Chùa
thường gọi là chùa Bút Tháp, tọa lạc bên đê sông Đuống,
thuộc xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc. Theo
sách Địa chí Hà Bắc (Hà Bắc, 1982) thì chùa có từ đời
Vua Trần Thánh Tông (1258-1278) khi Thiền sư Huyền Quang (đỗ
Trạng nguyên năm 1297) đến trụ trì ở đây. Ông đã cho dựng
ngọn tháp đá cao 9 tầng có trang trí hình hoa sen. Đến thế
kỷ XVII, Thiền sư Chuyết Chuyết trụ trì chùa, ông viên tịch
năm 1644. Năm đó Công chúa Diệu Tuệ (Lê Thị Ngọc Duyên)
và Hoàng hậu Diệu Viên (Trịnh Thị Ngọc Trúc) đã đến
tu tại đây. Vị sư trụ trì lúc này là Minh Hạnh (1644-1659).
Năm 1646, Chúa Trịnh Tráng đã ra lệnh cho xây lại chùa. Chùa
kiến trúc theo kiểu "Nội Công Ngoại Quốc", gần 10 ngôi nhà
với 162 gian. Bên phải có ngọn tháp đá Báo Thiên cao hơn
13m, phía sau có ngọn tháp Tôn Đức cao khoảng 10m. Chùa còn
giữ những tác phẩm điêu khắc tiêu biểu của nghệ thuật
điêu khắc cổ Việt Nam, như bảo tượng Quan Âm Thiên thủ
Thiên nhãn, tượng Tây Thiên Đông Độ Việt Nam lịch đại
tổ vv... cùng 91 bức chạm khắc đá ở tòa thượng điện,
lan can, tường tháp... lấy đề tài trong cuộc sống hiện
thực. Chùa được trùng tu vào các năm 1739, 1903, 1915-1921 và
hiện nay 1992-1996. Đây là ngôi chùa có kiến trúc quy mô, hoàn
chỉnh nhất còn lại ở nước ta. (Chùa được Bộ Văn hóa
công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Thứ
Sáu, 16/02/2007, 17:42 (GMT+7)
Về Bút Tháp
cùng Phan Cẩm Thượng
TTXuân
- Tôi quen anh Phan Cẩm Thượng được vài tháng thì anh rủ
tôi đi thăm chùa Bút Tháp, hỏi tôi có thời gian ở được
vài ba hôm không? Tôi ngạc nhiên: Ta ở lại đâu? Anh cười:
Thì ở chùa, anh có ở chùa được không?... Về sau tôi mới
để ý: khi nói về tôi thì anh gọi là “đi”, còn khi tự
nói về mình thì anh bảo là “về”.
1.
Anh Thượng có nhà bên Hà Nội, nhưng nói theo ngôn ngữ nhà
Phật, đấy chỉ là nơi gửi, Bút Tháp mới là chỗ anh về.
Tại đây anh có một phòng để ở và vẽ, một phòng nhỏ
sát cạnh làm nơi chứa tranh, kho vàng thật sự của anh. Thoạt
đầu tôi nghĩ anh Thượng về ở Bút Tháp là để vẽ. Hóa
ra không phải. Quả Bút Tháp là một trong những ngôi chùa
đẹp nhất nước, lại nằm chính giữa Kinh Bắc, một vùng
văn hóa cổ và sâu nhất, quá lý tưởng cho một họa sĩ tìm
đến.
Nhưng
anh Thượng tìm về Bút Tháp, gần như định cư hẳn ở đấy
chắc chủ yếu vì một điều khác: anh tìm đến với một
niềm tâm sự u uẩn, xưa nay thời nào và ở đâu cũng có,
ai ngờ dấu vết lại đậm nhất ở chốn cửa Phật này,
đau đáu số kiếp con người. Thật vậy, đây đâu chỉ là
một ngôi chùa, còn là nơi nhốt chứa nỗi đau thắt quặn
của mấy con người, mấy cá nhân mà cũng là đại diện cả
một giai tầng, thậm chí một xã hội, một thời, mà cũng
có thể muôn thời.
