THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

c
Những Ngôi Chùa Việt Nam
TỈNH ĐỒNG NAI

THIỀN VIỆN THƯỜNG CHIẾU
 Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
Ðiện thoại: (061) 841071 - Fax: 84. 61. 841071

Thiền viện tọa lạc tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Thiền viện mang tên một danh sư Việt Nam đời Lý (thế kỷ XII). Thiền viện do Hòa thượng Thích Thanh Từ khai sơn vào tháng 8 năm 1974. Điện Phật được kiến lập năm 1986, đài chuông được dựng năm 1988, ngôi chánh điện được đại trùng tu năm 1995. Thượng tọa Thích Nhật Quang trụ trì hiện nay đang mở rộng Thiền viện trở thành trung tâm của các thiền viện nổi tiếng trong vùng như: Thiền viện Viên Chiếu, Thiền viện Linh Chiếu, Thiền viện Huệ Chiếu, Thiền viện Phổ Chiếu, Thiền viện Liễu Đức...Hiện Thiền viện Thường Chiếu có khoảng trên 120 tăng chúng đang tu hành. Xin giới thiệu bài viết dưới đây của thầy trụ trì (BBT)

THIỀN VIỆN THƯỜNG CHIẾU

Thường Chiếu ! Danh xưng một vị Thiền sư Việt Nam nổi tiếng thời Lý. Sư họ Phạm, quê làng Phù Ninh, từng làm quan cho triều đình. Là một bậc trượng phu quân tử có tiết tháo, không khiếp phục uy quyền, xem thường công danh sự nghiệp ở đời, nên chốn quan trường đối với Sư chỉ như trò bọt bóng . Nghe danh Thiền sư Quảng Nghiêm ở chùa Tịnh Quả, Sư liền từ quan, tìm đến xuất gia học Thiền và đắc pháp luôn tại đây.

Sau, Sư về Trụ Trì chùa Lục Tổ ở làng Dịch Bảng, phủ Thiên Ðức. Tăng chúng đua nhau theo học rất đông. Từ đó, Sư trở thành một danh tăng lỗi lạc đương thời. Bình nhật, Sư luôn lấy đạo cả làm trọng, tỉnh lực giác tâm là chánh, thường hành chiếu soi, sống tự tại, chết ung dung. Hôm sắp tịch, Sư hơi đau bụng, bèn gọi chúng lại nói:

Ðạo vốn không nhan sắc,
Ngày ngày lại mới tươi.
Ngoài đại thiên sa giới,
Chỗ nào chẳng là nhà ?
 
Ðạo bổn vô nhan sắc,
Tân tiên nhật nhật khoa.
Ðại thiên sa giới ngoại,
Hà xứ bất vi gia ?

Nói xong, Sư tịch. Thật còn gì tuyệt bằng ! Có thể nói, môn phong của Sư được các thế hệ sau phát triển rực rỡ và chuyển tiếp thành dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đời Trần sáng chói mãi về sau. Danh Sư vì thế đã trở thành danh xưng của Thiền viện Thường Chiếu non một thế kỷ sau. Nơi đây - Thường Chiếu - không chỉ ảnh hiện một tấm gương sáng xa xưa cho người sau theo dấu soi mình, mà với ý nghĩa tròn đủ đó, Thường Chiếu còn là phương châm, là sở nguyện của Hòa thượng ân sư đối với chư Tăng: " Phản quan tự kỷ, bổn phận sự " - luôn tự soi chiếu lại chính mình -. Ðây cũng chính là cương lĩnh yếu chỉ của dòng Thiền Việt Nam cuối thế kỷ 20 này.

DUYÊN KHỞI THÀNH LẬP THIỀN VIỆN THƯỜNG CHIẾU.

