyền Pháp bảo cho làm Tổ thứ
11, kèm bài kệ:
Chân
thể tự nhiên chân
Nhân
chân thuyết hữu lý
Lĩnh
đắc chân chân pháp
Vô
hành diệc vô chỉ
(Thể
thực tự nhiên thực
Nhân
đấy nói lời hay
Hiểu
rồi pháp chân thực
Không
đi cũng chăớng dừng)
Trao
pháp xong, Hiệp tôn giả tiến vào cõi Niết bàn, tự hoá ra
lửa thiêu thân, xá lị nhập tháp báu.
Ơở
chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 10 Hiệp tôn giả được
bày ở bên trái Tổ thứ 9 , tả cảnh ngài đang đứng tựa
vào thân cây già, có nhục kháo trên đầu, râu tóc đều rất
ngắn, mặt bóng bẩy hóm hỉnh, tay phải cầm quạt, còn tay
trái tỳ lên cổ tay phải. Tượng được đặc biệt nhấn
mạnh ở đôi mắt tròn sáng, miệng mím xít, da thịt phốp
pháp mịn óng đối lập với cây khô nhiều hốc mắt, cũng
biểu hiện người hay quan sát, ít nói, không nằm nghỉ đúng
như tên gọi, người tinh tấn có chí, rất giàu nghị lực.
Tổ
thứ 12: Mã Minh tôn giả (Asvagosha)
Mã
Minh có nghĩa là ngựa rống, bắt nguồn từ mấy truyền thuyết
khác nhau: ngài vốn là Quốc vương, trong nước ngài có một
loại người sống như ngựa không mặc quần áo, ngài bèn
dùng phép phân thân hoá ra vô số tơ tằm, dân phấn khích
la rống lên, do đó ngài lấy hiệu là Mã Minh. Thuyết khác
kể rằng ngài là vị tì khiêu có tài thuyết pháp cảm động
được cả những loài phi nhân. Một lần có 7 con ngựa đói
thỉnh tì khiêu thuyết pháp, nhà Vua cho người mang cỏ non
đến, nhưng chúng rơi nước mắt, chỉ chăm chú nghe pháp,
không tưởng gì đến ăn uống. Vì thế thiên hạ gọi ngài
là Mã Minh Bồ Tát.
Mã
Minh là con một nhà Bà La Môn, thông minh, hiểu biết, nổi
tiếng về tài biện luận. Xưa đức Như Lai thọ ký rằng:
"Sau khi ta tịch diệt 600 năm, sẽ có một vị hiền nhân ra
đời tên là Mã Minh chuyên hàng phục tà giáo, có tài thuyết
phục rất nhiều người xuất gia tu hành, sẽ là người truyền
thừa giáo pháp của ta". Tổ thứ 11 Phú Na Dạ Xa tìm được
Mã Minh, giảng giải cho về hiển giáo và Mật giáo, rồi truyền
thanh tịnh pháp nhân cho làm Tổ thứ 12.
Một
lần ngài đang tuyên giảng đạo pháp, bỗng có ma quỷ hiện
hình thành ông già, thành người vàng rồi lại thành một
cô gái đến chòng ghẹo, sau lại thành con rồng dữ lượn
quẫy trong mưa gió mịt mù để đe doạ. Ngài vẫn ngồi yên
trang nghiêm lấy chính pháp thu phục, khiến ma hiện lại hình
người bày tỏ sự sám hối. Con ma xưng tên là Ca Tỳ Ma La,
đã có 3000 đồ đệ, có thể biến được biển lớn thành
suối nhỏ. Nhưng hỏi về tính chất của biển thì Ca Tỳ
Ma La không biết, sau khi được Tổ giải thích đã xin quy y
cùng với tất cả đồ đệ. Về sau, Mã Minh truyền thanh tịnh
pháp nhãn cho Ca Tỳ Ma La làm Tổ thứ 13, kèm theo bài kệ:
Âẩn
hiện tức bản pháp
Minh
ám nguyên vô nhị
Kim
phó ngộ liễu pháp
Phi
thủ diệc phi ly
(Âẩn
hiện tức là pháp
Sáng
tối vốn không hai
Nay
trao cho phép ngộ
Chăớng
tin cũng chăớng bỏ).
