|
c
Những
Ngôi Chùa Việt Nam
TỈNH
HÀ BẮC
CHÙA
PHÁP VÂN (CHÙA DÂU)
Chùa
Dâu - Tổ đình của Phật giáo VN
Mái
đầu đao uốn cong
TTO
- Chùa Dâu tên chữ là Pháp Vân tự, Diêu Ứng tự hay Cổ
Châu tự, thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh.
Chùa
nằm ở trung tâm của khu di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu
và phong phú bậc nhất của quê hương Kinh Bắc. Nơi đây bao
gồm thành cổ Luy Lâu, đền thờ và văn mộ Sĩ Nhiếp, hệ
thống chùa tháp, dấu tích đền đài, dinh thự, đường xá,
bến bãi, phố chợ, hàng trăm mộ táng, lò gạch ngói, gốm
cổ… làm chứng tích một thời kỳ dài hàng chục thế kỷ
trước và sau Công nguyên.
Nơi
đây từng là thủ phủ của quận Giao Chỉ, sau là Giao Châu
- trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, trung tâm Phật giáo
cổ xưa nhất của nước ta.
Những
tài liệu, cổ vật còn lại ở chùa Dâu, đặc biệt là bản
khắc “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh”, có niên đại
1752 cùng kết quả nghiên cứu về lịch sử Phật giáo VN của
các nhà sử học và Phật học đã khẳng định chùa Dâu là
tổ đình của Phật giáo VN xuất hiện cách đây khoảng 1800
năm.
Vào
đầu công nguyên, các tăng sĩ Ấn Độ, tiêu biểu là Khâu
Đà La, đã tới vùng Dâu - tức Luy Lâu, tiến hành truyền
bá đạo Phật, lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu - một
trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa nhất VN.
Chùa
tháp được xây cất nguy nga bên cạnh thành quách, đền đài,
cung điện, lầu gác, bến bãi, phố chợ sầm uất của đô
thị Luy Lâu, trong đó chùa Dâu là một trung tâm trong hệ thống
các chùa thờ Phật và thờ tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp
Lôi, Pháp Điện) - một nét độc đáo trong sự kết hợp giữa
Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian của người Việt
ở vùng Dâu.
Chùa
Dâu trở thành trung tâm của Thiền phái Tì -ni -đa -lưu -chi,
nơi trụ trì của nhiều cao tăng VN, Ấn Độ và Trung Quốc
đến để nghiên cứu, biên soạn, phiên dịch kinh Phật, đào
tạo tăng ni.
Thời
Lý -Trần, chùa Dâu được trùng tu mở rộng với quy mô lớn
mà người có công đầu là trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi. Vua
quan, các cung tần mỹ nữ các triều đại thường lui tới
thăm chùa, lễ Phật, cầu đảo, cầu tự.
Lễ
hội chùa Dâu hàng năm vào ngày tám tháng tư âm lịch- ngày
kỷ niệm Phật mẫu Man Nương sinh hạ nữ nhi. Đây cũng là
một trong những lễ hội Phật giáo lớn của vùng đồng bằng
và trung du Bắc Bộ.
Trải
qua bao biến động lịch sử, thành lũy, đền dài, dinh thự
của trung tâm Luy Lâu bị hoang phế. Nhưng chùa Dâu với tháp
Hòa Phong vươn cao và hàng trăm gian chùa cổ kính vẫn tồn
tại với thời gian.
Đặc
biệt, ngôi tháp Hòa Phong 3 tầng vươn cao, hệ thống tương
Pháp Vân (tức bà Dâu), kim đồng ngọc nữ, tượng Mạc Đĩnh
Chi, các ngai thờ, tương Thạch Quang, bia đá… là những di
sản nghệ thuật quý và tiêu biểu của thời Lê. Đáng chú
ý là bộ khắc ván “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh”
là nguồn sử liệu đặc bịệt quan trọng giúp cho việc nghiên
cứu lịch sử Phật giáo VN.
Bài,
ảnh: NGUYỄN THANH SƠN
Chùa
Dâu
Chùa
Pháp Vân thường được gọi là chùa Dâu, tọa lạc ở xã
Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, cách Hà Nội
khoảng 30km. Chùa Pháp Vân cùng các chùa Pháp Vũ, Pháp Lôi,
Pháp Điện hợp thành chùa Tứ Pháp. Ngoài thờ Phật còn thờ
các nữ thần: chùa Pháp Vân thờ Bà Dâu, chùa Pháp Vũ thờ
Bà Đậu, chùa Pháp Lôi thờ Bà Dàn, chùa Pháp Điện thờ
Bà Tướng. Chùa được xây dựng từ đầu công nguyên ở
vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu, là một trung tâm
Phật giáo Việt Nam xưa nhất. Từ cuối thế kỷ VI, Thiền
sư Tì-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci), người Nam Âởn Độ, đã mở
đạo tràng thuyết pháp tại chùa, lập nên Thiền phái đầu
tiên ở Việt Nam. ởChùa đã được Trạng nguyên Mạc Đĩnh
Chi đứng ra dựng lại với quy mô lớn vào thế kỷ XIV và
được trùng tu nhiều lần ở các thế kỷ sau. Ơở tòa thượng
điện, còn một số mảng chạm khắc của thời Trần, thời
Lê. Chùa có tháp Hòa Phong nổi tiếng, tương truyền có 9 tầng,
nay chỉ còn 3 tầng, được đại trùng tu vào năm 1737. Chùa
Pháp Vân là một danh lam bậc nhất của xứ kinh Bắc xưa nay,
được xem là ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Việt Nam.
Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử
- văn hóa quốc gia.
Ấn Tượng
Chùa Dâu
Dù
ai đi đâu về đâu
Hễ
trông thấy tháp chùa Dâu thì về
Gần
hai ngàn năm biến dịch với bao lần đổi thay, tu tạo có
lẽ bây giờ cảnh quan chùa Dâu đã khác xưa nhiều. Nghe nói,
trước đây con đường vào chùa đẹp lắm. Qua tam quan đồ
sộ và bãi đất rộng nằm giữa hai dãy ao dài in bóng chiếc
cầu chín nhịp có mái lợp, kiểu nhà cầu cổ ta còn thấy
ở Hội An và một số nơi khác, khách bộ hành vào chùa dâng
hương thờ Phật. Đây là ngôi chùa được xây dựng sớm
nhất ở Việt Nam, ngay từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên.
Cũng
như nhiều chùa chiền trên đất Việt, chùa Dâu được cất
theo kiểu nội công ngoại quốc, một kiểu kiến trúc á Đông
truyền thống. Bốn dãy nhà liên thông hình chữ nhật bao quanh
ba ngôi chính: Tiền đường, Thiện hương và Thượng điện.
Hậu đường xưa giờ không còn nữa, nhưng khách thăm chùa
vẫn còn được chứng kiến bốn mươi tễ gian nhà oản hai
bên tả hữu. Giữa sân chùa trải rộng là cây tháp Hòa Phong.
Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa, được nung thủ
công tới độ có màu sẫm già của vại sành. Thời gian đã
lấy đi sáu tầng trên của tháp, nay chỉ còn ba tầng dưới
nhưng vẫn uy nghi, vững chãi thế đứng ngàn năm. Dấu vết
xưa nhất còn lại của ngôi chùa được khảo cổ học xác
định là từ đời Trần, đợt tu bổ lớn nhất là vào năm
1313, đời vua Trần Anh Tông.