Vào những năm 73 -74, khi mở khóa thiền thứ hai tại Tu viện Chân Không, Hòa thượng nhận thấy Tăng ni về núi tham học khá đông. Theo đó, nhu cầu đời sống vật chất của chư Tăng cũng được đặt ra. Biết rõ điều ấy, hai Phật tử chủ chùa Linh Quang (cũ) ở Cát Lở phát tâm cúng dường thửa đất 52 mẫu tại Xã Phước Thái - Huyện Long Thành,để Hòa thượng lập Thiền trang. Nhận thấy cơ duyên đã đến, Hòa thượng liền tùy hỷ. Thiền viện Thường Chiếu được ra đời từ đó.

1. Giai đoạn đầu từ 1974 - 30/ 04/ 1975: Thời sơ khai.

Ngôi chùa Thường Chiếu đầu tiên là một căn nhà lá, mái tol, nằm trơ vơ trên một dãy đất cát trắng phếu với sỏi đá khô cằn. Thầy Ðắc Huyền được Hòa thượng bổ nhiệm làm lính tiên phong - Trụ trì đầu tiên - với số chúng là bốn vị. Mấy anh em xuống núi trong giai đoạn này quả thật là phải " cạp đất mà ăn ". Vì vậy Hòa thượng luôn động viên, luôn tiếp sức qua những lần về thăm. Thầy không chỉ dùng lời mà còn cộng sự, cuốc đất trồng khoai, thân giáo chư tăng. Bây giờ ngồi mà nhớ lại hồi xưa, nếp nhà tranh, ánh đèn dầu, khung trời nắng cháy.Ai tới đây rồi cũng phải ngao ngán. Thường Chiếu lúc đó, không biết ra sao ở ngày mai ? Song nhờ có Hòa thượng luôn yểm trợ tinh thần, giúp chư tăng vượt qua mọi khó khăn, giữ vững tâm nguyện tu hành của mình, nên rồi tất cả cũng kham nhẫn được. Vạn sự khởi đầu nan. Xưa nay vẫn vậy.

Ðến 30 / 04 / 75, đất nước giải phóng, lịch sử sang trang. Chư Tăng ni cũng thay đổi cuộc sống tu hành của mình theo nhịp đổi thay chung của đất nước. Thế là Tăng ni của cả hai viện Chân Không và Bát Nhã khóa hai cùng xuống núi, về đây làm ruộng rẫy. Thầy Phước Hảo và Thầy Ðắc Pháp cũng có mặt trong giai đoạn này để hướng dẫn chúng tu học và lao động, Tuy nhiên, thời gian chỉ có hai tháng thì giao lại cho Thầy Nhật Quang làm Huynh Trưởng. Ngẫm lại trong cuộc vô thường, bể hóa cồn dâu có khác gì nhau. Cũng chỉ đùa mà thôi.

2. Giai đoạn hai từ 1975 - 1986:

Thời vượt khó.Năm 1975, Thầy Nhật Quang lãnh trách nhiệm Huynh Trưởng với tổng số chúng là 20 vị. Hòa thượng cho cất thêm một tăng đường bằng lá và cái thất sàn cũng bằng lá, nép mình khiêm cung bên bụi tre hồi đó chính là phương trượng của Thầy bây giờ.Thanh Qui Bách Trượng được áp dụng từ đây. Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực ( một ngày không làm, một ngày không ăn ).

Tu, học và lao động trở thành ba yếu tố căn bản không thể thiếu của Thiền sinh Thường Chiếu và các Chiếu phụ cận ra đời tiếp theo sau như Viên Chiếu (1975), Linh Chiếu (1980) . Việc tu được Hòa thượng cụ thể hóa như hơi thở, việc học như uống nước, việc làm như ăn cơm. Một trong ba đều cần thiết đối với đời sống tu học của Thiền sinh. Ðể chấn chỉnh môn phong trong giai đoạn này, Hòa thượng Viện Trưởng đã sửa đổi bản Thanh Qui Chân Không, cho ra đời bản Qui Ước áp dụng chung cho các Thiền viện. Tinh thần tu, học và lao động tuy phôi thai  nhưng đã gầy dựng được một sức sống mới trong tăng đoàn. Sức sống ấy đã được Thiền tăng chuyển tải trên đồng khô ruộng cạn, trên từng nhát cuốc đường cày, lúc đẩy xe kéo củi, khi đào giếng khoét mương.khắp trong bạn lứa anh em, đâu đâu cũng hùng hồn vang vọng như một hành khúc:
 
Một ngày không làm là một ngày không ăn,
Có đâu chỉ ngồi mới là thiền tăng,
Trâu đen rồi đây sẽ thành trâu trắng,
Chẳng phí đi kiếp người mới thật là Tăng.

