Chùa
thường được gọi là chùa Dạm hoặc chùa Tấm Cám, tọa
lạc ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc. Chùa được
khởi dựng vào năm 1086, đời Vua Lý Nhân Tông, do tích bà
Linh Nhân Hoàng thái hậu (tức Yỷ Lan Nguyên phi) hối hận
việc đã bức tử Hoàng thái hậu họ Dương và 76 cung nữ,
nên đã cho xây nhiều chùa tháp lúc về già. Chùa được xây
dựng trong suốt 8 năm với quy mô to lớn, dạng kiến trúc
bốn lớp trên núi Dạm (Đại Lãm). Ngôi chùa hiện nay được
xây dựng sơ sài trên nền cũ. ?rước chùa còn có một tấm
bia đặt trên lưng rùa và một cột đá cao khoảng 5m, bề
ngang một cạnh khoảng 1,6m, có chạm nổi đôi rồng ngoắc
đuôi nhau, đầu vươn cao, chầu một viên ngọc. Chùa đã được
Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc
gia.
Chùa
Dạm
Bắc
Ninh
Khởi
công năm 1086 và hoàn thành năm 1094, chùa Dạm (Nam Sơn, Quế
Võ, Bắc Ninh) là một công trình đồ sộ, uy nghiêm, nằm dựa
vào sườn ngọn núi cao nhất trong dãy Lãm Sơn, trên bốn lớp
nền dài 120 m, rộng 70 m ghép bằng đá. Không chỉ nổi tiếng
bởi kiến trúc hài hòa, hội đủ huyết mạch linh thông theo
thuyết phong thủy, chùa Dạm còn nổi tiếng bởi những tác
phẩm điêu khắc tài ba, bao hàm tư tưởng thâm thúy, cao siêu
của người Việt, vốn được xem là những tác phẩm mở
đầu cho nghệ thuật tạo hình tượng đài hoành tráng ở
Việt Nam.
Xứ
Kinh Bắc là một trong những trung tâm Phật giáo cổ xưa và
lớn nhất ở Việt Nam. Trải qua nhiều thế kỷ, mỗi triều
đại lại tu bổ hoặc xây mới một số công trình chùa chiền,
đền tháp. Vương triều Lý - một vương triều hiển hách
về võ công văn trị và rất sùng mộ đạo Phật, tôn đạo
Phật là quốc giáo, đã để lại nhiều dấu tích lịch sử
làm vẻ vang nền văn hóa dân tộc.
Chùa
Dạm (thuộc xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) là
danh lam thắng cảnh điển hình.
Căn
cứ vào các thễ tịch cổ, chùa Dạm được Vua Lý Nhân Tông
(1072-1127) cho xây dựng vào năm Quang Hựu thứ 2 (1086). Để
tiện vận chuyển nguyên vật liệu phục vụ công trình, vua
cho đào ngòi Con Tên từ chân núi Lãm Sơn chạy thẳng ra sông
Đuống. Năm 1087, "Vua ngự đến chùa Lãm Sơn, đến đêm ban
yến cho các quan. Vua làm 2 bài Lãm Sơn dạ yến". Công trình
làm trong 9 năm mới xong. Vua ban tên chùa là Cảnh Long Đồng
Khánh, lại thân đề biển bằng chữ Triện.
Năm
Long phù nguyên hóa thứ 5 (1105), vua Lý Nhân Tông cho xây thêm
ba tháp đá nữa. Chùa làm xong (1094), Vua ban 300 mẫu ruộng
tự điền để nhà chùa có hoa lợi hương khói và 7 gia đình
ở mé dưới núi được giao việc chuyên đóng - mở cửa chùa.
Nếu
như chùa Phật Tích ở dãy Nguyệt Hằng (huyện Tiên Sơn) gần
đấy có 300 gian, có tòa nhà đá, bảo tháp nhiều tầng, giếng
rồng, ao rồng... thì các công trình kiến trúc của chùa Dạm
hẳn là vượt xa hơn thế. Nguyên do: sau chiến thắng lẫy
lừng chống Tống trên phòng tuyến sông Cầu khẳng định
nền độc lập tự chủ Đại Việt, Nhà Lý có xu hướng chấn
hưng văn
hóa
dân tộc đồng thời phát triển mạnh kinh tế đất nước.