Trao
truyền xong, Mã Minh nhập thiền định cảnh giới cát tường
mà viên tịch, xá lị để trong long khám.
Ơở
chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 12 Mã Minh đặt ở cuối
dãy hồi trái toà chùa trong.Tượng Tồ được tạc ở tư
thế ngồi, chống tay phải trên phiến đá, mặc áo trật vai
trái xuống tận cánh tay để hở cả ngực và bụng, đầu
hói quá đỉnh. Tồ ngồi trên lưng rồng, bình thản, thả
thõng chân phải và hơi co chân trái, thân hơi ngả về sau
và chống thăớng tay phải tạo thế vững vàng không mỏi,
tay trái gấp vuông đưa ngang trước bụng và chỉ về con rồng.
Đầu tượng tròn, cạo trọc càng nổi các khối căng đầy
sức sống, tai dài chạm vai, mắt nhìn thăớng vào đối tượng
cùng với miệng há biểu hiện đang tranh luận, mặt rất tươi,
trên thân mình, da dẻ căng óng khoẻ mạnh. Tổ đầy vẻ tự
tin, thông minh, điềm tĩnh, rất chan hoà với mọi người.
Tổ
thứ 13: Ca Tỳ Ma La tôn giả (Capimala)
Ngài
vốn theo tà giáo, đã có tới 3000 đồ đệ, thông hiểu các
dị thuyết, sau được Tổ thứ 12 Mã Minh khuất phục rồi
lại truyền thừa y bát cho làm Tổ thứ 13. Ngài đi giáo hoá
khắp nơi, một hôm nhận lời mời đến toạ thiền ở một
hang núi sâu, giữa đường gặp con rắn to quấn chặt quanh
mình. Nghe ngài thuyết giảng, rắn bỏ đi, khi ngài đến gần
hang đá, có ông lão chắp tay thi lễ và thưa: "Tôi xưa cũng
là hoà thượng, nhưng do mắng đuổi những người học đạo
bị biến thành mãng xà ở hang này đã nghìn năm. Vừa rồi
được nghe tôn giả thuyết giảng nên đến cảm tạ". Ông
già cho biết thêm gần đây có cây đại thụ xum xuê như con
rồng lớn che mát cho 500 con rồng nhỏ, gọi là long thụ vẫn
thường thuyết pháp cho chúng rồng nghe. Ngài tìm đến, Long
Thụ đón chào nhưng còn ngờ vực, đến khi được nghe chỉ
bảo, đã cùng 500 long chúng đều xin xuống tóc đi tu. Sau đó
Ca Tỳ Ma La truyền giáo pháp cho Long Thụ làm Tổ thứ 14, và
đọc bài kệ:
Phi
ẩn phi hiển pháp
Thuyết
thị chân thực tế
Ngộ
thử ẩn hiện pháp
Phi
ngu diệc phi trí
(Pháp
chăớng ẩn chăớng hiện
Khi
giảng điều chân thực
Ngộ
rồi pháp ẩn - hiện
Chăớng
ngu cũng chăớng trí)
Thuyết
pháp xong, Ca Tỳ Ma La hoá ra ngọn lửa tự thiêu thân, xá lị
cất trong tháp báu.
