Chùa
thường gọi là chùa Trăm Gian, chùa Tiên Lữ, tọa lạc ở
thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà
Tây. Chùa được khởi dựng từ thời Lý và đã được trùng
tu nhiều lần. Tên chùa Trăm Gian vì quần thể kiến trúc ở
đây có đến 104 gian nhà, chia thành ba cụm. Cụm thứ nhất
gồm hai quán ở đường vào; cụm thứ hai là gác chuông hai
tầng tám mái dựng năm 1693, tầng trên treo quả đại hồng
chung đúc năm 1794 có bài minh của Tiến sĩ Trần Bá Lãm. Cụm
thứ ba là ngôi chùa chính gồm bái đường, nhà thiêu hương
và thượng điện. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm.
Có hơn 150 pho tượng bằng gỗ và đất nung phủ sơn. Bộ
Thập bát La-hán và bộ Thập Điện Minh Vương là những tác
phẩm nghệ thuật bằng phù điêu gỗ sơn. Đặc biệt ở gian
giữa thượng điện có một bệ hình khối chữ nhật bằng
đất nung đỏ, chung quanh trang trí nhiều hình động vật và
hoa lá, trên là đài sen, được nhiều tư liệu cho niên đại
thời Mạc. Chùa là ngôi cổ tự nổi tiếng vào bậc nhất
ở Việt Nam. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di
tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Chùa
Trăm Gian
(chùa
Quảng Nghiêm, hay chùa Tiên Lữ, có người còn gọi chùa Núi,
Hà Tây)
Vì
ở xóm Núi thuộc xã Tiên Phương, huyện Hoà Đức, Hà Tây.
Chùa được lập từ đời Lý Cao Tông (1185) trên một quả
đồi cao khoảng dăm chục mét, có tên là núi Mã, xung quanh
có nhiều cây cổ thụ che rợp mặt đồi. Đời Trần có một
vì cao tăng tu tại đây, tên là Nguyễn Lữ, hiệu Bình A. Tương
truyền tuy có nhiều phép lạ. Sau khi ông mất, dân làng xây
tháp để giữ gìn hài cốt và tôn gọi là Đức Thánh Bối.Chùa
Quảng Nghiêm là một quần thể kiến trúc
độc
đáo. Theo cách tính cứ 4 góc cột là một gian thì chùa có
cả thảy 104 gian, chia thành 3 cụm kiến trúc chính.
Cụm
thứ nhất gồm 4 cột trụ và 2 quán, trước đây là nơi đánh
cờ người trong ngày hội, tiếp đó là nhà Giá ngự nhìn
ra mặt hồ sen, nơi đặt kiệu thánh để xem trò múa rối
nước.
Trèo
qua mấy trăm bậc gạch xây là tới cụm thứ hai gồm một
toà gác chuông 2 tầng mái, có lan can chạy quây 4 mặt. Các
ván bằng đều có chạm hình mây hoa. Tại đây treo một quả
chuông cao 1,10 m, đễờng kính 0,6 m, đúc năm 1974. Trên chuông
có khắc một bài minh của Pham Huy ích. Qua gác chuông, leo 25
bậc đá xanh hình rồng mây, đến sân trên có kê một sập
đá hình chữ nhật.
Lại
leo 9 bậc đá, hai bên có lan can chạm hình rồng cuộn khúc
thế tới cụm thứ 3 đó là chúa chính, gồm nhà bái đường,
toà thiêu hương, và thượng điện. Hai bên là 2 dãy hành lang.
Trong cùng là nhà tổ, giữ lại có lầu trống bên trong treo
một trống lớn, đường kính 1m và một khánh đồng dài 1,20m,
cao 0,60m đúc năm 1749. Tại đây có 153 pho tượng, hầu hết
bằng gỗ, một số ít bằng đất nung, đặc biệt quý là
tượng Tuyết Sơn, tượng Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong chùa còn
có nhiều bia, hoành phi, câu đối. Riêng có hai câu đối khảm
trai, tương truyền có từ thời nhà Hồ (1400-1406). Về mặt
nghệ thuật điêu khắc thì tượng ở đây không vượt được
tượng ở chùa Sùng Phúc, nhễng về mặt lịch sử thì lại
có pho tượng đáng chú ý. Tượng này đặt ở gian bên trái.
