CHÙA
NAM LONG
Thứ
ba, 6/12/2005, 09:53 GMT+7
Chùa
Nam Long ở Láng Linh, Bảy Thưa (An Giang) quá khứ và hiện tại
Tại
ấp Hưng Trung thuộc xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú, tỉnh
An Giang ngày nay, nằm bên bờ rạch Cốc là ngôi Nam Long tự.
Đó là một ngôi chùa nhỏ, kiến trúc đơn sơ với mái thiếc
và vách ván, được xây dựng dạng nhà sàn chống lũ cho phù
hợp với vùng đất thấp thuộc khu vực trũng nhất của tỉnh
An Giang.
Vào
nửa cuối thế kỉ XIX, chùa được dựng lên để che mắt
giặc Pháp, tránh sự ruồng bố và phá rối căn cứ kháng
chiến chống Pháp của Đức Cố Quản Trần Văn Thành(1) sau
cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa. Năm 1930, để giữ lại vết tích
quan trọng của Đức Cố Quản, chùa được người trụ trì
là Nguyễn Hiền Lương, còn gọi là ông Chín Tửu, pháp danh
Nhựt Tảo trùng tu.
Ngôi
chùa được kết cấu dạng 4 mái, tạo chính điện bên trong
có hình vuông, với 4 cột nên người dân thường gọi cấu
trúc sườn mái theo dạng tứ trụ hay tứ tượng. Đây là
một ngôi chính điện có bày trí khá đặc biệt với 3 bàn
tam cấp nối liền nhau. Mặt vách chính điện trên cao là bức
hoành ghi 4 chữ: "Đại hùng bửu điện". Thấp hơn là bức
trướng bằng vải đỏ ghi 4 chữ Hán đọc từ phải
sang: Bửu Sơn Kỳ Hương. Có tất cả 5 bài vị được thờ
tại bàn tam cấp này. Bàn cao nhất của chính điện là một
long vị bằng gỗ, chạm khắc tinh xảo, ghi 8 chữ Hán theo
hàng dọc: "Cung thỉnh Bửu Sơn Kỳ Hương chứng minh". Bàn
tiếp theo ở bậc thấp hơn là nơi đặt bài vị gỗ đơn
sơ bằng chữ Hán: "Nam mô Cửu Huyền Bá tánh chi vị". Dưới
bài vị này là một bài vị gỗ, nền vàng, ghi chữ Hán màu
đỏ, viết thành hai hàng dọc. Đầu bài vị đọc từ phải
sang trái là hai chữ Nam mô. Hàng dọc bên phải gồm 4 chữ
Trần phủ Đức Ông. Hàng dọc thứ hai bên trái là 4 chữ:
Nguyễn phủ Đức Bà. Cuối bài vị là 2 chữ Hán ở giữa
đọc từ trên xuống: Chi vị.
Bài
vị thứ tư được xếp chồng lên bài vị thứ năm, được
đặt ở bàn thấp nhất. Đây thực ra là một bộ ván gõ,
bề dầy mặt ván khá cao. Bài vị bên trong bằng sơn mài cẩn
xà cừ các chữ Hán và hoa văn hình học gồm 3 chữ Hán theo
hàng dọc "Vạn Thọ Đường" kích thước lớn. Hai bên là
hai câu đối, mỗi bên 7 chữ Hán. Đặt chồng lên phía ngoài
bài vị này là một bài vị kích thước nhỏ hơn, nền vàng,
ghi chữ Hán-Nôm màu đỏ từ trên xuống gồm 9 chữ: "Nam mô
Trần phủ đức Cậu Hai chi vị". Phía trước chính điện,
làm nền cho các bài vị là tấm trần điều che phủ gần
hết phần vách chính điện. Hai bên vách phía trên trang trí
hai cặp quạt, mỗi bên gồm một cây lớn và một cây nhỏ,
được làm bằng lông sếu. Dưới hai quạt này còn đặt hai
quạt vải đỏ, viền len xanh. Quạt có hình tròn, cán là cọng
sắt uốn theo hình tam giác cân. Nền quạt ghi 5 chữ: "Việt
Nam đại cường quốc" bằng chữ Hán, thành hai hàng ngang dọc.
Giữa bài vị thờ đức Ông và đức Bà là 2 ảnh màu vẽ
trên kiếng, hình Quan Công với Quan Bình và Châu Xương. Lư
hương, chân đèn, chân chò, giàn đựng đũa và tô, chén cũng
được đặt thờ. Được biết đây là những hiện vật đào
được trong lần trùng tu chùa khi đào đất dựng cột vào
năm 1930. Các hiện vật tìm được dưới nền chùa là những
đồ gia dụng gồm 2 tô lớn, 1 chén, 1 đĩa nhỏ và 1 chun trà(2)
đều có ghi dưới đáy 2 chữ Nội phủ và chữ Ngọc.
Dọc
hai bên bàn thờ là giàn đặt bát bửu. Đối diện với bàn
thờ chính điện là một bàn thờ nhỏ, đặt hướng vào chính
điện. Trước kia đây là nơi đặt thờ Năm Ông, nay dành
thờ Tam Hoàng. Phía trên bàn này là tấm hoành phi ghi 4 chữ:
"Phật Nhật Quang Huy". Góc trái chùa có đặt đại hồng chung
còn khá mới ghi 4 chữ Hán: Xuân, Hạ, Thu, Đông ở 4 núm,
nơi dóng chuông. Về phía phải chính điện là bàn thờ dành
cho Cửu Huyền của vị trụ trì chùa. Hiện người trông nom
chùa là một cư sĩ(3).
Khảo
sát khá kĩ vị trí chùa Nam Long cũng như nghi thức thờ, cúng,
các ngày cúng trong năm, hiện vật đặt thờ... đã cung cấp
cho chúng ta những cứ liệu quan trọng, góp phần khẳng định
thêm, làm rõ hơn các dữ liệu, sự kiện ở một số công
trình đã công bố trước đây về Trần Vạn Thành, về địa
điểm đặt đại bản doanh, tổng hành dinh, căn cứ kháng
chiến chống Pháp của khởi nghĩa Bảy Thưa.
1.
Về vị trí đại đồn Hưng Trung
Tháng
6 năm 1867, sáu tỉnh Nam Kỳ nhanh chóng rơi vào tay Pháp. Trước
đây, từ sau sự hình thành của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương,
Trần Văn Thành đã cầm đầu một nhóm tín đồ đi vào vùng
Láng Linh khai hoang lập ấp, nên ông rất thông thạo địa
hình nơi này. Vì vậy, sau khi Pháp chiếm các tỉnh Nam Kỳ
và bắt đầu đưa chiến hạm, dàn mặt trận, chĩa đại bác
vào thành An Giang, Trần Văn Thành đã có những trận giao chiến
đầu tiên với Pháp từ đầu năm 1868. Ông cùng gia đình và
nghĩa quân – binh Gia Nghị – rút vào rừng Bảy Thưa để
xây dựng căn cứ kháng chiến. Một hệ thống đồn được
dựng lên, tạo thành căn cứ địa rộng lớn tại khu vực
Láng Linh bao gồm: "Đại đồn Hưng Trung nằm giữa, chung quanh
có các đồn khác bao bọc, giữ gìn. Phía tả có đồn Cái
Môn nằm giữa hai đìa Nanh Heo và Dày Trăm thuộc xã Thạnh
Mỹ Tây. Phía hữu có đồn Giồng Nghệ thuộc xã Vĩnh Hanh
(H. Châu Thành). Phía trước có đồn Hờ (Vàm Cái Dầu –
H. Châu Phú). Phía sau có trạm canh Ông Tà (Tân Cương, H. Tri
Tôn). Về phía Tây Bắc gần đồn Cái Môn có đồn Lương
(ấp Long Châu 3, xã Thạnh Mỹ Tây(4). Theo tài liệu của Trần
Văn Đông, “đại đồn Hưng Trung nay thuộc xã Đào Hữu Cảnh,
huyện Châu Phú. Nhân dân quanh vùng thường gọi Cốc Ông Đạo
Cậy (vì ông Cậy cất cốc tại đây)’(5). Một ý kiến khác
cho rằng: "Tổng hành dinh đặt tại trung tâm rừng Bảy Thưa,
đặt tên là đồn Hưng Trung. Qua khảo sát thực địa, qua
kí ức các bô lão, đối chiếu với bản đồ hành chính hiện
nay thì đồn Hưng Trung nằm trên nền chùa Nam Long hiện thuộc
xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang"(6).
2.
Nền chùa Nam Long trước đây
Qua
hai ý kiến nêu trên, đồn Hưng Trung có vị trí khác nhau.
Như vậy, để có căn cứ xác định được vị trí của đồn
Hưng Trung, cần xét đến vai trò của chùa Nam Long. Dựa trên
những cứ liệu quan trọng về ngôi chùa, cách bày trí, cùng
hiện vật đào được tại nền chùa đã cho thấy chùa Nam
Long có những đặc điểm gợi cho chúng ta thấy rõ hơn vị
trí của ngôi chùa sau cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa. Có thể
nghĩ rằng, trước đây, trên nền chùa hiện nay đã có một
ngôi nhà nhỏ. Ngôi nhà này, qua các hiện vật đào được,
cho thấy chủ nhân của nó phải là một quan lớn của triều
đình, hoặc có mối quan hệ thân thiết với triều đình và
được vua ban tặng. Các loại tô chén ấy là những mặt hàng
gốm sứ Trung Quốc, được sản xuất theo đơn đặt hàng
của Việt Nam. Đây là những hiện vật được sử dụng phổ
biến trong triều đình nhà Nguyễn, đặc biệt là dưới triều
vua Tự Đức. Hai chữ Nội phủ dưới đáy hiện vật cho thấy
điều đó. Đáy hiện vật cũng giới thiệu tên lò gốm Ngọc
ở Trung Quốc. Nền đất đào được các hiện vật nói trên
nằm cách đại bản doanh, tức đồn Hưng Trung 500 mét (nơi
mà sau này ông Đạo Cậy đã đến dựng cốc lá). Như vậy,
nền chùa trước đây có thể là ngôi nhà mà ông Trần Văn
Thành và vợ là bà Nguyễn Thị Thạnh đã lưu trú trong thời
gian điều hành cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa. Giai đoạn ấy
thuộc đời vua Tự Đức. Các hiện vật đào được đều
thuộc giai đoạn này. Trần Văn Thành, thủ lĩnh đội binh
Gia Nghị, người cầm đầu phong trào kháng chiến chống Pháp
đặt địa điểm cư trú gần đại bản doanh, tổng hành dinh,
tức đại đồn Hưng Trung ấy, hiện nay là địa điểm cốc
Ông Đạo Cậy, như Trần Văn Đông nhận xét. Còn Nam Long tự
là nơi cư trú của ông bà, vì vậy nó trở thành một địa
điểm lịch sử quan trọng, nên sau cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa,
nhóm nghĩa quân trốn thoát phải tìm mọi cách giữ gìn lại
vết tích của nó. Chùa Nam Long, do vậy được dựng lên như
một bình phong để duy trì một di tích lịch sử quan trọng
của An Giang, nơi có dấu ấn cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa, từ
đấy xuất phát ra những chỉ đạo quan trọng có tính quyết
định đối với cuộc kháng chiến chống Pháp. Chính vì vậy
mà không phải ngẫu nhiên, bên trong chính điện ta tìm thấy
bài vị thờ Trần Văn Thành được ghi với một nội dung
khá khác biệt hơn so với các nơi khác. Đó là việc thừa
nhận đây là phủ ông và phủ bà: Nam mô Trần phủ đức
ông, Nguyễn phủ đức bà chi vị; Nam mô Trần phủ đức cậu
Hai chi vị(7).
Cặp
quạt và bộ ván gõ có lẽ là vật sử dụng trước đây
của ông và bà Trần Văn Thành, nay được đặt thờ trang
nghiêm trên chính điện. Ngoài 3 ngày cúng các rằm lớn trong
năm (rằm tháng giêng, tháng 7, tháng 10), vía Phật Thầy Tây
An (11, 12/8), những ngày cúng khác tại chùa Nam Long chủ yếu
cũng là những ngày giỗ của ông Trần Văn Thành (21, 22/2)(8),
bà Nguyễn Thị Thạnh (5/5), ông Trần Văn Nhu (con trưởng của
ông bà, giỗ ngày 24, 25/3 âm lịch)... Điều này cho thấy đây
là địa điểm kỉ niệm nơi cư trú xưa kia, là phủ của
Quản Cơ Trần Vạn Thành chứ không phải là ngôi chùa thuần
tuý thuộc giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Bài vị cao nhất
trên chính điện đã ghi: Bửu Sơn Kỳ Hương chứng minh!
3.
Chùa Nam Long, sau cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa đã được dựng
lên để làm bình phong che mắt giặc Pháp, tránh sự ruồng
bố, phá rối của chúng, và trên hết là nhằm vào việc giữ
gìn di tích cũ một cách trọn vẹn. Người có nhiệm vụ giữ
vững ngôi chùa ấy đã đặt tên cho địa điểm này là Nam
Long tự (Chùa của rồng ở phương Nam). Do xuất phát từ mục
đích ấy và nguồn gốc giáo lí của đạo giáo Bửu Sơn Kỳ
Hương nên chùa không thờ Phật. Tất cả những bày trí, từ
trần điều đến long vị được đặt thờ sau năm 1930 là
hoàn toàn theo nghi thức của Bửu Sơn Kỳ Hương, một đạo
giáo mà Trần Văn Thành chính là người đã được trao truyền
để tiếp nối vẻ vang nền đạo sau khi Phật Thầy Tây An
tịch diệt.
4.
Ngoài dấu ấn của việc thờ tự, chúng ta cũng tìm thấy
trên vách chính điện 5 tư liệu quan trọng, đó là bản sao
văn bằng phong cho ông Nguyễn Kế Trung làm chức chính đề
đốc, ghi năm "Tự Đức nhị thập bát niên" (tức năm 1875-THL);
bản gốc hộ giới điệp bằng chữ Hán; bản gốc lòng phái
thế độ của ông Nguyễn Hiền Lương (tức người trụ trì
chùa Nam Long trước đây) bằng chữ Việt; hai bản gốc lòng
phái thế độ do Tỉnh Hội Lục Hoà Phật Tử cấp, ghi hai
thứ chữ Hán và Việt. Trong thời gian trụ trì, ông Nguyễn
Hiền Lương đã dùng hình thức đi cúng đám, giúp đỡ bà
con trong vùng khi có nhu cầu cầu siêu cho thân nhân quá vãng.
Trong chùa vẫn còn giữ lại một con dấu bằng đồng,
hình tròn, ghi 4 chữ Hán Vãng sanh thần chú. Đây là chứng
cứ cho thấy việc sử dụng bản in này dùng làm sớ cầu
siêu những năm sau khi trùng tu chùa là khá phổ biến, và đồ
hình khắc trên con dấu này còn mang ảnh hưởng của Phật
giáo Mật tông.
Tóm
lại, căn cứ vào những hiện vật đào được, qua nghi thức
cúng lễ và thờ tự tại chùa Nam Long đã góp phần quan trọng
cho việc xác định vị trí đại bản doanh của cuộc khởi
nghĩa Bảy Thưa. Đó là địa điểm thuộc Cốc Ông Cậy hiện
nay, nằm cách chùa Nam Long 500 mét, băng qua con rạch Cốc nhỏ.
Chùa Nam Long trước đây là nơi cư trú của ông bà Trần Văn
Thành – Nguyễn Thị Thạnh để điều động cuộc khởi nghĩa
tại đại bản doanh gần đây! Kháng chiến Bảy Thưa kết
thúc, hai di tích quan trọng là tổng hành dinh và phủ của
ông bà đã được người dân– những tín đồ Bửu Sơn Kỳ
Hương– những nghĩa quân trong cơ Gia Nghị – tìm cách gìn
giữ, bảo vệ đến ngày nay, nhằm lưu giữ lại, qua việc
thờ tự, như một thông điệp cho thế hệ tiếp nối về
một truyền thống đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, chống ngoại
xâm, một tinh thần yêu nước nồng nàn, đầy tính dân tộc.
Điều đó được thể hiện và phát huy qua hình ảnh chiếc
quạt thờ ghi 5 chữ: Việt Nam đại cường quốc! Đó
là khát vọng của người dân Nam Bộ nói chung và nhân dân
An Giang nói riêng về hình ảnh của một nước Việt Nam hùng
mạnh và phát triển. Cơ sở và cội nguồn của niềm tin và
khát vọng ấy đã được hàng hàng lớp lớp anh hùng liệt
sĩ, qua bao thế kỉ, vì nước quên thân, hiến dâng máu xương
mình vì một tương lai tươi sáng của dân tộc./.
Trần
Hồng Liên (*)
____________________________
*.
TS. Viện Khoa học Xã hội Tp. Hồ Chí Minh.
1.
Nhiều tư liệu xưa nay đều gọi là Trần Văn Thành. Vì ông
được phong chức Quản Cơ, nên nhân dân gọi bằng từ vừa
thân mật, vừa kính trọng là Đức Cố Quản. Nhưng trong tư
liệu châu bản triều Nguyễn, như bản phong chức cho ông Nguyễn
Kế Trung (Nghĩa quân của Quản Cơ), đều dùng tên là Trần
Vạn Thành. Chúng tôi sẽ có bài viết riêng về tên gọi này
ở một bài nghiên cứu khác.
2.
Xem thêm chi tiết chất liệu, kích thước và mô tả hiện
vật trong bài tham luận: "Về các hiện vật bằng gốm sứ
đào được tại chùa Nam Long (An Giang)" Hội nghị Thông báo
Khảo Cổ học năm 2002. Viện Khảo cổ học, Hà Nội, tháng
9-2002.
3.
Nguyễn Văn Đại Táo gọi ông Nguyễn Hiền Lương là ông nội.
Hiện ông Táo là y sĩ tại Phòng Đông y xã Đào Hữu Cảnh,
Huyện Châu Phú, An Giang.
4.
Trần Văn Đông. Trần Văn Thành và cuộc khởi nghĩa Láng Linh
Bảy Thưa (1867-1873). Nxb. Tổng hợp An Giang, 1988, tr. 26.
5.
Trần Văn Đông. Sđd, tr. 26 (phần chú thích).
6.
Trần Thu Lương, Võ Thành Phương. Khởi nghĩa Bảy Thưa. Nxb.
Thành phố Hồ Chí Minh, 1991, tr.75.
7.
Đức Cậu Hai, chỉ ông Trần Văn Nhu, con trai trưởng của
Trần Văn Thành và bà Nguyễn Thị Thạnh, người có công lớn
trong việc giúp cha điều hành khởi nghĩa và nền đạo Bửu
Sơn Kỳ Hương sau khi Trần Văn Thành vắng bóng.
8.
Đây chưa hẳn là ngày chết của Trần Văn Thành, nhưng người
dân tổ chức để kỉ niệm ngày ông vắng bóng.
Tạp
chí Nghiên cứu Tôn giáo (Số 3(27)/2004)