Với một bối cảnh kinh tế ngặt nghèo như vậy, Tăng ni phải lao động để duy trì sự sống, nên công phu tu tập hẳn nhiên bị trì trệ.Sau một ngày sinh hoạt nặng nhọc, anh em không sao tránh khỏi sự mệt mỏi lúc về đêm.

Những buổi thiền tọa vì thế chỉ là những buổi ngủ ngồi, gật gà gật gưỡng trông thật thảm. Vì vậy, thiền tăng nào không đủ niềm tin với pháp môn, chưa vững chắc công phu tu học thì dễ thối lui bỏ cuộc. Ngược lại, với những ai đủ nghị lực, giàu ý chí thì đây chính là môi trường tốt cho một cuộc đọ sức.

Lần đó, Thầy Nhật Quang vào thăm Viên Chiếu. Lắng nghe câu chuyện tu học và làm việc của quí cô, Thầy nể quá. Giữa rừng hoang hẻo lánh, nước độc suối sâu, mấy huynh đệ là phái yếu lại dám đương đầu với sơn lam chướng khí, đói rét nắng mưa. quần tụ bên nhau, san sẻ từng chút khổ vui để được yên sống tu hành. Lần đó trở về, Thầy đã ghi vào nhật ký câu này: " Quạnh hiu là thước đo của tâm hồn ", để tự răn mình và cũng để đánh dấu một thời của huynh đệ đồng tu. 

Vì nặng về lao động nên những năm này, việc tu tập của Tăng ni không tiến triển bao nhiêu. Hòa thượng luôn trăn trở điều này. Bởi vì nếu Tăng ni không có niềm vui, bước đường tu nhất định sẽ thối khuất. Thế nên, dù còn nhiều khó khăn nhưng Thầy vẫn cố gắng cho ra đời các thiền thất, nhằm tạo điều kiện cho thiền sinh sau một thời gian nhọc nhằn, có được nơi yên tỉnh, có thì giờ, để hạ thủ công phu tu hành. Thật vậy, từ khi có các thiền thất, tinh thần tu tập của Tăng ni phấn chấn hẳn lên, kết quả thấy rõ. Hòa thượng rất vui và Ngài cả quyết " Tăng ni có tu là có tiến ". Cho nên dù đường lối tốt mà không đủ duyên thì việc tu tập cũng không thể thành công được. Nhưng rồi vào những năm kế tiếp 78, 79, 80; hoàn cảnh xã hội bên ngoài biến chuyển, việc họp chúng đông đảo tu học càng gặp nhiều trở ngại hơn nữa. Ðể thích nghi với hiện tình, bản Qui Ước lại một lần nữa chuyển sang chế độ Trụ trì.

Ðầu năm 80, Thầy Thiện Phát từ chùa Linh Quang về Thường Chiếu thay thế Thầy Nhật Quang lãnh trách nhiệm Trụ trì vì Thầy Nhật Quang sẽ nhập thất. Thời gian từ 80 - 85 là đỉnh cao của những năm cam go và thử thách của Thiền viện. Số thiền sinh giảm dần xuống, có khi chỉ còn khoảng 10 vị, kể cả Trụ trì. Hòa thượng cũng khó tới lui. Thường Chiếu lại quạnh hiu, côi cút từng ngày. Hồi tưởng những năm tháng này, quả là:

Thương hải tang điền rộn đổi thay,
Lầu sò chợ bể gợn u hoài.

Nhưng, có thế cũng là hay. Bởi vì dòng đời luôn sinh động và luân lưu biến hóa không cùng. Phải ở trong đó mà nghiệm lấy mới thẩm thấu được hai chữ " vô thường " nhi " hữu thường ". Vạn pháp cứ thế tạm đến tạm đi, thì Thường Chiếu chợt đổi chợt thay, cũng có lạ gì đâu ?