Chùa
Bút Tháp
Ngôi
chùa này, anh Thượng bảo, không ai biết đích xác được
lập từ thời nào. Hai tấm bia chính ở chùa, tấm sớm nhất
“Sắc kiến Ninh Phúc Thiền tự bi ký” thế kỷ 17, đều
ghi là “trùng tu”, lời bia rất văn hoa: “Ninh Phúc là ngôi
chùa cổ, biệt danh Thiếu Lâm. Trên nền tảng của thánh hiền,
nằm trong vùng Siêu Loại. Liền với dãy núi Tam Đảo. Vượt
sông dài nối với những áng mây trôi Yên Tử. Đất Tiên
Du vắng lặng hai bên...”. Trước đó chắc là một ngôi chùa
làng nghèo, đã đổ nát, và hẳn cũng chưa có tháp nhọn như
ngọn bút viết lên trời xanh để được gọi là Bút Tháp.
Viết điều gì vậy? Đâu phải kinh Phật. Viết nỗi đau của
con người.
2.
Thế kỷ 17 là một thế kỷ loạn ly và đầy mâu thuẫn. Loạn
nhà Mạc, chiến tranh Nam Bắc triều vừa chấm dứt thì lại
bắt đầu cuộc nội chiến lớn nhất lịch sử, Trịnh Nguyễn
phân tranh. Anh Thượng có lần nói, như một nhà xã hội học
uyên thâm và trầm tư: Phong kiến mãi đánh nhau, mặc kệ làng
xã tự trị. Cho nên đây cũng là thời kỳ làng xã hưng thịnh,
nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển. Và nghệ thuật,
đặc biệt nghệ thuật dân gian, lên tới đỉnh cao, như thường
vẫn vậy, không phải trong những buổi thái bình và ổn định
của xã hội, mà trong thời loạn.
Khủng
hoảng xã hội đổ bóng xuống những số phận cá nhân, tập
trung vào tầng lớp cao nhất, tầng lớp thống trị. Chính
ở đấy diễn ra những bi kịch thống thiết và cũng nhầy
nhụa nhất. Chúa Trịnh khuynh loát, vua Lê chỉ còn cái bóng
mờ. Trịnh Tùng bắt vua Lê Kính Tông phải thắt cổ tự tử,
đưa Lê Thần Tông lên ngôi, ép Thần Tông lấy Trịnh Thị
Ngọc Trúc là vợ góa đã có bốn con của Lê Trụ vừa mắc
tội phải chết chém.
Sử
chép: “Triều thần can gián, vua nói: “Trót rồi phải lấy”.
Từ đó trời mưa dầm không ngớt...”. Người viết bia Ninh
Phúc Thiền tự thật thâm thúy, văn bia ghi: “Vượt sông dài
nối với những áng mây trôi Yên Tử...”. Cứ như muốn hỏi:
lịch sử là một vòng luẩn quẩn không bao giờ dứt chăng?
Sao mà ở đây lại giống chuyện Trần Thủ Độ với Trần
Thái Tông, Trần Liễu... đầu nhà Trần đến thế, tưởng
chép lại nguyên si!... Và lạ thế, cả hai lần dấu vết của
bi kịch lại đều rõ nhất, đậm nhất ở các chùa. Trong
ý tưởng xây dựng, trong kiến trúc, và đọng sâu nhất trong
các tượng.
Bút
Tháp là nơi có nhiều tượng vào hàng đẹp nhất trong thế
giới tượng cổ Việt Nam: hệ thống tượng Phật phong phú,
nổi tiếng nhất là tượng Phật nghìn mắt nghìn tay cực
kỳ điêu luyện; hệ thống tranh khắc đá mà anh Thượng đã
rất tinh tế bảo là vừa đa dạng vừa nhất quán theo thủ
pháp nghệ thuật đảo chiều: “Nét chạm bề ngoài thì thô
vụng nhưng kỹ xảo hết sức khéo léo tinh vi, tạo hình tượng
thì ngẫu nhiên, tự do nhưng hết sức chắt lọc và khái quát,
nhiều khối lớn có vẻ sơ sài nhưng đường nét rất vi tế,
đục khắc trên đá mà cho cảm giác thoải mái như bậc cao
sĩ múa bút thảo thư...”.
Song
sinh động và độc đáo nhất ở đây là loạt tượng chân
dung, không chỉ chạm khắc một đôi khuôn mặt, mà trưng ra
đấy, trường trải với thời gian, diện mạo cả một triều
đình, tầng lớp đứng đầu một xã hội đổ nát, một nhân
quần đang cố vùng vẫy tìm đường thoát khỏi những đau
khổ cùng cực của kiếp nhân sinh, tất cả đều cố giấu
sau vẻ an tịnh của lớp áo khoác Phật giáo, mà rồi có giấu
được đâu. Tượng chân dung ở Bút Tháp đông đúc khác thường,
rộn rịp, chen chúc ở gian tiền đường. Chính giữa là Lê
Thần Tông, vây quanh là các bà hoàng phi và công chúa của
ông.
Phan
Cẩm Thượng (ngồi) trong chùa Bút Tháp
3.
Chủ trương xây Bút Tháp chính là bà Ngọc Trúc. Nay bà cũng
đang ngồi đó, tại gian tiền đường, bên cạnh vua, đứng
hàng đầu trong số tượng các bà phi. Đối với người đàn
bà này, người nghệ sĩ vô danh thế kỷ thứ 17 không còn
phải quá giữ gìn khắt khe như đối với vua. Nét khắc đã
hằn sâu số phận và tính cách cá nhân. Phan Cẩm Thượng
nhận xét: “Khuôn mặt cương nghị, ẩn nhẫn, đôi mắt mở
to biểu hiện con người từng trải và đau khổ”.
Có
đêm, rất khuya, anh Thượng rủ tôi đến ngồi ở tiền đường,
trước cái quần thể tượng kỳ lạ ấy, gồm vua cùng bao
nhiêu bà cung phi và công chúa của ông, ở trung tâm là một
người đàn ông và một người đàn bà thống khổ. Chúng
tôi ngồi đó không còn biết là bao lâu nữa, ánh sáng chập
chờn của tiền điện và không khí huyền ảo chùa khuya khiến
cả không gian lẫn thời gian đều lãng đãng hư thực.
Đây
là chùa hay là cõi nào, là đạo hay là đời, là chốn siêu
thoát thanh tịnh hay là cõi trần thế xáo động? Sao lại đem
bày nơi cửa Phật này lắm nỗi dục vọng và tuyệt vọng
của con người đến vậy? Tôi chăm chú nhìn vào đôi mắt
mở to tưởng như đã an tịnh mà kỳ thực còn kinh ngạc của
người đàn bà đã sống và đau khổ bốn trăm năm trước.
Anh Thượng gọi đấy là một đôi mắt “ẩn nhẫn”.
Ban
ngày, khi tấp nập khách thập phương đến viếng, hương khói
mịt mù, trông bà hoàng xưa như đã siêu thoát thành một vị
phật bà yên tịnh, đã trả lời xong mọi câu hỏi khắc nghiệt
éo le của cuộc đời; nhưng giữa đêm khuya, càng khuya và
càng nhìn kỹ mới thấy đôi mắt ấy như mỗi lúc càng mở
ra to hơn, ngơ ngác, sững sờ, tưởng chừng vẫn còn nguyên
đó, đông cứng suốt bốn trăm năm, nỗi sững sờ của người
phụ nữ vừa khóc chồng mới chết thảm khốc đã liền phải
cưới lấy một ông vua bù nhìn mà mình không hề yêu. Và
tôi bỗng có cảm giác bắt đầu lờ mờ hiểu ra được đôi
chút điều đã khiến anh bạn họa sĩ của tôi tìm đến định
cư nơi này.
Vậy
đó, nghệ thuật là cuộc lần tìm theo dấu vết con đường
giải thoát con người xưa nay vốn mãi trằn trọc đi tìm,
nghệ thuật cũng chính là bản thân cuộc tìm kiếm nhọc nhằn
và bất tận ấy. Bốn thế kỷ trước, người đàn bà đau
khổ tận cùng nay vẫn ngồi kia từng đến đây trên con đường
tìm kiếm thống thiết mà vô vọng của mình. Bà đã chủ
động dựng nên nơi này, còn chủ động hơn cả Thần Tông
chồng bà, như một lối mở đường giải thoát cho cả hai.
Năm 1633, có thiền sư Chiết Tuyết từ Trung Hoa vào Đàng Trong
rồi ra Thăng Long, lập chùa Phật Tích bên kia sông Đuống.
Bà Ngọc Trúc lập tức đến nghe kinh, rồi xin cho trùng tu
Bút Tháp để tính chuyện chính thức xuất gia.
Mất
mười năm Bút Tháp mới hoàn thành, Chiết Tuyết từ Phật
Tích chuyển sang trụ trì Bút Tháp. Bà Ngọc Trúc liền dẫn
các con gái và một loạt hoàng thân quốc thích về hẳn Bút
Tháp qui y. Anh Thượng bảo chính bà Ngọc Trúc là người đã
cùng Chiết Tuyết phác họa và quyết định phương án kiến
trúc Bút Tháp.
4.
Tôi có một chị bạn là họa sĩ, đã bỏ suốt mười năm
đi khắp các đình chùa, lục khắp các bảo tàng và kho lưu
trữ, chỉ để làm mỗi một việc: đo đạc các kích thước
của những công trình ấy, lần ra tỉ lệ giữa chúng, để
cuối cùng khám phá ra được cái hằng số kiến trúc đặc
trưng.
Có
được cái ấy, chị bảo, thì vẽ bất cứ cái gì, bằng
cách nào cũng lập tức ra dân tộc, ra Việt Nam ngay, không
lẫn vào đâu được. Hồn dân tộc chứa trong cái hằng số
ấy. Qua con đường thống khổ tận cùng và nỗi khát khao
giải thoát cháy bỏng, bà Ngọc Trúc đã tìm ra được cái
hằng số kiến trúc cho Bút Tháp, để lại cho hậu thế công
trình tuyệt mỹ này.
Anh
Thượng tìm về đây cũng chính là đi tìm cái hằng số đó.
Anh giảng cho tôi: không gian Bút Tháp là một không gian dùng
dằng hết sức đặc biệt, nửa đóng nửa mở, mở mà đóng,
đóng mà mở, nửa kín nửa hở, kín mà hở, hở mà kín, nửa
quyết nửa không, nửa bỏ nửa giữ, trong không gian dường
có chứa cả thời gian, chùa nhìn từ bên ngoài thì nhỏ nhưng
đi vào lại rộng, mở mãi không cùng, càng đi càng mở, đi
hoài không hết, bất tận, tổng thể hoạch định chặt chẽ,
chi tiết lại rất khác nhau và tự do... Nghệ thuật Bút Tháp
chạy giữa hai bút pháp bác học và dân gian, giữa sự chán
đời thất thế và khát vọng lưu luyến trần ai, giữa hiện
thực và ảo tưởng, hiện sinh và hư vô...
Vậy
đó, có một ngôi chùa như thế, bên bờ con sông Đuống nổi
tiếng ở vùng Kinh Bắc cội nguồn, rất đạo mà rất đời,
yên tịnh mà xáo động, dân dã mà uyên thâm. Và có một người
họa sĩ, một người nghệ sĩ đã và còn muốn để hết cả
cuộc đời đến tìm ở đấy cái hằng số cho nghệ thuật
của mình, mà cũng là cho cả cuộc đời mình, đối với anh
không hề, không thể tách biệt.
NGUYÊN
NGỌC
Xem
Tiếp Trang 2