Vì vậy hàng loạt chùa chiền ở Kinh Bắc nơi phát tích triều
Lý càng được quan tâm. Rút kinh nghiệm xây dựng đồ sộ
chùa Phật Tích trước đó ít lâu, chùa Dạm được dựng
huy hoàng hơn.
Về
sự bề thế của chùa Dạm, dân gian đã lưu truyền qua câu
ca: "Mười lăm trăng náu, mười sáu trăng treo, mười bảy
phẩy giường chiếu, mười tám đóng cửa chùa Dạm", có nghĩa
là cứ sau ngày rằm người ta đóng cửa chùa, bắt đầu từ
xẩm tối đến lúc trăng lên cao mới đóng hết tất cả các
cửa.
Kiến
trúc sư và các nhà điêu khắc xưa đã khéo tổ chức không
gian một cách hợp lý để nhân gấp bội giá trị - vẻ đẹp
công trình và biểu đạt ý niệm triết - mỹ á Đông.
Chùa
đặt ở sườn núi phía nam của dãy Lãm Sơn, chính giữa ngọn
cao nhất. Núi Rùa làm tiền án, ngòi Con Tên làm Minh Đường
bên tả có Thanh Long, bên hữu có Bạch Hổ chầu về. Chùa
Dạm hội tụ đủ huyết mạch linh thông theo thuyết phong thủy.
Chùa
dựa hẳn vào sườn núi và 4 lớp nền đá trườn theo sườn
núi vừa tôn tầm cao công trình vừa tạo dáng vẻ uy nghiêm,
hài hòa với cảnh quan thiên nhiên chung quanh. Hơn nữa tránh
được nạn lụt lội ở vùng "rốn nước" Quế Võ lắm đồng
sâu ruộng trũng. Chiều dài của lớp nền 120 m, rộng 70 m
(chùa Phật Tích là 100 m và 60 m). Tổng cộng diện tích gần
8.000 m2. Bốn lớp nền được bó ghép bằng đá tảng (mỗi
viên có kích thước 50x60 cm). Các lớp đá được cấu tạo
choãi chân đế, chếch khoảng 70 độ, và có độ cao 5-6 m.
Mỗi cấp giật lùi vào khoảng 1,5 m làm tăng sự ổn định,
vững chắc của nền. Đường lên xuống mỗi lớp nền khá
rộng (khoảng 25 bậc đá).
Lớp
nền thứ nhất gọi là "bãi hội", hằng năm cứ đến mồng
8 tháng 9, nhân dân ba thôn (Triều, Trung, Trị) và 18 xã thuộc
huyện Võ Giàng cũ tổ chức lễ hội và vui chơi ở đây.
Còn 3 lớp nền phía trên dựng các cụm kiến trúc lộng lẫy,
nguy nga (điện đường, long vũ, bảo tháp...).
Vua
Trần Nhân Tông (1258-1308) từng về thăm và có làm bài thơ
Đại Lãm Thần quang tự ca ngợi quần thể di tích này:
"Thần
Quang tự kiểu hứng thiên u
Sanh
thỏ phi ô thiên thễợng du
Thập
nhị lâu đài khai hoa trục
Tam
thiên thế giới nhập thị màu".
Tạm
dịch:
"Chùa
Thần Quang vắng vẻ, cảnh vật có nét hứng thú u nhã riêng
Mặt
trời lặn, mặt trăng lên như ngao du giữa bầu trời
Mười
hai tòa lâu đài mở ra tranh vẽ
Ba
ngàn thế giới nhập vào đôi mắt nhà thơ"
Hơn
bốn thế kỷ sau, nhà bác học nổi tiếng Lê Quý Đôn đã
qua đây, miêu tả:
"Toàn
vân lục tính tham thiên thụ
Bàn
lĩnh thanh hoàn thập lục hương"
Tạm
dịch:
"Ba
ngàn thông tám vờn mây biếc
Mười
sáu làng xanh rợp núi non".
Không
chỉ có công trình kiến trúc quy mô, chùa Dạm còn độc đáo
bởi nghệ thuật tượng đài hoành tráng. Trên lớp nền thứ
hai của chùa, thời Lý đã dựng tượng đài. Khu bên phải
(của chùa) hình vuông, mỗi chiều 7 m, cao 2 m đều kè đá
đục chạm rất sâu hoa văn sóng nước (kiểu thức thời Lý).
Khu đất bên trái (của chùa) hình tròn đường kính 5 m, cao
1 m. Ngay giữa khu đất hình tròn có một cột biển bằng đá
nhám liền khối cao 5 m (không kể phần ngọn bị gãy). Cột
biển ấy gồm hai phần: khối hộp vuông ở dưới làm đế
(gắn sâu vào lớp lối đá mạ của núi), khối trụ tròn
ở trên (có đường kính 1,5 m). Đoạn dưới của khối trụ
tròn chạm nổi đôi rồng đuôi giao nhau, thân hình uốn lượn
mềm mại quanh cột, đầu nghểnh cao cùng chầu vào viên ngọc
tỏa sáng. Đầu rồng có mào lửa bốc lên, chân rồng năm
móng nhọn sắc. Bộ đài là ba vòng tròn chạm hoa văn sóng
nước (sóng xô, sóng cuộn).
Hai
hình tròn và vuông ở lớp nền thứ hai tượng trưng Vũ Trụ
theo quan niệm người xưa: "Trời tròn-đất vuông". Cột đá
khổng lồ là biểu tượng Linga (sinh thực khí) thể hiện
ước vọng mưa thuận gió hòa, vạn vật phồn thịnh, sinh
sôi nảy nở của cư dân Việt chuyên canh lúa nước.
Việc
chọn cột đá lớn nguyên khối (loại đá nhám bản địa)
để làm Linga và chạm đá thành nhiều vòng sóng nước để
làm Yoni chứng tỏ trình độ phân thạch, trình độ điêu
khắc tài ba đồng thời cũng bao hàm tễ tưởng thâm thúy,
cao siêu của tổ tiên người Việt.
Với
những công trình ở chùa Dạm, có thể coi vương triều Lý
là vương triều mở đầu cho nghệ thuật kiến trúc và tạo
hình tượng đài hoành tráng của quốc gia Đại Việt.
Cột
biển - tượng đài hoành tráng ở ngoài trời (tồn tại hơn
9 thế kỷ) đã trở thành niềm tự hào của nền điêu khắc
Việt Nam. Nhiều nghệ sĩ đã say mê chiêm ngưỡng cột biển
đó in bóng ấn tượng, kỳ ảo vào núi non, đồng ruộng sông
ngòi ở các thời điểm khác nhau khi mặt trời chiếu rọi.
Không phải ngẫu nhiên mà cột biển chùa Dạm được gia công
thành phiên bản đặt tại sân Viện bảo tàng Mỹ thuật Việt
Nam.
"Của
thiêng còn một chút này", đó là những bức tường đá ở
các tầng nền, là cột biển, là Yoni và những chân cột đá
tảng lớn (75cmx75cm chạm hình hoa sen) còn sót lại ở chùa
Dạm. Nhưng tiếc thay những di vật quý báu ấy đang bị rơi
vào tình trạng hoang phế, xuống cấp thảm hại. Việc tu sửa
tùy tiện, chắp vá thô kệch hiện nay đã "giết chết" vẻ
đẹp và giá trị của những tác phẩm điêu khắc "độc nhất
vô nhị" nơi đây. Đáng lẽ phải kè lại những tầng nền
cho vững chắc ở ngay chỗ dựng cột biển và dọn sạch cỏ
dại xung quanh thì người ta lại đổ bốn cột bêtông cốt
thép và định lắp mái lên trên cột biển. Hành động ấy
đã vô tình hủy hoại một tuyệt tác của dân tộc.
Các
bức tường đá cũng bị bạch đàn "vây bủa", che khuất.
Tại sao ở chốn danh lam cổ tích như chùa Dạm, cơ quan văn
hóa tỉnh Bắc Ninh không đầu tư vào hướng dẫn địa phương
xã Nam Sơn trồng thông, trúc hoặc cây cảnh để tạo khuôn
viên đẹp đẽ cho quần thể di tích đặc biệt này?
Chẳng
còn bao lâu nữa Việt Nam sẽ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long,
chùa Dạm là một điểm văn hóa - du lịch trong lộ trình lịch
sử, mong sao Bộ Văn hóa và chính quyền cũng như cơ quan chức
năng tỉnh Bắc Ninh nên sớm có kế hoạch đầu tư tu bổ
một cách khoa học và thích đáng để khôi phục diện mạo
hoành tráng cho công trình thời Lý.
Trương
Thị Kim Dung