Đó là tượng đô đốc Đặng Tiến Đông, một tướng lĩnh
Tây Sơn, chỉ huy đạo quân đánh vào phía nam Thăng Long, đánh
đòn quyết định sự thất bại thảm hại của quân xâm lược
nhà Thanh, giải phóng Thăng Long vào ngày 5 tết Kỷ Dậu (1789)
và có văn bia do Phạm Huy ích soạn nói về Đặng Tiến Đông
cùng với sắc phong về đời Tây Sơn cho vị đô đốc lừng
danh này, nhân dân địa phương quen gọi là tượng Quân Độ.
Tượng này được phát hiện vào năm 1972. Ngoài ra còn có
tượng Đức Thánh Bối đặt trong khám gỗ gian bên phải.
Đây là tượng cốt rút bằng mây đan ngoài bọc vài sơn,
tễơng truyền là tượng bỏ hài cốt của ông.
Chùa
đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá.
Chùa
Trăm Gian
Ở
nước ta có khá nhiều ngôi chùa có qui mô lớn được gọi
là chùa trăm Gian. Trong số đó, Quảng Nghiêm Tự (tên thông
dụng là chùa Trăm Gian là một trong những ngôi chùa nổi tiếng
nhất được xây dựng trên núi Sở thuộc thôn Tiên Lữ, xã
Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.
Toàn
bộ quần thể chùa được xây dựng dàn trải trên sườn
phía Nam của núi Sở nhưng cổng vào được tạo hình như
một nghi môn thường thấy trong kiến trúc đình đền lại
nằm chếch về phía Ðông - Nam giáp đường đi. Sau cổng vào
là con đường gạch chạy giữa những rặng thông theo hình
chữ chi với nhiều cấp nền dẫn lên khu vực chính của chùa.
Mở đầu cho khu vực này là tòa nhà Giá Ngự, nơi rước kiệu
Thánh ra xem các trò vui được tổ chức ở hồ bán nguyệt
dưới chân núi, nơi được coi như là minh đường - gợi khúc
sông cong tự phúc - cho cả ngôi chùa. Ngược lên cao, sau tòa
Giá Ngự, Gác chuông chùa nằm trên trục tâm của tòa Tam bảo
là một trong số ít gác chuông cổ hiện tồn tại với những
hình chạm rồng ổ xen lẫn mây lửa của nghệ thuật chạm
khắc thế kỷ 17. Tòa Gác chuông này có mặt bằng hình vuông
cao 2 tầng với 8 mái uốn cong lên bởi những hoa đao khiến
cho công trình như một bông sen khổng lồ vô cùng thanh quý.
Vượt
27 bậc đá từ Gác chuông là lên đến sân trên của chùa,
nơi kê chiếc sập đá có đặt một bát hương để du khách
hành lễ trước khi lên đến thềm chùa. Bố cục của khu
Tam bảo gồm Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện được
kết hợp với nhau thành hình chữ Công và được xây bao lại
bằng những hành lang dài ở 2 bên đặt bạ tranh Thập bát
vị La hán và Hậu điện ở phía sau thành hình chữ Quốc
theo dạng thức bố cục "nội công - ngoại quốc". Nhờ được
xây dựng trên nền cao, tòa Tiền đường với 7 gian có được
dáng vẻ trang nghiêm và uy nghi cần có nơi cửa Phật. Hệ
thống Tam bảo bên trong dù bị xây kín nhưng ánh sáng vẫn
vào được nhờ những sân thiên tĩnh tạo nên một độ sáng
vừa phải cho khu Phật điện mang đầy vẻ linh thiêng nhưng
lại giản dị, gần gũi giữa đạo và đời. Ðặc biệt nổi
tiếng trong số các tượng Phật trong chùa là pho Tuyết Sơn
mô tả chân thực hình ảnh Ðức Phật gầy gò khi tu khổ
hạnh trong núi Tuyết Sơn với những xương sườn, đường
gân và mạch máu nổi lên khá rõ. Ngoài ra chùa hiện còn lưu
giữ một số hiện vật có giá trị như đôi rồng đá thời
Trần có thân dài mập nhưng ghép đầu rồng thời Nguyễn
làm lan can thành bậc cửa chùa, bộ tranh La hán tranh Thập
điện Diêm vương...