Theo
nghiên cứu sử học, chùa Dâu với nhiều tên gọi: Diên ứng
tự, Pháp Vân tự, Thiền Đình tự, Cổ Châu tự...có thể
ra đời đồng thời với truyền thuyết Man Nương, một trong
những mã khóa mở vào tầng sâu của văn hóa Kinh Bắc. Vậy
nên, hợp với chùa tổ Man Nương là cả một quần thể những
chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Tướng, chùa Dàn thờ tứ pháp:
Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Là nơi giao lưu của
hai luồng văn hóa Phật giáo, một từ ấn Độ sang, một từ
phương Bắc xuống, nơi đây từng là nơi "kinh đô" của Phật
giáo Việt Nam hơn mười thế kỷ đầu; với nhiều nhà sư
nổi tiếng, với hội tắm Phật mùng tám tháng tễ hàng năm:
Dù
ai buôn bán trăm bề
Nhớ
ngày mùng tám thì về hội Dâu.
Một
trong những ấn tượng khó có thể quên được ở nơi đây
là những pho tượng thờ. Tượng Pháp Vân uy nghi, trầm mặc,
màu đồng hun. Gương mặt đẹp với nốt ruồi to đậm giữa
trán gợi liên tưởng tới những nàng vũ nữ ấn, tới quê
hương Tây Trúc, nơi cội nguồn của tễ tưởng thiện căn,
của đức Từ - Bi - Hỉ - Xả. Tượng Pháp Vũ với những
nét thuần Việt, đức độ, cao cả. Đặc biệt hai pho tượng
Kim Đồng, Ngọc Nữ đặt hai bên điện thờ chính gợi nhớ
tới những cô thôn nữ của miền quê quan họ nơi này. Dáng
người thắt đáy lưng ong uyển chuyển, vành khăn vấn trên
đầu bình dị và mềm mại, chiếc áo tứ thân mớ ba mớ
bảy với dải lụa đào thướt tha... Cha ông ta đã rất tinh
tế, nhuần nhị khi đặt tượng thờ Kim Đồng, Ngọc Nữ.
Về đây, ta gặp sự giao hòa đẹp đẽ giữa tễ tưởng Phật
giáo chính thống, một dạng thức văn hóa tinh thần ngoại
nhập, với tâm linh, tinh thần bình dân, thuần phác. Ta cũng
lại thấy ở đây một minh chứng rõ nét cho quá trình tiếp
biến văn hóa, sự Việt hóa những giá trị tinh thần khi nhập
nội.
Về
chùa Dâu, về Thuận Thành, ta như được tắm mình trong không
khí cổ xưa qua dấu ấn của nhiều tầng bậc lịch sử -
văn hóa. Đây, đô thành Luy Lâu xưa bên dòng Thiên Đức gợi
nhớ thời oanh liệt của Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống xâm
lược Đông Hán những năm đầu thế kỷ. Đây dòng sông Dâu
đã vào thơ Tố Hữu "con sông Dâu chảy về đâu, mà lơ thơ
đến Luy Lâu lại dừng". Đây nữa, miền đất trù phú Keo
- Dâu với tích truyện cô thôn nữ hái dâu nết na, xinh đẹp
trở thành Nhiếp chính ỷ Lan tài giỏi, trông coi việc nước,
giúp vua đánh giặc. Còn kia là Bút Tháp với tượng Phật
Bà nghìn mắt, nghìn tay nổi tiếng; là làng tranh Đông Hồ,
nơi tâm hồn dân gian dẫu hoàn cảnh nào vẫn luôn mỉm cười
trên sắc vàng giấy điệp. Cạnh đó, dòng sông Đuống "ngày
xưa cát trắng phẳng lỳ" giờ vẫn bình thản trôi như đã
từng trôi qua những bến bờ lịch sử. Và từ chùa Dâu, ta
có thể rẽ ngang thăm núi Thiên Thai hay về bên kia sông Đuống
dâng hương các vị vua đời Lý tại đền Đô.
Lịch
sử đã từng khẳng định vị trí của chùa Dâu trong đời
sống văn hóa, tâm linh dân tộc. Ngày nay, chùa Dâu đang được
Nhà nước và Giáo Hội Phật giáo Việt Nam quan tâm trùng tu,
tôn tạo để xứng đáng với tên gọi"trung tâm của Phật
giáo Việt Nam"nhiều thế kỷ.
Phạm
Quang Huân
(Tạp
chí Thế giới trong ta)

|