Tượng
Tổ ở chùa Tây Phương được đặt ở giáp tường hậu cuối
gian bên trái toà chùa trong, tả cảnh Tồ đang bị mãng xã
quấn quanh, nhưng Tổ vẫn điềm tĩnh: đứng thăớng vững
vàng, mặt nhìn lên, đầu nổi nhục kháo, gò má cao tạo một
vẻ hơi ngây, mắt mở to, miệng mím không nói gì, da thịt
và mảng áo đều mịn óng. Sự đàng hoàng của Tổ khiến
rắn biết gặp đối thủ cao cường phải bái phục. Đây
cũng là một cách tranh đấu có nội lực mạnh, khác với
điều ghi trong tiểu sử, biểu hiện sự sáng tạo của nhà
điêu khắc.
Tổ
thứ 14: Long Thụ tôn giả (Nagarjuna)
Ngài
được bà mẹ sinh dưới một gốc cây, về sau lại nhờ loài
rồng giúp mà thành đạo, do đó mang tên là Long Thụ. Ngài
ra đời sau khi đức Phật nhập diệt chừng 700 năm. Tuổi
nhỏ ngài đã đi khắp nơi, tìm học nhiều môn, vốn dòng
Bà La Môn, sau gặp Tổ thứ 13 Ca Tỳ Ma La mới quy Phật. Ngài
đã đọc và liễu thuộc nhiều kinh điển, song vẫn thấy
còn có chỗ chưa đầy đủ, đã ngồi quán tưởng được
Đại Long đưa xuống Long cung chép Kinh Hoa Nghiêm mang về. Ngài
còn soạn ra một số bộ kinh giải về đạo lý rất rành
và làm cốt yếu của Tam luận tông. Ngài còn truyền bá giáo
lý Mật Tông với nhũng linh phù và châm ngôn. Long Thụ khi
đi giáo hoá, đã vì mọi người mà thuyết pháp, đoan nghiêm
ngồi trên pháp toà, hiện thành vầng trăng sáng, mọi người
chỉ nghe tiếng mà không thấy hình tướng. Đệ tử Ca Na Đề
Bà giải thích cho mọi người rằng đấy là đại sư tiến
nhập vào Vô tướng Tam muội, hình như vầng trăng tròn sáng,
trống rỗng hư huyền, biểu hiện ý nghĩa Phật tính. Long
Thụ là một vị Tổ có danh tiếng lớn trong giới Phật học,
được đương thời coi là Phật sống. Về sau ngài truyền
thanh tịnh pháp nhãn cho Ca Na Đề Bà làm Tổ thứ 15, đọc
bài kệ:
Vị
minh ẩn hiện pháp
Phương
thuyết giải thoát lý
Ư
pháp tâm bất chứng
Vô
sân diệc vô hỷ
(Làm
rõ pháp ẩn - hiện
Nói
tỏ lẽ giải thoát
Tâm
không chứng được pháp
Chăớng
buồn cũng không vui).
Truyền
pháp xong, Tổ nhập Nguyệt luân Tam muội, ngồi yên trên pháp
toà, lặng lẽ viên tịch, thi thể an táng trong tháp báu.
Ơở
chùa Tây Phương, Tổ thứ 14 Long Thụ được đặt ở bên
trái Tổ thứ 13, là vị Tổ duy nhất ngồi trên toà sen. Tượng
Tổ được tạc với những đặc điểm: đầu nổi nhục kháo,
gò má cao, mắt nhắm, mũi nở, cằm nhọn thể hiện một nhà
hiền triết uyên bác, ngồi tĩnh lặng nhưng nội tâm sôi động,
là người từng trải, khắc khổ, xem nhẹ đời thường để
suy tư hoàn chỉnh kinh pháp. Con rồng ở bệ nhỏ bên trái
Tổ đang đội một kệ sách, ý chừng nhắc ngài được Đại
Long cho kinh Hoa Nghiêm. Đây là pho tượng thoát tục rất thành
công, Tổ được xem trọng như Phật. Người xem hiểu truyện
Tổ, ngắm tượng lâu sẽ thấy đường viền nhạt nhoà để
chỉ còn một vầng sáng yếu, không thực không hư theo như
Phật tính.