3-Giai đoạn ba từ 1986 - 1993:

Thời chuyển mình.Ngày 18 / 03 Âl (1986), Phật xuống núi, Thầy xuống núi, vì Chân Không nằm trong khu quân sự nên bị giải tỏa. Tăng ni và Phật tử cùng trở về chùa gốc, tháo gở từng tấm tol, từng viên gạch, chuyền nhau xuống núi. Hai mươi năm gầy dựng, thoáng một phút mất tâm.

Hôm ấy rời núi, Hòa thượng đã gởi lại mộ cha. Ông vẫn còn trên đó để mà gẫm cái lẽ Sắc Không, hợp tan trong cõi tạm. Ngày 24 / 03, Thầy đóng mốc đắp đất làm nền cho ngôi Chánh điện Thường Chiếu, mà thật ra là của Chân Không dời về. Ngày 15 / 04 Khánh thành Chánh điện Thường Chiếu. Như vậy chỉ trong khoảng chưa đầy 20 ngày, tất cả đều đổi thay. Chân Không mà Thường Chiếu.

Kể từ đây, một luồng sinh khí mới thổi về miền đất cháy. Thiền viện mới thật sự hiện diện đúng với tên gọi của mình. Hòa thượng Viện Trưởng chánh thức chấn tích khai đạo tại đạo tràng Thường Chiếu, trực tiếp hướng dẫn Tăng ni Phật tử tu thiền. Thường Chiếu và các Chiếu phụ cận như được hồi sinh. Tăng chúng lên dần tới 100 vị. Lúc này, Thầy Nhật Quang đã đương nhiệm Trụ trì trở lại.

Ðến đây, hoàn cảnh xã hội bên ngoài cũng đang trên đà phát triển. Có thể nói: " Ðất nước Việt Nam đang hồi đi lên để gầy dựng một xã hội văn minh dân giàu nước mạnh ". Từ đó, cơ sở vật chất của các Viện cũng được mười phương đàn tín hổ trợ xây dựng lại tương đối ổn định. Thường Chiếu từng phút từng giây thay da đổi thịt.

Vào cuối năm 1989, Hòa thượng làm Trưởng đoàn cùng một số Tăng ni Phật tử ra Bắc viếng thăm các thắng tích danh lam, đồng thời cũng để sưu tập thêm các tư liệu về Thiền tông của Phật Giáo Việt Nam còn rải rác ở các trung tâm ngày xưa như Luy Lâu, chùa Kiến Sơ, Trúc Lâm Yên Tử v.v. Chuyến đi thành công. Với tư liệu và số hình ảnh đã thu thập được, không bao lâu sau quyển Thiền sư Việt Nam được tái bản với phần bổ khuyết tương đối hoàn bị. Và tiếp theo đó, quyển Thiền Tông Việt Nam cuối thế kỷ 20 ra đời, chánh thức công khai hóa đường lối tu Thiền của các Thiền viện trực thuộc hệ thống hướng dẫn của Hòa thượng. Một bước ngoặt mới trong lịch sử Thiền tông nước nhà thời hiện đại được mở ra.

Số Phật tử tham học tu thiền phát triển ngày càng mạnh. Các đạo tràng lần lượt xuất hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh như Thái Tuệ, Tuệ Tâm, Tâm Ðức. mở đầu cho những đạo tràng sau này ở miền Trung như Sen Hồng, Sen Xanh. cùng quy hướng về Hòa thượng tu thiền. Có thể nói, con đường hoằng pháp đến đây đã hanh thông.

Năm 1990, do nhu cầu tham học của Phật tử lên quá cao nên Hòa thượng cho phép trùng tu điện Phật, Tổ đường, cất thêm giảng đường, thiền thất và toàn bộ cơ sở nhà Tăng, thư viện. Ngoài ra, khu ngoại viện cũng được mở rộng cho chư Tăng ni lớn tuổi nương về tu tập. Số thiền thất khu ngoại viện bấy giờ lên đến trên 100 ngôi.

