CHÙA
LINH PHONG
L.T.S
: Đào Tấn - nhà văn hoá lớn của nước ta, không chỉ là
nhà soạn tuồng kiệt xuất, nhà thơ tài ba, ông còn để lại
nhiều áng văn hay. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của
ông về chùa Linh Phong, một ngôi chùa đẹp nổi tiếng ở
Bình Định trước đây. Bài dịch trích trong tập bản thảo
"Mai viên cố sự " của Lộc xuyên Đặng Qui Địch .
Cách
thành Đồ Bàn hơn ba mươi dặm vê hướng đông bắc, quanh
các thôn Phương Phi Phương Thái thuộc vùng biển đều là
núi non cả (trong quần sơn này) nổi lên một ngọn núi cao
chót vót, xinh xắn, đứng một mình, đó là ngọn núi có chùa
Linh Phong. (Nơi này) rừng suối cây đá có vẻ đẹp kín đáo
và thanh cao không đâu bằng. Có thể nói đây là ngọn núi
đẹp nhất tỉnh ta.
Vào
năm thứ mười một đời vua Hiếu Minh (Quốc chúa, Minh Vương,
Nguyễn Phúc Chu) ở triều trước nước ta, nhằm năm thứ
23 niên hiệu Chánh Hoà nhà Lê, tức năm nhâm Ngọ (1702) có
Mộc Y Sơn, ông tu tại núi này. Kết vỏ cây làm áo, mùa đông
mùa hè vẫn mặc như thế, ung dung sống bên sườn núi, trong
hang đá, ra vào không ai định trước được. Người trong
vùng chẳng biết họ tên ông (nhân thấy ông ở trong núi,
gọi ông là Sơn ông (ông Núi). Khảo tự phổ riêng của chùa
(Linh Phong) cùng bài vị các đời trụ trì thờ tại chùa,
thấy có ghi ông họ Lê tên Ban, người ở kinh đô Trung Quốc.
Gọi Sơn ông là Lê Ban chưa biết đúng không hoặc ông là
người giấu tên trốn đời, sống hoà mình vào đám người
chằm nón đốn củi dệt chiếu câu cá cũng chưa biết chừng!
Ông ở núi này được vài năm thì chọn lưng chừng núi chỗ
có con suối sâu và dài, phát cây hoang, vác đá lớn xếp chỗ
nọ, lắp chỗ kia, lấy thanh tre làm một cái am nhỏ (công
việc xây dựng nhanh chóng như có quỷ thần dị vật ngầm
giúp). Am cất xong, đặt tên là: "Dũng tuyển tự "chùa "Dũng
tuyển " gối đầu vào ngọn núi rất ca, cạnh con suối trong
luôn có nước chảy, hai bên có mây già đá lạ, cây kỳ,
hoa nổi tiếng, chỗ cao chỗ thấp chứa sẵn cái vẽ rất
yên tĩnh và rất sạch sẽ. Cảnh trí này đều do tay ông sắp
đặt lấy với tâm hồn của người thợ, lập riêng thành
thế giới cỏn con giữa cõi trời và cõi người. Phía tả
chùa có gian nhà đá, nóc bằng như trần nhà, hai bên thẳng
như vách, giữa như giường nằm, ngoài như bậc thềm, như
sân. Trên mặt sân đá về phía hữu có chỗ lõm xuống, có
truyền thuyết cho rằng đây là cối giã gạo của Sơn Ông.
Hoặc cho rằng : "Ông chứa nước nơi này để đổ vào nghiên
khi mài mực". Thiên nhiên sắp đặt, nghiễm nhiên thành một
ngôi nhà nhỏ. Lúc rảnh rỗi ông thường đến chơi trong nhà
đá, một mình ngồi niệm kinh, nay do chỗ này mà tưởng tượng
được cách sinh hoạt của ông. Tương truyền ban ngày ông
ở trong núi đốn củi, bó thành bó lớn, phải sức của hai
người khiên nổi, vậy mà chỉ một mình ông vác xuống chân
núi, đặt bên đường. Người qua lại đều biết là chỉ
của Sơn Ông, bèn đem rau gạo mà đổi. Ông hoặc đồng tử
xuống núi lấy gạo rau rồi đi, chưa từng đối đáp một
ai về việc đổi chác nhiều ít thế nào. Ngày khác cũng vậy
như thế được mười mấy năm không thể biết được tung
tích. Núi nhiều cọp chỉ một mình ông ở với một đồng
tử, người với cọp beo như quen biết nhau, quên vật quên
mình. Xưa có ông Đồng Cảnh Đạo ẩn trong núi Thương Lạc,
mặc áo lá cây, gảy đàn ca hát, tự lấy thế làm vui, trùng
độc và thú dữ qua lại bên cạnh. Như Sơn Ông đây là nhà
sư (mà hành tung có khác gì bậc ẩn giả kia. Ôi (nếu không
phải thế thì) sao dạo biển chơi mây rồi cuối cùng thì
gửi dấu nơi núi này?
Kịp
đến năm thứ 8 đời vua Hiến Ninh (Ninh Vương, Nguyễn Phúc
Chú) nước ta, nhằm cuối năm Vĩnh Khánh thứ 4, đầu năm
Long Đức nguyên niên nhà Lê, tức cuối năm Nhâm Tý đầu
năm Quí Sửu (1732) vua khen ông là bậc chân tu, sai sùng tu chùa.
Chùa tranh thành chùa ngói bắt đầu từ đây. Vua ban tên chùa
là: "Linh Phong thiền tự" bên tả khắc "Vĩnh Khánh Quí Sửu
xuân vương chính nguyệt = tháng giêng năm Quí Sửu Vĩnh Khánh
nhà Lê ", bên hữu khắc: "Quốc chúa ngự đề = chính tay Quốc
chúa" và ban ngự liễn:
"Hải
ngạn khởi lương nhân, pháp vũ phổ thiên tư Phật thổ .
Linh
Phong ngưng thụy khí , tường vân biến địa ấm nhân gian
!"
(Bờ
biển dấy nhân hay, mưa khắp trời nhuần Phật thổ ;
Núi
Linh ngưng khí tốt, mây lành rợp đất hộ nhân gian !)
Bên
tả khắc "Quí Sửu cốc đán = Buổi sáng tốt năm Quí Sửu".
Bên hữu khắc "Quốc chúa ngự đề ". Dưới bốn chữ "quốc
chúa ngự đề" ở tấm biển và ở câu liễn này đều có
khắc "Thần ngự bửu tỉ = ấn báu" "Thần ngự " của nhà
vua. Vua còn ban cho Sơn Ông hiệu Tịnh Giác Thiện Trì Đại
Lão Thiền Sư.
Vào
năm thứ 3 đời vua Hiếu Võ (Võ Vương Khúc Khoát) nước ta,
nhằm năm thứ nhì niên hiệu Cảnh Hưng nhà Lê, tức năm Tân
Dậu (1741 ), vua sắc triệu Sơn Ông về kinh để hỏi về giáo
lý đạo Phật. Ông chống gậy tầm xích đến chơi nơi vua
đóng đô, chưa đầy tháng thì đã từ tạ xin về. Vua ban
một bộ áo cà sa có vòng ngọc móc vàng làm pháp phục, ân
sủng thật hiếm có. Trong loạn lạc thời Tây Sơn chùa bị
đổ nát, chính là lúc ông qua đời, tăng chúng các chùa họp
lại lo việc mai táng cho ông, tháp xây bên hữu chùa. Tại
tháp có câu liễn :
"Quyển
Thạch tiệm thành sơn, thản thản u trinh Thường Lạc thổ
.
Chúng
lưu nan vi thuỷ, mang mang không tế Động Đình Thiên!"
(Góp
đá dần thành non, u nhã phẳng phiu đất Thường Lạc ;
Họp
dòng khó nên nước, hư vô man mác trời Động Đình !)
Bên
hữu viết : "Ngụy Thái Đức bát niên = Năm thứ 8 hiệu Thái
Đức (1785) nhà Tây Sơn", nay vẫn còn. Do đó biết ông viên
tịch thời Tây Sơn .
Sau
khi Thế tổ Cao Hoàng Đế nhà Nguyễn ta định rồi. Triều
đình vâng mệnh hỏi han đến tình trạng chùa Linh Phong. Năm
Gia Long thứ 7 Mậu Thìn (1808), triều đình phụng mệnh truyền
ý chỉ của Thánh Mẫu Hiếu Khương Hoàng Hậu rằng "Vật
thường trụ của chùa Linh Phong (đã đổ nát) không ai được
lấy càn, để đợi sùng tu". Năm Minh Mệnh thứ 7, Bính Tuất
(1826) vua sắc trấn thần đệ tương pháp phục triều trước
đã ban cho Sơn Ông để vua xem, rồi ra lệnh theo cách thức
cũ chế một bộ cà sa mới có móc vàng và vòng (kim loại)
tạc hình voi, ban cho chùa Linh Phong làm vật để thờ ông.
Vua còn lệnh xuất kho trong cung một trăm hai mươi lạng bạc,
sai Trấn thần trùng tu chùa, nên đài giảng kinh ấy, ghế
ngồi nói Pháp ấy trang nghiêm không đâu bằng, cỏ non thông
lớn đều thấm nhuần ơn mưa móc mà Sơn Ông chưa kịp thấy.
Có thuyết nói rằng: "Khoản niên hiệu Minh Mệnh (một đêm)
vua không được khoẻ, vừa chợp mắt thì mộng thấy được
một nhà sư già mặc áo vỏ cây, đứng bên giường ngọc
mà quạt hầu. Rạng sáng hôm sau mình rồng khoẻ khoắn, vua
đem điều chiêm bao nói cho quan chấp chánh biết, nhân đó
nhớ chuyện Mộc y Ông ở chùa Linh Phong về triều trước,
vua làm lấy lạ (cho sự linh dị của Sơn Ông) bèn ra lệnh
trùng tu chùa. Ôi ! Ông cũng lạ lùng thay! Mặc áo vỏ cây
làm sư, cửa vàng yết chúa, nhà đá niệm kinh, giường ngọc
hiển mộng, qua lại cõi trần sắc tướng không không, nay
tên ông cùng tên núi đều truyền, đáng làm thắng tích ở
tỉnh ta .
Giữa
niên hiệu Kiến Phúc, Hàm Nghi, Tấn tôi bỏ quan về nhà ở
phía nam kinh đô, gửi thân nơi cửa thiền để tránh loạn,
kiệu chàm gặp trúc thường qua lại núi này chùa này. Người
xưa một năm ở núi quá nửa. Tấn tôi lúc bấy giờ cũng
tương tự như thế. Lúc ở núi, nhân hứng có đề mấy câu
vụng về, nay ghi lại đây vài câu liễn :
"Thập
niên hồ hải qui lai mộng
Nhất
kỉnh yên hoa tự tại thiên! "
(Một
cảnh khói hoa trời tự tại ,
Mười
năm hồ hải giấc qui lai!)
"
Giai sĩ từ bi ninh thị phật,
Sơn
ông danh tự bán nghi tiên !"
(Đây
học trò lành âu cũng Phật,
Đó
ông núi gọi nửa ngờ tiên !)
Lại
đề một câu liễn nhỏ tại nơi ở là ngôi nhà nhỏ cạnh
ngôi chùa :
"
Thạch thất niên thiên huỳnh hổ ngoạ,
Hoạ
trì thập nguyệt bạch liên khai"
(Nhà
đá cọp vàng nằm ngàn thuở
Ao
hoa sen trắng nở đầu đông)
Đó
là tả cảnh thật. Ở núi rỗi việc, bèn sưu cầu di tích
của Sơn ông, chẳng có văn bia làm chứng, chỉ tìm được
giấy rách sách nát có đề năm ghi tháng, tham khảo sách Đại
Việt Sử Ký cùng thực lục tiền biên của bản triều (đối
chiếu với tàn chỉ tệ biên) để tìm chứng cứ đích xác,
được điều nào ghi điều nấy. Lại được hơn 200 tấm
ván khắc trọn một bộ "Pháp hoa kinh giải" cùng con dấu riêng
bằng đá quí, khắc: "Bán sơn trung tự = chùa ở lưng chừng
núi" khắc "Khai sơn Dũng Tuyển tự = lập nên chùa dũng tuyển".
Khắc: "Nhân hiệu sơn Ông = người có tên hiệu là Sơn Ông",
khắc: "Thạch trung kiến ngã = tìm ra trong đá", khắc: "Tĩnh
phương = nơi yên tĩnh", khắc: "Tịnh tính = tính vắng lặng
", khắc: "Thạch thất = nhà đá". Tất cả được 7 cái, lối
chữ triện rất xưa. Tấn tôi lau sạch bụi, đặt vào tráp
nhỏ cùng một bản hộ "Pháp hoa kinh giải" giao cho tự tăng
cất giữ cẩn thận. Cũng có đôi ba tờ giấy có dấu chữ
Sơn Ông để vịnh như tự tăng chẳng biết đã lấy bồi
bức mà vẽ tượng! Tấn tôi lật bề lưng bức tượng mà
xem, phần lớn chữ hiện rõ nhưng không hiểu, thật đáng
tiếc! Năm Ất vị niên hiệu Thành Thái (1895) Tấn tôi thư
Thượng thư bộ công, đem chuyện chùa Linh phong tâu lên Tây
Cung để cầu xin ấn chỉ Tây Cung lệnh xuất kho trong cung
70 lạng bạc, sai tỉnh thành quyên thêm người trong tỉnh được
bao nhiêu thì gọp chung với số bạc đã ban mà đốc thúc
việc trùng tu chùa. Tháng tám năm Đinh Dậu, nhằm năm thứ
9 niên hiệu Thành Thái thì lạc thành. Tấn tôi chưa thể về
thăm nhưng theo lời người làng ra, ai cũng nói : "Quang cảnh
chùa Linh Phong nay trở nên sáng sủa và mới mẻ!" Đáng mừng!
Đáng yên tâm! Nhân rổi việc sổ sách tại bộ lược thuật
những nét chính, sai các con là Thoại Thạch Nhữ Tuyên ghi
lấy, vì chùa Linh Phong là phương tiện nhỏ đưa người đến
giác ngộ (nên phải viết) để sự tích chùa khỏi bị vùi
lấp chứ chẳng phải làm văn vậy ./.
http://www.thuvienbinhdinh.com/