21.
Bầy Chim Chôn Cất Vị Ân Nhân
Có
một người sống cô độc trong một túp lều tranh. Ông tên
là Tôn Lương, vốn là người trung hậu, bản tính nhân từ,
cuộc sống thanh bần đạm bạc. Ông đi lầm thuê, thấy người
ta bắt nhốt một bầy chim trong lồng, động mối từ tâm,
có bao nhiêu tiền công, ông dốc ra mua tất cả, rồi đem thả
chúng vào rừng hoang. Trải qua bao năm, không hiểu ông thả
được bao nhiêu chim mà vẫn nghèo kiết xác. Sau đó, tuổi
tác ông càng ngày càng cao, ông phải đi xin ăn kiếm sống
qua ngày. Vào một buổi sớm mai năm ông bảy mươi tuổi, ông
cảm thấy thân thể bải hoải, bèn nằm thẳng cẳng trên
giường, rồi vĩnh viễn từ giã cõi đời.
Tôn
Lương vốn không có thân nhân bằng hữu, gia thế lại bần
hàn, không có được một chiếc quan tài để chôn cất tử
tế, nên đành nằm không trên giường, trong một tình trạng
hết sức thê lương.
Vào
một buổi sáng sớm sau hai ngày ông qua đời, bỗng nhiên có
một bầy chim từ đâu bay đến bàng bạc trên bầu trời,
bay thẳng vào trong lều tranh của Tôn Lương. Những người
ở gần đó thấy thế lấy làm lạ kéo nhau tới trước nhà
ông để xem. Họ ngỡ rằng bầy chim bay đến đó để xơi
thịt Tôn Lương; nào ngờ chúng tha đất đến chôn cất vị
ân nhân đã cứu mạng chúng.
Bầy
chim này đông hàng vạn con, bay đi bay lại như con thoi, nên
chẳng bao lâu chúng đã tha đất lấp đầy ngôi nhà tranh để
chôn cất Tôn Lương.
Đến
khi ấy, mọi người trong làng mới biết ông ta suốt đời
từng làm việc thiện, nên được bầy chim chôn cất một
cách lạ lùng như thế. Từ đó trở đi dâng làng càng hiểu
rõ công đức của sự phóng sinh là vô cùng cao quý.
22.
Nhờ Phóng Sinh Mà Khỏi Chết Chìm
Vào
đời nhà Tấn có một người tên là Mao Bảo. Ông là một
nho sinh, tính tình nhân từ, tâm trí thông tuệ. Lúc chưa làm
quan, một hôm đang đi trên đường, ông bỗng thấy một ngư
phủ tay xách một con rùa, hăm hở ra chợ bán. Mao Bảo lập
tức xuất tiền ra mua con rùa ấy, rồi đem thả xuống sông.
Về sau, ông làm đến chức tướng quân, sự nghiệp rực rỡ
một thời.
Có
một lần cầm quân ra trận, ông cùng quân địch giao chiến.
Nhưng quân ông yếu thế, bị thua to, quân lính bỏ chạy tán
loạn. Quân địch hung hãn đuổi theo rất gấp. Mao Bảo chạy
lạc đến một dòng sông, nhưng nơi đây không có thuyền,
cũng không có cầu để đi qua. Ông nhìn lại phía sau thì thấy
bụi bay mịt trời, truy binh đang đuổi đến. Mao Bảo long
dạ như lửa đốt, hoang mang vô cùng, ngửa mặt lên trời
than thở: "Trời hại ta rồi!".
Vừa
dứt tiếng than, ông định rút gươm tự sát để đền nợ
nước. Nào hay, mặt nước bỗng nổi sóng cuồn cuộn, rồi
một vật lạ nổi lên, theo sóng bơi bào phía ông. Khi nó đến
bên bờ sông thì vừa lúc quân địch cũng đã đến gần.
Trong tình huống nguy cấp như lửa cháy này, Mao Bảo thầm
nghĩ: "Thà chôn thân vào bụng cá chứ quyết không để cho
quân địch bắt sống mà phải chịu nhục. "Nghĩ thế rồi,
ông vươn mình nhảy xuống nước.
Khi
đang ngoi ngóp trong dòng nứơc, ông bỗng cảm thấy dưới
chân có vật gì đỡ ông lên, rồi nương theo làn sóng bơi
gấp vào bờ bên kia. Ông lấy làm quái lạ, hốt hoảng ngoái
đầu nhìn lại phía sau, thì thấy quân địch đã đến sát
bờ sông. Chúng bắn theo như mưa, nhưng tất cả tên đều
rơi xuống nước, Mao Bảo chẳng hề hấn gì. Thoắt chốc
đã đến bờ bên kia, Mao Bảo tung chân nhảy lên bờ, cón
con rùa đen hướng về ông, gật đầu chào rồi lặng lẽ
bơi đi. Bấy giờ Mao Bảo mới nhớ lại chuyện xảy ra cách
đây khoảng mười năm. Lúc ấy, ông có mua một con rùa đen,
đem thả xuống sông. Có lẽ vì thế mà giờ đây nó đến
cứu ông. Nghĩ đến lòng tri ân của loài vật, tâm hồn ông
dâng lên một niềm cảm động vô vàn.
23.
Nhờ Cứu Loài Ong Mà Thoát Khỏi Tử Hình
Một
hôm, ông chủ quán bán rượu trông thấy một con ong mật sa
vào trong hũ rượu, long ông cảm thấy thương xót, liền dung
một que tre vớt nó ra ngoài. Chẳngmấy chốc, mình ong khô
nuớc cánh ong cứng lại, nó liền vươn cánh kêu vo ve mấy
tiếng, rồi tung cánh bay đi.
Từ
ấy trở đi, hễ thấy con ong mật nào rơi vào hũ rượu, ông
đều cứu chúng thoát chết.
Cách
vài năm sau, bỗng nhiên một hôm, lính từ đâu xông đến
quán ông, chúng chẳng hỏi mô tê ất giáp gì hết, mà bắt
ông còng hai tay lại, rồi dẫn lên cửa quan. Bấy giờ ông
mới biết mình bị kẻ gian vu cáo, nhưng không có cách nào
biện bạch đựơc nỗi oan tình. Đến khi vị quan thẩm quán
cầm bút định kết ông vào tội tử hình thì đột nhiên
nghe vang cả tiếng ong từ xa vang lại, càng lúc càng rõ dần.
Chẳng mấy chốc, cả bầy ong vương cánh bay đến, chúng lần
lượt đâm đầu vào ngòi bút son của viên thẩm phán. Quan
đuổi mấy chúng cũng chẳng chịu đi, mà càng lúc lại càng
bay đến nhiều hơn, khiến cho long quan băn khoăn, lấy làm
quái lạ. Thấy tình hình như thế, viên thẩm phán đoán rằng
tên tiểu bảo kia nhất định bị kẻ gian phi vu cáo. Thế
rồi ông goại kẻ tố cáo kia đến thẩm tra lại, thì phát
giác ra lời tố cáo của y trước sau đều mâu thuẫn. Do đó,
ông tra hỏi lại thật cặn kẽ thì hay tên tiểu bảo kia với
tên gian phi ấy chẳng có dây mơ rễ má gì với nhau hết,
mà y chỉ dựng chuyện để vu oan giá họa cho người ta.
Bấy
giờ viên phán quan mới khẳng định người tiểu bảo kia
quả thực là vô tội. Bầy ong lúc này cũng rã đám vút đi.
Viên
phán quan liền hỏi kỹ tên tiểu bảo do nguyên nhân gì mà
có chuyện lạ như thế, thì tên tiểu bảo cứ tình thực
trình bày lại việc nhân đức mà trước kia mình đã làm.
Bấy giờ viên phán quan mới rõ anh ta là người long thiện,
bình sinh ưa tạo phúc và vui sống theo đạo lý của thánh
hiền, nên quan nói: "Thật khó nghĩ rằng do anh cứu bầy ong
thoát khỏi chết đuối mà nay chúng bay đến đểu cứu mạng
cho anh. Vậy từ nay trở đi anh nên làm nhiều việc phúc thiện
hơn nữa, thì sau này sẽ hưởng được những quả phúc tốt
lành".
Người
chủ quán về sau trở nên phát đạt, tài sản hàng trăm vạn,
suốt đời chăm làm việc thiện, tuổi thọ rất cao, không
bệnh mà chết một cách an lành.
24.
Hồn Lên Cõi Trời
Ngày
xưa, tại một vùng kia, có một viên tiểu lại họ Trương
vốn là người phụ tá cho quan Huyện. Ông Trương tính tình
ôn hòa nhưng cương trực, ưa làm việc thiện, thường dùng
số tiền lương của mình đến lò sát sinh, mua những con vật
sắp bị giết đem về để nuôi chúng.
Tuy
là một viên quan tiểu lại, nhưng gia cảnh của ông cũng khá
giả, mỗi ngày trở nên giàu có, con cháu đông đúc vui vầy.
Do đó, việc làm phúc thiện của ông không bị gián đoạn
mà càng ngày càng thêm gia tăng. Về sau, đến tuổi về hưu,
ông trở về sống với gia đình, mỗi khi thấy con vật nào
chết, ông liền đem chôn cất tử tế. Những người hàng
xóm thấy thế, cho ông là một tên gàn điên, nhưng ông vẫn
thản nhiên, mặc cho thiên hạ đàm tiếu, chẳng cần quan tâm
đến. Trái lại, ông thường dạy con cháu không được sát
sinh, và khuyên cả nhà đều ăn chay lạt.
Vì
ông đã từng cứu sống sinh vật rất nhiều nên đến tuổi
cổ lai hy (bảy mươi tuổi) mà sức lực của ông vẫn khang
kiện như người còn trẻ. Về cuối đời, lúc ông răm tuổi,
một hôm ông cho gọi người nhà tập họp lại, với gương
mặt tươi sáng, tinh thần quắc thước, ông nói với mọi
người: "Cả đời ta từng phóng sinh rất nhiều, chứa đức
sâu dày, nên nay Thiên đế cho người đến rước. Nhà họ
Trương ta từ nay trở đi ngày càng thịnh vượng, con cháu
đều đựơc vui hưỡng tuổi trời. Sau khi ta qua đời, các
ngươi phải vâng lời di chúc, không được hại vật sát sinh".
Nói
xong thì từ từ nhắm mắt. Mọi người nghe trên không trung
tiếng nhạc kêu vang, âm thanh rất êm tai. Tiếng nhạc ấy
mỗi lúc mỗi gần, con cháu trong nhà đều ngước mắt lên
xem. Thế rồi, chẳng mấy chốc, tiếng nhạc lại xa dần.
Mọi người nhìn lại ông, thì thấy ông đã vĩnh viễn an
giấc ngàn thu nhưng dung nhan vẫn như người còn sống. Tin
ông chết loan đến triều đình, nhà vua bèn gia phong ông tước
hiệu Viên ngoại lang. Về sau, con cháu ông nhiều đời đều
dốc long làm theo lời di huấn.
25.
Người Giữ Lưới Săn Thả Thỏ Chạy
Đức
Lục Tổ Huệ Năng là một bậc cao Tăng đức độ. Sau khi
nhận được tâm ấn tại Hoàng Mai, Ngài liền đi ở ẩn.
Nhân quan sát thấy cảnh sinh hoạt của người đời, Ngài
nhận thấy phân nửa nhân loại vì gây tội sát sinh, nên phải
chuốc lấy quả báo đau khổ muôn trùng, khó có ngày nào tránh
khỏi. Ngài thường khuyên họ không nên sát sinh để tránh
đau khổ, nhưng họ lại mê muội, chấp trước không hề thức
tỉnh.
Nhân
thấy các thợ săn sát hại quá nhiều sinh linh, trong long cảm
thấy bất nhẫn, nên Lục Tổ cải trang thành kẻ thế tục,
ẩn mình trong đám thợ săn. Do thế, bọn họ sai Ngài giữ
lưới. Đó là cơ hội tốt nhất để thực hiện hoài bão
của Ngài. Mỗi lần bọn thợ săn bắt được ác loài chương,
thỏ, trông vẻ mặt thê lương của chúng, lòng Ngài quặn
thắt, ảo não xúc động, âm thầm rơi lệ.
Cứ
mỗi lần chương hay thỏ sa vào lưới, mà có thể cứu được,
thì Ngài đều tìm cách thả chúng chạy thoát. Sống chung với
bọn thợ săn như thế suốt mười năm trường, Ngài mới
cảm hóa được bọn họ, khiến họ thay đổi nghề nghiệp.
Thế rồi không lâu sau đó, Ngài trở về chùa Bảo Lâm, chủ
trì đạo tràng Tào Khê, rộng độ quần sinh. Danh sĩ khắp
nơi nghe đến đức vọng của Ngài, đều lũ lượt kéo về
Tào Khê lễ bái, thờ Ngài lầm thầy, quy y thọ giáo. Về
sau, ngọn tuệ đăng kế thừa Lục Tổ được chia làm năm
cánh, ân đức đượm khắp mười phương, khiến cho hàng tăm
triệu người hướng về tôn thờ và ngưỡng mộ.
26.
Đem Chôn Thịt Biếu
Cách
đây rất lâu, tại huyện Tuyên thành có một người tên Dữu
Bản Thục, xưa nay vốn không ăn thịt bò. Vì thế, khi có
người nào mang thịt bò đến biếu thì ông đem cho tôi tớ
dùng, nghĩ rằng làm như thế là vô tội. Bỗng một hôm, Dữu
Bản Thục lâm bệnh, thầy thuốc bèn dùng não bò hòa với
thuốc cho ông uống. Thế rồi, đêm ấy ông nằm mộng, thấy
một vị thần mặc áo gấm đến trước ông quát nạt:
- "Ngươi
là kẻ ăn thịt bò, nếu không thì tại sao toàn thân ngươi
xông lên mùi hôi hám như vậy?"
- "Đâu
có! Lâu nay tôi chưa từng ăn thịt bò bao giờ!", Dữu Bản
Thục quay đầu lại đáp.
Vị
thần mặc áo gấm bèn bảo kẻ tùy tùng kiểm tra lại số
ghi chép, rồi nói: "Tuy ngươi không ăn thịt bò, nhưng vì bệnh
mà phá giới, lại còn đem thịt bò cho bọn tôi tớ ăn, lẽ
ra ta phahi giảm bớt tuổi thọ của ngươi, nhưng niệm tình
ngươi đã có long hối cải, vả lại, cũng nhằm để khuyến
khích mọi người không nên ăn thịt bò, vì thế, ta tạm thời
tha cho ngươi khỏi chết".
"Giả
sử có người khác lại đem thịt bò cho tôi nữa thì sẽ
xử trí thế nào?". Dữu Bản Thục hỏi lại.
Vị
thần mỉm cười đáp: "Đem chôn đi là được thôi! Chỉ sợ
tâm ngươi không kiên trì, chứ lo gì không thể làm được
việc thiện tốt hơn trước!"
Dữu
Bản Thục chợt tỉnh giấc, hóa ra vừa rồi chỉ là một
giấc mộng, bèn chép lại câu chuyện trong giấc mộng ấy
để khuyến cáo mọi người cùng làm việc thiện.
27.
Công Đức Chép Kinh Giải Được Oan Gia
Vào
đời Đường có một người họ Phan tên Quả, ở tại kinh
đô. Lúc còn trẻ, tính tình ông nhân từ, không hiểm ác;
hơn nữa, nhờ biết được chút ít võ nghệ, nên xin được
chút ít võ nghệ, nên xin được một châu Tiểu lại ở tại
huyện đường. Do đó, Quả thường giao du với một số thanh
niên đồng lứa.
Một
ngày kia, trông thấy một con dê mà người chăn dê bỏ sót
lại tại bãi tha ma, nó đang ăn cỏ và lá cây, phan Quả bèn
họp cùng bè bạn bắt dê đem về nhà. Lúc đi dọc đường,
Dê cất tiếng kêu be be, Quả hoảng quá, sợ chủ nó nghe được,
bèn cắt đứt lưỡi dê, và tự cho mình có cơ trí hơn người,
xử lý công việc một cách độc đáo.
Sau
khi dắt dê về tới nhà, Quả cùng bè bạn đem ra làm thịt,
bày tiệc rượu nhậu nhẹt vui vẻ với nhau. Nào hay đâu,
một năm sau, Phan Quả đột nhiên phát hiện lưỡi mình dần
dần teo nhỏ, nói năng ngọng nghịu. Quả biết mình mắc bệnh
kỳ quặc, mang phải ác tật, liền xin từ chức Tiểu lại.
Thế
nhưng, quan Huyện lệnh Phú Bình là Trịnh Dư Khánh nghi y có
điều gì man trá, bèn gọi đến khám nghiệm, thì quả thực,
lưỡi y gần như biến mất, chỉ còn nhỏ xíu như hạt đậu.
Quan huyện liền hỏi nguyên nhân, Phan Quả dùng bút kể lại
đầu đuôi câu chuyện, biết vậy, viên quan huyện lệnh liền
bảo thuộc hạ của mình làm phúc cho dê, và sai Quả chép
kinh Pháp Hoa, Quả phát tâm kính tín, giữ gìn trai giới, vì
con dê tội nghiệp kia mà tu phước. Sau một năm, lưỡi của
y dần dần bình phục lại như trước.
Phan
Quả thấy thế cao hứng muôn phần, vội vã đến quan huyện
trình bày tất cả tự sự, và quan huyện cũng cựu kỳ thú
vị, liền thăng chức cho Quả. Viên quan huyện này vốn là
một vị quan thanh liêm, gần xa đều ca ngợi, nên măn Trinh
Quán thứ chín, ông được thăng đến Giám sát Ngự sử. Câu
chuyện này do ông kể lại, xem như một giai thoại để cho
mọi người cùng chiêm nghiệm.
28.
Ba Kẻ Câm Ngọng
Vào
đời Đường, tại một vùng kia có một nông phu, bản tính
rất độc địa. Một hôm vào giờ ngọ, y ra đồng thăm ruộng,
bỗng nhiên thấy một con trâu của hàng xóm, vừa ăn luá,
vừa giẫm đạp tơi bời đám ruộng của y, nổi giận xung
thiên, y mắng: "Ta vất vả lắm mới làm được đám lúa tươi
tốt như thế này, mà mi lại thản nhiên giẫm đạp lên, lại
còn ăn phá không thương tiếc. Hừm! Mi tưởng mi được sống
yên ổn mà không phải chịu sự trừng phát hay sao?"
Mắng
xong, cười khẩy vài tiếng rồi gằn giọng: "Ta không giết
mi tất nhiên mi lại ăn lúa của ta nữa, vậy ta phải cắt
lưỡi của mi vứt đi, thou xem mi còn dám ăn lúa của ta nữa
thôi!"
Con
trâu biết mình có lỗi, nên đứng cúi đầu chẳng dám ho
he gì hết; tên nông phu liền nắm chặt đầu trâu, rút ra
một con dao bén, cắt đứt lưỡi trâu. Bấy giời con trâu
lặng lẽ chịu đau, không kêu một tiếng nào cả.
Về
sau, người nông phu ấy lấy vợ, sinh được ba đứa con, nhưng
các đứa trẻ sau nửa năm biết nói, đột nhiên câm lặng.
Người
nông phu thống khổ vô cùng, chẳng hiểu nguyên nhân vì sao,
bèn đi tìm khắp danh y để chửa trị cho con, nhưng các thầy
thuốc đều bó tay, không thể chữa được. Bỗng nhiên, nhớ
lại cách đây khoảng mười năm, y đã cắt đứt lưỡi trâu,
phải chăng vì quả báo ấy mà con y phải chịu tai họa ngày
nay? Thế mới biết, lưới trời lống lộng, thiện ác phân
minh, người nông phu chịu khổ đã đành, còn các đứa bé
có lẽ đã gây một nghiệp duyên nào đó nên mới bị khổ
lây.
28.
Con Ba Ba Chữa Lành Bệnh Hiểm
Bỗng
nhiên nghe dưới nhà bếp có tiếng kêu ầm ĩ: "Bắt nó lại,
thả vào trong nồi!", Huỳnh Đức Hoàn vội đi tìm xem việc
gì đã xảy ra mà gây nên sự huyên náo như thế. Ông liền
bước xuống nhà bếp, thì thấy một con ba ba đang bò lồm
cồm trên mặt đất, trông có vẻ rất đáng thương. Ông liền
hỏi bọn đầu bếp vì sao vừa rồi chúng kêu la oai oái như
thế thì một trong những tên đầu bếp đáp: "Nhân vì bà
chủ nhà hầm con ba ba, nào hay nó nổi trên mặt nước, bò
ngược nơi cái rổ đậy trên miệng nồi, khiến phần lưng
bị phỏng nặng, chỉ còn hai chân và cái đầu là cựa quậy
được, nên nó làm rơi cái rổ xuống đất mà bò đi. Chúng
tôi thấy thế lấy làm lạ nên mới kêu la làm kinh động
đến ông chủ".
Huỳnh
Đức Hoàn lập tức sai người đem nó thả ngay xuống nước.
Thế rồi, từ đó trở đi ông không ăn thịt ba ba nữa, và
bắt đầu ăn chay một cách kiên trì. Khoảng một năm sau,
Huỳnh Đức Hoàn mắc một chứng bệnh nhiệt, bệnh tình khá
trầm trọng. Đến lúc sắp nguy kịch, người nhà bèn đưa
ông đến ở trong một ngôi nhà bên dòng sông để dưỡng
bệnh.
Một
đêm kia, ông bỗng thấy một vật gì nằng nặng đang bò chầm
chậm trên mình, làm cho thân thể mát mẻ dễ chịu, tinh thần
sảng khoái vô cùng. Đến sáng sớm, trong người ông hơi có
khí lạnh, nơi ngực lâng lâng thư sướng, nhìn kỹ thì nơi
lồng ngực có những vết bùn, ngay lúc ấy, dưới mặt đất
một con ba ba đang ngoái đầu nhìn lại ba lần, rồi từ từ
bò đi. Ngày hôm sau, bệnh của Huỳnh Đức Hoàn bình phục
đến chín phần.
Nếu
như khi ấy không có chuyện lạ xảy ra, thì e rằng giờ đây
ông đã ra người thiên cổ. Vì vậy, từ đó trở đi, ông
cấm người nhà không đựơc sát sinh. Về sau, ông thọ đến
tám mươi tuổi, không bệnh mà chết một cách an lành.
30.
Gà Mổ Mắt Cọp
Tại
đất Cù Châu có một viên Lý trưởng của một làng kia, ngày
thường cư xử với mọi người rất hòa ái, thân thiện,
nên được dân chúng trong làng hết lòng kính mến, ca ngợi.
Một
ngày kia, ông đến nhà một nông dân họ Hầu để thúc giục
tiến thuế. Ông nói: "Hầu huynh, xin anh nạp cho khoảng tiền
thuế năm ngoái, để tôi đem nạp quan trên".
Hầu
lão Nhị áy náy, cung kính nói: "Phương Tam Gia, há anh không
biegt rằng mùa thu hoạch năm nay, gia đình tôi bị mất mùa
khá nặng, quả tình không đủ tiền để nạp ngay được,
xin anh hoãn cho mươi bữa, nửa tháng, đặng tôi đem bán một
ít củi khô, thì may ra mới có tiền mà nạp". Viện Lý trưởng
cúi đầu thở nhẹ, đưa mắt trông ra ngoài cửa sổ viề
phía ven rừng, thì bỗng thấy chập chờn hình bóng một cô
gái áo vàng từ xa hướng đến chào mình. Trong lòng lấy làm
kì lạ, lại nghe tiếng kêu của con gà mái, ông chợt hiểu
rằng cô gái áo vàng kia có lẽ là hóa thân của con gà mái
nọ. Do đó, ông căn dặn Hầu lão nhị đừng giết con gà
mái ấy.
Năm
sau, viên Lý trưởng đến nhà đó thu thuế. Bấy giờ, gà
mẹ lại dẫn đàn gà con ra nghênh đón ông ở ven bờ rào.
Thu thuế xong, ông từ biệt ra về, khi qua khỏi một con suối
nhỏ, đến một dãy núi gần đó, đột nhiên một con cọp
dữ từ đâu phóng đến. Phương Tam Tùng kinh hoàng, chân cẳng
luống cuống, than mình co quắp, chỉ còn biết nhắm mắt chờ
chết. Ngay giây phút nguy kịch ấy, gà mẹ bèn xua đàn gà
con xông đến trước mãnh hổ. Gà mẹ mổ vào mắt cọp, làm
cho cọp già đau đớn, ôm lấy vết thương, bỏ chạy thụt
mạng.
Giật
mình tỉnh dậy, hóa ra vừa rồi chỉ là một giấc mộng.
Phương Tam Tùng vô cùng cảm kích, liền xuất tiền ra mua gà
mẹ và bầy gà con đem về nhà để nuôi chúng