Trong đó, Bửu Sơn dẫn đầu nhưhậu thân của vùng Sơn thất. Thường Chiếu đã vượt qua những gian lao thử thách và hôm nay đã sừng sững trưởng hành với thế vững chắc trang nghiêm của mình. Thường Chiếu ! Tự bản thân nó đóng một vai trò như ánh đuốc trong đêm đen, giúp cho bao kẻ lạc bước kịp thời thấy lối quay về. Phật tử Từ Âm trong một lần xúc cảm đã viết lời này: - " Thường Chiếu là nơi tổ ấm của những ai lạc loài."

Dưới sự chỉ giáo, chăm chút kỷ lưỡng của Hòa thượng, huynh đệ đã vỡ khóc vỡ cười sau những lần nhập thất chuyên tu. Kết quả ấy đã đem lại nguồn an ủi cho Thầy và đồng thời cũng là niềm khích lệ lớn lao cho tất cả huynh đệ đồng tu. Tăng ni vui sống hài hòa, cùng một lý tưởng, một pháp tu, một Ân sư, đùm bộc gắng gổ bên nhau, miệt mài công phu. Niềm vui sáng đạo thì chưa dám tự hào, nhưng trong thâm tâm mỗi thiền sinh nơi đây, một ngày sống là xứng đáng một ngày. Mỗi ngày qua không phí uổng kiếp người, không tăm tối ngược xuôi bắt bóng đuổi hình. Thiền tăng với một quyết tâm thực hiện cho bằng được lý tưởng tối hậu là làm người " vô sự " mới chịu thôi.

Ðồng cảm với nguồn vui ấy, trong một lần họp mặt huynh đệ, Thầy Trụ trì đã để lại trong lòng anh em câu nói đầy đạo tình: - " Dù gian khó, ta hằng sống trong hòa khí trong an lành. Dù vui sướng, ta thường nhắc mau dừng bước lang thang này." Với niềm tin và tình thương ấy, Thường Chiếu đã tự sáng soi và soi sáng khắp nơi ánh thiền quang rạng ngời.

Khoảng năm 1991 - 1992, Hòa thượng thường lên Ðà Lạt vào những mùa nắng vì Thường Chiếu rất nóng. Nhận thấy khí hậu cao nguyên thích hợp cho người tu thiền, Hòa thượng liền khởi niệm thành lập Thiền viện chuyên tu trên đó. Ðáp lại hoài vọng ấy của Thầy, Tăng ni và các Phật tử chung sức chung lòng lo lắng xin phép giấy tờ. Ðến năm 1993, Ni sư Huệ Hạnh báo tin được Trúc Lâm. Thầy trò vui mừng khởi sự xây dựng Thiền viện Trúc Lâm ngay lập tức.

Song song với việc kiến lập Thiền viện Trúc Lâm, Hòa thượng quyết định trùng tu lại chánh điện Thường Chiếu. Ðồng lúc ấy, Thầy thực hiện một chuyến Tây du, vừa để viếng thăm Tăng ni Phật tử bên đó, vừa để trị luôn bệnh tim. Ngày Rằm tháng 10 năm ấy (1993), Thầy trở về nước niêm hương An vị Phật và khánh thành Chánh điện Thường Chiếu. Chư sơn đồng câu hội, khói trầm xông tỏa; Thường Chiếu uy nghi và hùng dũng, rờ rỡ giữa trời không.

4-Giai đoạn bốn từ 1993 trở về sau:

Thường Chiếu ngày nay.Năm 1994 Khánh thành Thiền viện Trúc Lâm. Thiền tăng Thường Chiếu lại một lần nữa phấn phát lên đường. Lúc này, tổng số chúng tại đây lên đến 150 vị. Trên 40 huynh đệ được Hòa thượng tuyển đưa vào Nội viện Trúc Lâm - Ðà Lạt. Thật là một diễm phúc lớn lao vô cùng.