Là
một trong những cổ vật nổi tiếng của Hà Tây, chùa Quảng
Nghiêm không chỉ là một trung tâm tín ngưỡng và tôn giáo
mà còn là một ngôi chùa có giá trị to lớn về mặt nghệ
thuật kiến trúc và điêu khắc. Chính vì vậy chùa luôn thu
hút một số lượng lớn Phật tử du khách về chiêm bái.
Q.T
Chùa
Trăm gian - Hà Tây
[18.09.2006
23:37]
Chùa
Trăm gian còn có tên là chùa Quảng Nghiêm, hay chùa Tiên Lữ,
có người còn gọi chùa Núi, vì ở xóm Núi thuộc xã Tiên
Phương, huyện Hòa Đức, Hà Tây. Chùa được lập từ đời
Lý Cao Tông (1185) trên một quả đồi cao khoảng dăm chục
mét, có tên là núi Mã, xung quanh có nhiều cây cổ thụ che
rợp mặt đồi. Vừa qua, Ban điều hành Web Phật tử
Việt Nam đã về tham quan vãn cảnh chùa Trăm Gian, Hà Tây.
Xin trân trọng giới thiệu một số hình ảnh của ngôi chùa
đặc sắc này.
Đời
Trần có một vì cao tăng tu tại đây, tên là Nguyễn Lữ,
hiệu Bình A. Tương truyền tuy có nhiều phép lạ. Sau khi ông
mất, dân làng xây tháp để giữ gìn hài cốt và tôn gọi
là Đức Thánh Bối. Chùa Quảng Nghiêm là một quần thể kiến
trúc độc đáo. Theo cách tính cứ 4 góc cột là một gian thì
chùa có cả thảy 104 gian, chia thành 3 cụm kiến trúc chính.
Cụm
thứ nhất gồm 4 cột trụ và 2 quán, trước đây là nơi đánh
cờ người trong ngày hội, tiếp đó là nhà Giá ngự nhìn
ra mặt hồ sen, nơi đặt kiệu thánh để xem trò múa rối
nước.
Trèo
qua mấy trăm bậc gạch xây là tới cụm thứ hai gồm một
toà gác chuông 2 tầng mái, có lan can chạy quây 4 mặt. Các
ván bằng đều có chạm hình mây hoa. Tại đây treo một quả
chuông cao 1,10 m, đường kính 0,6 m, đúc năm 1974. Trên chuông
có khắc một bài minh của Pham Huy ích. Qua gác chuông, leo 25
bậc đá xanh hình rồng mây, đến sân trên có kê một sập
đá hình chữ nhật.
Lại
leo 9 bậc đá, hai bên có lan can chạm hình rồng cuộn khúc
thế tới cụm thứ 3 đó là chúa chính, gồm nhà bái đường,
toà thiêu hương, và thượng điện. Hai bên là 2 dãy hành lang.
Trong cùng là nhà tổ, giữ lại có lầu trống bên trong treo
một trống lớn, đường kính 1m và một khánh đồng dài 1,20m,
cao 0,60m đúc năm 1749. Tại đây có 153 pho tượng, hầu hết
bằng gỗ, một số ít bằng đất nung, đặc biệt quý là
tượng Tuyết Sơn, tượng Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong chùa còn
có nhiều bia, hoành phi, câu đối. Riêng có hai câu đối khảm
trai, tương truyền có từ thời nhà Hồ (1400-1406). Về mặt
nghệ thuật điêu khắc, tượng ở đây không vượt được
tượng ở chùa Sùng Phúc, nhưng về mặt lịch sử, chùa lại
có pho tượng đáng chú ý, đặt ở gian bên trái. Đó là tượng
đô đốc Đặng Tiến Đông, nhân dân địa phương quen gọi
là tượng Quân Độ. Ông là tướng lĩnh Tây Sơn, chỉ huy
đạo quân tiến vào phía nam Thăng Long, đánh đòn quyết định
tạo nên sự thất bại thảm hại của quân xâm lược nhà
Thanh, giải phóng Thăng Long vào ngày 5 tết Kỷ Dậu (1789).
Vị đô đốc này đã được Phạm Huy ích soạn văn bia ca
tụng công lao và được vua sắc phong. Tượng được phát
hiện vào năm 1972. Ngoài ra còn có tượng Đức Thánh Bối
đặt trong khám gỗ gian bên phải. Đây là tượng cốt rút
bằng mây đan ngoài bọc vài sơn, tương truyền là tượng
bỏ hài cốt của ông.
Bài
và Ảnh: Trọng Hoàng