Tổ
thứ 16: La Hầu La Đa tôn giả (Ràhulata)
La
Hầu La Đa còn gọi tắt là La Hầu La là con trai của một
nhà trưởng giả, trên cây trong vườn nhà ông cứ hàng ngày
mọc ra những đoá mộc nhĩ mà chỉ riêng La Hầu La Đa nhìn
thấy, hái ăn rồi lại mọc. Tổ thứ 15 Ca Na Đề Bà biết
chuyện ghé thăm và giải thích: có vị tăng nhân chịu ơn
cúng dường của trưởng giả đã biến thành mộc nhĩ để
báo tiền duyên. Trưởng giả bèn xin Tổ cho La Hầu La Đa xuất
gia theo hầu. Tổ thứ 15 bèn cho biết xa xưa đức Phật đã
dự ngôn rằng sau khi ngài nhập diệt 1000 năm thì con trai ông
sẽ kế thừa y bát thành Giáo chủ, vậy đây là việc tiền
duyên, bèn thu nhận và xuống tóc cho làm thị giả. Về sau
Ca Na Đề Bà truyền đại pháp cho La Hầu La Đa làm Tổ thứ
16.
La
Hầu La Đa là người thông minh, có tài thuyết pháp. Một lần
ngài vân du đến sông Kim Thuỷ thành Thất La, đã nói cho đại
chúng biết rằng ở đầu nguồn có bậc thánh nhân Tăng Già
Nan Đề mà xưa đức Phật đã dự ngôn rằng sau 1000 năm người
ấy sẽ ở ngôi vị Tổ thứ 17. Nói rồi, ngài cho thuyền
ngược lên nguồn, tới nơi thấy Tăng Già Nan Đề đang nhập
định. Đủ 37 ngày ông này mới xuất định ra khỏi cơn thiền.
Hai người bàn luận nhiều về nghĩa lý của sự định, tranh
luận sôi nổi và kéo dài, cuối cùng Tăng Già Nan Đề tỉnh
ngộ xin được xuất gia. La Hầu La Đa còn thuyết giáo nhiều
cho các đồ chúng, trong đó Tăng Già Nan Đề đã giúp việc
rất đắc lực, cuối cùng được truyền thanh tịnh pháp nhãn
làm Tổ thứ 17, kèm bài kệ:
Ư
pháp thực vô chứng
Bất
thủ diệc bất ly
Pháp
phi hữu vô tướng
Nội
ngoại vân hà khởi
(Pháp
thực còn chưa chứng
Không
nắm cũng không rời
Pháp
tướng chăớng có - không
Trong
- ngoài nào chỗ tách)
Truyền
pháp xong, Tổ ngồi yên viên tịch, thi hài thờ trong tháp.
Ơở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 16 La Hầu La Đa được
bày ở bên phải Tổ thứ 13. Tổ ngồi trên phiến đá, hai
chân thả chạm đất, cây gậy tích trượng để tựa vai do
tay trái giữ không phải để tăng sự vững chắc mà chỉ
nhằm nâng uy thế. Bàn tay phải xoè ra để úp trên đùi lộ
rõ những móng tay dài của người trưởng giả ăn chơi, khuôn
mặt hơi ngửa có vẻ ngạo nghễ, miệng mím với môi mỏng
biểu hiện tài nói năng trơn tru. Đôi mắt nheo nheo với chiếc
mũ hơi hếch lại tạo một vẻ mặt đăm đăm. Các nếp nhăn
và khối gồ ghề trên thân thể biểu hiện sự mỏi mệt,
đến cả các nếp nhăn trên áo cũng gợi sự trăn trở, và
cách ngồi có cái gì nặng nề. Tổ là vị duy nhất chít khăn
cùng với toàn thân cân đối muốn gợi sự quyền quý oai
vệ. Con hươu nằm ở trái Tổ, quay cổ và ngóc đầu hướng
về Tổ như sự chờ đợi vỗ về. Có thể đấy là hình
ảnh của Lộc uyển nơi đức Phật Thích Ca đã thuyết pháp
và đức Ca Diếp đã chuyển pháp luân, ở đây con hươu cũng
gợi ra những chúng sinh, những tăng lữ đã từng tranh luận
về pháp với Tổ. Đây là một pho tượng được nghiên cứu
rất kỹ về giải phẫu cơ thể và tâm lý xã hội, phức
tạp mà thống nhất.
Tổ
thứ 17: Tăng Già Nan Đề tôn giả (Samghanandi)
Ngài
là con Vua nước Bảo Trang Nghiêm, vừa sinh ra đã biết nói,
hay tán dương Phật pháp. Lên 7 tuổi đã xa bỏ những thú
vui thế tục, làm bài tụng xin xuất gia nhưng cha mẹ không
thuận. Không lay chuyển được con, vua cha mời một vị hoà
thượng vào thành tuyên dạy, 19 năm không hề thoái chí. Song
ngài không bằng lòng với việc tu ở trong vương cung, một
ngày kia đã trốn vào trong hang núi để ngồi nhập định.
Ngài nhập định liền 37 ngày, khi xuất định thấy Tổ thứ
16 La Hầu La Đa ở bên cạnh. Được Tổ giảng giải về Đạo,
Tăng Già Nan Đề tỉnh rõ tất cả. Mười năm sau được La
Hầu La Đa truyền thừa giáo pháp làm Tổ thứ 17. Một lần
đi vân du, nhờ gió mát và mây tía báo hiệu, ngài gặp đứa
trẻ cầm gương xưng đã 100 tuổi muốn ngộ Phật cơ, bèn
dắt về chùa làm lễ xuống tóc cho làm thị giả và đặt
tên là Già Da Xá Đa.
Nhân
một lần gió thổi làm khánh kêu, Tổ hỏi: "Khánh kêu hay
gió kêu?", Già Da Xá Đa đáp: "Đấy là tâm con kêu". Lại hỏi:
"Trong tâm ngươi là cái gì?". Đáp: "Tất thảy đều yên ắng".
Biết Già Da Xá Đa đã ngộ, Tăng Già Nan Đề bèn trao thanh
tịnh pháp nhãn cho làm Tổ thứ 18, kèm bài kệ:
Tâm
pháp bản vô sinh
Nhân
địa tòng duyên khởi
Duyên
chủng bất tương phòng
Hoa
quả diệc phục hỹ
(Tâm
pháp vốn không sinh
Mọi
cái đều từ duyên
Duyên
- pháp không cùng lối
Hoa
quả cũng thế thôi).
Phó
pháp xong, Tổ vin cành cây mà viên tịch, các đồ đệ xây
tháp dưới gốc cây để thờ.
Tượng
Tăng Già Nan Đề ở chùa Tây Phương được bày ở góc trong
bên trái của toà chùa trong, tượng được tạc với khuôn
mặt chữ điền rạng rỡ, ngồi tì cằm lên bàn tay úp đè
nhau trên đầu gối (tay phải ở trên), cánh mũi nở, gò má
đầy, nhắm mắt, khép miệng nhưng mỉm cười. Toàn thân thu
gọn trong tấm áo bào choàng từ cổ xuống đất với những
nếp gấp chảy xuôi, phía trước chỉ để hở khối chân
phải gấp nằm ngang và khối chân trái gấp dựng đứng. Bệ
tượng gợi sóng nước có mặt một con thú rừng, như muốn
biểu hiện một thiên nhiên hoang dã. Thế ngồi tự nhiên,
toàn thể bó trong một khối chóp có đường viền rõ ràng,
các mảng lớn chảy xuôi gắn với vài mảng ngang hẹp làm
cho toàn thể chững chạc, thu lại hình để khơi mở tư tưởng
lớn. Đây là tác phẩm có bố cục rất gọn chặt.
Tổ
thứ 18: Già Da Xá Đa tôn giả (Samghàyacas)
Mẹ
ngài nằm mơ thấy vị thần cầm gương báu, từ đó mà có
thai, sau 7 ngày sinh; ngài có thân thể sáng trong như pha lê,
toả hương thơm tinh khiết. Từ bé ngài đã nói không như
những trẻ bình thường, hay cầm gương đi chơi. Khi gặp Tổ
thứ 17, ngài giải thích về chiếc gương: "Mỗi vị Phật
lớn đều có cái gương tròn lớn, soi thấu trong ngoài, trong
gương ngoài gương hai người đều cùng nhìn nhau, tâm và mắt
cũng tương tự vậy". Sau khi xuất gia rồi lại được Tăng
Già Nan Đề trao cho y bát làm Tổ thứ 18, Già Da Xã Đa xuất
lĩnh đồ chúng đi giáo hoá các nơi, rất hay quan sát và hay
tìm hỏi. Một hôm thấy trên nhà người Bà La Môn có dị
khí bốc lên, bèn đến gõ cửa nhưng hồi lâu trong nhà vọng
ra: "Cả nhà đi vắng rồi!". Bị căn vặn: "Thế ai nói đó",
chủ nhà mới ra mở của mời vào. Ngài nói cho chủ nhà hay
rằng: "Đức Phật Thích Ca xưa đã dự ngôn sau khi nhập tịch
1000 năm, ở nước này sẽ có vị đại sĩ tên là Cưu Ma La
Đa nhớ lại tiền duyên, cúi xin được xuất gia. Già Da Xá
Đa bèn vì Cưu Ma La Đa xuống tóc và trao giới, sau lại đem
đại pháp trao cho làm Tổ thứ 19, kèm bài kệ:
Hữu
chủng hữu tâm địa
Nhân
duyên năng phát manh
Ư
duyên bất tương ngại
Đương
sinh, sinh bất sinh
(Có
giống có ruộng tâm
Theo
duyên hạt nảy mầm
Mọi
duyên đều chăớng ngại
Đương
độ nở và không)
Phó
pháp xong, Tổ phát ra lửa Tam muội tự nhiên, xá lị thờ
trong tháp.
Ơở
chùa Tây Phương, tượng Già Da Xá Đa bày ở bên phải tượng
Tổ thứ 16, tả cảnh Tổ đang đi vân du giáo hoá, tay trái
cầm gương giơ về phía sau, tay phải giang ngang rồi gấp lại
tì giữ chiếc gậy trên vai mà đầu đằng sau buộc cuốn
kinh với tua kim tòng. Tượng có những đặc điểm: gió thổi
bay xa các tà áo và ống tay trong khi người vẫn đứng thăớng,
chân phải hơi co tạo sự nhún nhảy gợi cho những cánh tay
như đung đưa theo nhịp bước, các nếp áo buông chảy tự
nhiên, đầu hơi nhô nhục kháo và dướn cao mở rộng tầm
nhìn, vẻ mặt có phần ngơ ngác luôn gặp những cảnh mới
lạ, đôi mắt mở to như hấp háy và cái miệng há vừa phải
đang giữa câu nói, cánh mũi rộng, gò má đầy, tai dài, người
đẫy chắc. Ngắm nhìn tượng đơn nhưng ta có thể thả sức
tưởng tượng nhiều tình huống xảy ra phía trước.
Tổ
thứ 19: Cưu Ma La Đa tôn giả (Kumârata)
Kiếp
xưa ngài là Tiên ở tầng trời cao, nhìn thấy chuỗi dây anh
lạc quấn quanh bụng một vị Bồ Tát đã nảy sinh lòng dục,
bị đầy dần xuống các tầng trời thấp, cuối cùng giáng
sinh vào một gia đình Bà La Môn ở nước Đại Nguyệt Thị.
Khi gặp Già Da Xá Đa, nghe nói đến danh hiệu Phật bỗng tâm
thần hoảng loạn, nhưng khi biết lời tiên tri của đức Phật
và nhớ việc đời trước đã vui vẻ xin xuất gia. Sau khi
đã thành Tổ thứ 19, ngài đi giáo hoá chúng sinh, đã giảng
rõ nghiệp báu, khiến Xà Dạ Đa nhớ lại tiền duyên và xin
được xuống tóc xuất gia. Về sau Cưu Ma La Đa trao thanh tịnh
pháp nhãn cho Xà Dạ Đa làm Tổ thứ 20 kèm bài kệ:
Tính
thường bản vô sinh
Vị
đối cầu nhân thuyết
Ư
pháp ký vô đắc
Hà
hoài quyết bất quyết
(Tính
thường vốn không sinh
Vì
người mà giảng giải
Đã
không chứng được pháp
Nghĩ
gì quyết hay không)
Đọc
xong, Tổ yên toạ trên pháp toà, lấy móng tay vẽ bông sen
hồng, toả hào quang rồi tiến vào cõi tịch diệt. Nơi đó
được lập pháp thờ.
Ơở
chùa Tây Phương, Tượng Cưu Ma La Đa bày ở góc ngoài bên
trái của toà chùa trong, tả Tồ với hình dáng toàn thân béo
múp, ngồi ngả người rất thoải mái, chân gấp đứng, chân
xếp ngang, tay trái để trên đùi, tay phải cầm bông hoa mây.
Sự kết hợp bố cục hài hòa giữa bông hoa mây với những
mảng khối căng nẩy khắp toàn thân, với khuôn mặt rất
hể hả cùng nhau làm toát ra tính cách lãng mạn, yêu đời,
sống thật thoải mái. Đầu tượng tròn, mặt bầu bĩnh, mắt
hấp háy cười, mũi hơi chun lại với cánh nở, miệng mỉm
cười, hai tai đầy rất dài, các nếp nhăn trên trán, trên
cằm và khoé miệng, ánh mắt đều biểu hiện sự mãn nguyện.
Tổ mặc áo phanh ra hở cả ngực và bụng cũng đều căng
bóng, lại thêm mấy ngấn bụng thắt lại càng tạo cảm giác
cứ rung lên phập phồng. Tượng quy về khối nón vững chắc,
phối hợp các mảng khối ngang và dọc, điểm thêm một số
đường nét thuận chiều, chỗ nào cũng đầy tràn sức xuân,
gắn với kiếp trước ở tầng trời cao nhiều hơn là khi
xuống hạ giới trong nhà Bà La Môn.
Tổ
thứ 20: Xà Dạ Đa tôn giả (Jayata)
Ngài
là người trí tuệ rất sâu xa, hoá đạo cho rất nhiều người.
Khi Cưu Ma La Đa đến, ông chủ động đi tìm hỏi:
- Cha
mẹ tôi vốn tín mộ Tam bảo, thế nhưng luôn bị bệnh tật,
làm việc gì cũng đều thất bại. Gần nhà tôi có người
hạng Chiên-đà-la (hà tiện, ác trược) thế mà thân thì khoẻ
mạnh, làm việc gì cũng toại ý! Vậy kẻ ấy có phúc chi
luôn gặp may, chúng tôi có tội chi luôn bị rủi ro?
Tổ
Cưu Ma La Đa đáp:
- Sự
báo ứng nhân quả thiện - ác trong ba đời (quá khứ, hiện
tại, vị lai). Kẻ phàm thường chỉ thấy người lương thiện
chết yểu, kẻ độc ác sống lâu, người nghĩa gặp dữ,
kẻ nghịch gặp lành... bèn cho là không có báo ứng nhân quả,
sự hồi báo của phúc và tội chỉ là giả huyễn. Họ có
biết đâu như bóng theo hình, ảnh hưởng sự thiện ác theo
mãi không tan mất.
Xà
Dạ Đa nghe vừa dứt lời, mọi nghi hoặc tan biến.
Tổ
lại nói: Nhà ngươi đã tin vào Tam nghiệp (thân - ngữ - ý),
song vẫn chưa hiểu cái nghiệp do cái mê mà sinh, cái thức
lại y theo cái không hiểu biết, cái không hiểu lại khởi
nguồn từ cái tâm. Mà bản tính của tâm là thanh tịnh, không
sinh không diệt, không báo ứng, không hơn thua, nó yên ắng
và trong sáng. nếu ngươi nhập pháp môn ấy thì không khác
gì Phật Tổ trên toà cao kia. Hết thảy thiện và ác, hữu
vi và vô vi đều là mộng huyễn hết.
Xà
Dạ Đa nhớ lại tiền duyên, xin xuất gia, được Cưu Ma La
Đa xuống tóc, lại trao cho giới thanh văn làm Tổ thứ 20.
Ngài khi giảng pháp cho nhóm có học và thích biện luận của
Bà Tu Bàn Đầu đã nói về mình: "Ta không truy cầu đạo cả,
cũng chăớng trái phạm đạo cả; ta không lễ phật, cũng
chăớng khinh Tam bảo; ta không nhăm nhăm suốt ngày thiền định,
cũng chăớng nhởn nhơ bỏ trễ; ta không phải chỉ ăn một
loại thực vật, cũng chăớng phàm ăn tục uống; ta không
biết đủ cũng chăớng tham lam. Tâm không trói buộc, ấy mới
là thực đạo". Bà Tu Bàn Đầu nghe hết, nhớ lại tiền duyên,
xin được dạy dỗ. Xà Dạ Đa bèn truyền thanh tịnh pháp
giới cho: "Người xưa nay uẩn chứa vô vàn công đức, xứng
kế thừa tông nghiệp của Phật Tổ, hãy lắng nghe tụng kệ":
Ngôn
hạ hợp vô sinh
Đồng
ư pháp giới tính
Nhược
năng như thị giải
Thông
đạt sự lý cách
(Điều
nói vốn chưa sinh
Mọi
cái trùng pháp giới
Nếu
hiểu được như vậy
Đến
rồi nơi tịch diệt)
Ơở
chùa Tây Phương, tượng Xà Dạ Đa được bày ở giữa Tổ
thứ 12 và Tổ thứ 19 sát tường hồi trái nếp nhà trong.
Tổ khoác chéo thân một tấm cà sa như chiếc khăn, ngồi chân
chống chân gấp trên tấm thảm tròn, cúi gấp người xuống,
tay trái để trên đùi còn tay phải cầm cái que chọc xuống
tấm lưng trần gãi.
Toàn
bộ pho tượng nhấn mạnh cái ngứa đang hành hạ một người
gầy yếu nhưng nội lực mạnh: Đầu to tròn với vầng trán
rộng thông minh, nhưng khuôn mặt dài và xương xương, dướn
cổ tạo những hốc, ngực phơi đủ bộ xương sườn, bụng
mướp với nhiều nếp da nhăn nheo.
Tượng
ngồi chân phải quỳ chân trái chống, bàn tay trái đặt lên
đùi như lấy thêm thế dướn vai phải đưa tay lên cao để
gãi cho đã. Đây cũng là thế ngồi khi tranh biện có thể
phán quyết đầy đủ đối phương, gắn với hoạt động
hoá đạo của Tổ. Đôi mắt nheo nheo trong hõm sâu ẩn dưới
gò cao cùng với cái miệng chụm lại, phối hợp với các
nếp nhăn trên trán, đuôi mắt và khoé miệng không chỉ nói
lên cái già, còn biểu hiện những suy tư sâu sắc. Nhìn chính
diện, người xem sẽ thấy sự chính xác về giải phẫu, sự
dằn vặt về sinh lý và sự sâu sắc về trí tuệ.
Theo
"Chùa Tây Phương" của Chu Quang Trứ
NXB
Mỹ Thuật - 1998