Bởi vì Thiền viện Trúc Lâm ra đời được xem như là lý tưởng tối hậu của Thầy. Thầy từng nói: - " Tôi bao giờ cũng nghĩ đến trách nhiệm của mình. Làm sao cho Tăng ni tu hành đến nơi đến chốn. Sáng được việc lớn trong hiện đời là nguồn hạnh phúc vô biên của Tăng ni mà cũng là hoài bảo tha thiết nhất của đời tôi. "

Chân tinh thần của dòng thiền Trúc Lâm - Yên Tử được phục hồi sau một thời gian ngót 700 năm vắng bóng. Ðây là một dòng thiền chính thống Việt Nam, xứng đáng để cho hàng Tăng sĩ chúng ta tự hào về một thiền phái của người Việt Nam; vừa liễu ngộ Phật pháp, vừa làm tròn bổn phận đối với quốc tổ và dân tộc. Các vua Trần ở trên ngôi cửu nghi, nhưng tấc lòng lúc nào cũng hướng về chốn thiền môn, thích cảnh thanh thoát cao nhàn, thường dạo chơi trong núi sâu rừng thẳm, không ưa vương bổng buộc ràng. Tuy nhiên khi đất nước gặp cơn binh biến, vua tôi đã chung sức chung lòng, hy sinh tất cả để giữ vững giang sơn gấm vóc. Ðứng trước thế lực như vũ bảo của ngoại xâm, triều đình lãnh đạo toàn dân xông pha đuổi giặc, không trốn tránh, không khiếp nhược, luôn giữ thế tự chủ, độc lập về mình. Lịch sử chống ngoại xâm của nước ta, thật không thời nào hiển hách vang dội như những chiến công oanh liệt đời Trần. Trúc Thiên, một học giả Thiền đã tán dương thật trọn vẹn điều này trong một đoạn thơ của mình : 
 
Ðường đi lên có Trần Triều Thái Tổ
Tay khiển trượng thiền tay vó câu
Thế đạo suy vi, cường khấu ngặt
Ngàn xưa đuốc tuệ rạng ngàn sau.
( Ðường đi lên - Trúc Thiên )

Vì vậy, việc khôi phục lại tinh thần Thiền tông đời Trần cũng có thể xem là một bổn phận chung của hàng Tăng sĩ Việt Nam vậy.

Năm 1996, được tin phục hồi Chân Không. Quả là chim bay về tổ, nước chảy về nguồn. Tăng ni lại cùng nhau thướng sơn. Phải chăng Thiền tông đã tới hồi sống dậy thật rồi ? Nhưng cũng vì thế, Hòa thượng lại càng nhọc nhằn nhiều hơn. Vừa trực tiếp chăm lo cho chư Tăng ni tại Thiền viện Trúc Lâm, vừa phải về đây giảng dạy cho Tăng ni các thiền viện và Phật tử, đồng thời lo lắng mọi việc cho Chân Không mới được phục hồi. Rồi lại còn phải về Thành phố dạy Thiền tại Ðại học Vạn hạnh, chùa Ấn Quang, chùa Xá Lợi. Hòa thượng đã tận tụy hy sinh vì tứ chúng mà quên thân mình. Hàng đệ tử trong môn hạ nhìn thấy việc làm của Thầy ai cũng xót xa, mà không biết bao giờ mới có thể đảm đương gánh vác cùng Người ? 

Phật tử bốn phương tụ hội về Thường Chiếu ngày càng đông đảo, Tổ đường không còn chỗ dung. Vậy là năm 1998, Hòa thượng lại một lần nữa đại trùng tu Tổ đường Thường Chiếu. Nhờ sự quan tâm giúp đỡ của các cấp chính quyền, Mặt trận, Ban tôn giáo, Tỉnh hội Phật giáo và sự ủng hộ nhiệt thành của Tăng ni, Phật tử gần xa nên chỉ trong vòng bốn tháng, ngôi Tổ đường trang nghiêm tráng lệ được hoàn thành.

Thường Chiếu có thể xứng đáng gọi là Tổ đình để phục hưng dòng Thiền Việt nam cuối thế kỷ 20 rồi. Thành tựu này nếu không nhờ Phật lực gia bị thì thật không thể ngờ. Cho nên Hòa thượng vẫn luôn nhắc nhở:

- Phước báo hạnh nghiệp đều do nơi công đức huân tu mà ra. Ngày nay các Thiền viện đã được sung mãn, chư Tăng ni càng phải đem hết tâm huyết tu hành. Có thế mới mong đền đáp được tứ ân trong muôn một. Nếu không như vậy, quyết phải rơi vào các đường để trả lại nợ trước.

Ðến đây, việc kiến thiết việc tu tập đã vào nề nếp. Hòa thượng bắt đầu để tâm vào văn hóa. Thầy những mong phải dịch thuật và giảng dạy tất cả kinh sách, ngữ lục của các Thiền sư Việt Nam, để kết tập thành một tủ sách Thiền học Việt Nam; nhằm khêu sáng trở lại nền văn hóa thiền học nước ta từ nghìn xưa, cho Tăng sĩ Việt Nam nối bước các bậc tiền bối, tiếp tục thực hiện sứ mạng truyền đăng tục diệm của mình. Ban văn hóa Thường Chiếu ra đời vào năm 1998. Dưới sự lãnh đạo của Hòa thượng, toàn bộ sự nghiệp dịch thuật và trước tác của Thầy được chỉnh đốn và bổ khuyết thêm cho hoàn bị.

" Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc" một lần nữa lại được tuyên dương như là kim chỉ nam cho Tăng ni tất cả các Thiền viện. Thanh Quy mới được ra đời, thống nhất đường lối và chủ trương tu Thiền của các Thiền viện thuộc thiền phái Trúc Lâm cuối thế kỷ 20. Thường Chiếu bây giờ là đàn anh của các Chiếu. Vì vậy chư Tăng nơi đây càng phải ý thức trách nhiệm là người đi đầu của mình. Sự tu học và sinh hoạt hàng ngày phải được thể hiện trong phong cách của một hành giả thực tu thực học. Giờ này, không còn gì để thiền tăng luận bàn hay do dự nữa, chỉ một việc thẳng tiến lên đường. Ðó cũng là tất cả những gì Hòa thượng ân sư của chúng ta mong mỏi nhất.
 
TỔNG KẾT

Hai mươi lăm năm, Thường Chiếu luôn trở mình, từ mái tranh gốc rạ cho đến có được những đường nét hôm nay, con người hôm nay. Tất cả đủ để nói lên tâm lực, trí lực và dũng lực của người Thầy dẫn đường. Từ con số không, Hòa thượng đã từng bước gầy dựng trong trắc trở nguy nan, cũng chỉ vì hai tiếng Tăng Ni. Giờ đây phần còn lại, có giữ vững được hay không, có phát triển thêm lên được hay không đều tùy thuộc vào lực tu của tất cả chúng ta.

Thường Chiếu ! Tự bản thân hai chữ ấy đã như một lời răn nhắc chư Tăng phải biết việc bổn phận của mình. Tất cả một đời của Hòa thượng đã cho hết Tăng ni, tất cả những hoài bảo thiết tha nhất của mình, Hòa thượng cũng đã tỏ bày hết cùng Tăng ni. Không còn một tấm lòng nào hơn thế nữa của một bậc Tôn sư. Thập phương tín thí cũng đã hy sinh biết bao công của. Tiền nhân đã ủy thác, hậu lai đang trông chờ. Chúng ta có thể ngồi yên nhìn đời mình trôi qua được sao ? Chúng ta có thể mặc tình lơ đễnh để cho sự nghiệp khôi phục Thiền tông Việt Nam của Thầy vụn vỡ tan hoang được sao ? Chúng ta có thể bóp nát niềm tin trong lòng bạn lứa anh em được sao ? Mọi điều ấy phải được trả lời bằng tất cả tủy não cân xương của những con người dám buông tay bên bờ vực tử sinh, trước khi hoàn lại cố hương.

Ðược vậy thì - Thường Chiếu - muôn đời vẫn chiếu soi.

Nhật Quang
 
 


 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap