1.
Nai Mẹ Thương Con Đứt Ruột
Rừng
hoang vắng vẻ, phong cảnh hữu tình, ánh nắng chiếu khắp
mặt đất soi tỏ rừng thiêng, khiến cho đồi núi chập chùng
trở nên quang hoa đẹp đẽ. Khe nước sóng gợn lăn tăn, cảnh
sắc thanh u tịch tĩnh. Bỗng nhiên một bóng người lướt
qua bên dòng suối nhỏ, đến một khoảng đất trống, đứng
nhìn khắp bốn bên, đường như đang theo dõi một đối tượng
nào đó.
Trang
thanh niên đó mặt vuông, tai rộng, mày như lưỡi kiếm, mắt
tựa hổ lang, đầu đội khăn vuông, tay trái xách cung, hông
phải mang tên, khí vũ hiên ngang, thần sắc lẫm liệt. Đó
là Hứa Chân Quân, một tráng sĩ vốn say mê thú săn bắn và
ưa thích cảnh trí rừng núi thiên nhiên.
Thoắt
nhiên, một chú nai con từ trong rừng vọt ra. Hứa Chân Quân
mừng rỡ, trương cung, lắp tên; rồi một lằn tên phát ra,
chú nai con lảo đảo. Tráng sĩ sung sướng, toan chạy vội
tới; bỗng thấy một con nai mẹ từ đâu phóng đến. Nai mẹ
đến nơi, thấy nai con đang bị thương nằm quằn quại, mắt
nó tuôn lệ, liền lấy lưỡi liếm vết thương cho con.
Quang
cảnh ấy diễn ra trong khoảng chừng một bữa ăn, thì nai
con lăn ra bất động. Nai mẹ xiết nỗi bi thảm xót thương,
nằm quằn quại trên mặt đất được một lát liền tắt
thở. Hứa Chân Quân vô cùng kinh ngạc, bèn rút ra một con
dao lớn, mổ ruột con nai mẹ để xem, thì thấy ruột nó đứt
ra từng khúc. Ý hẳn vì thầy con chết, đau thương quá độ
mà đến nỗi gan vỡ, ruột đứt. Hứa Chân Quân hết sức
xúc động, ân hận về tội lỗi mình đã gây ra, lập tức
bẻ gãy cánh cung, vứt tên xuống suối, rồi bỏ nhà vào núi,
tìm thầy học đạo. Trong vòng mười năm, công phu thuần thục,
ông liền chứng được đạo quả giác ngộ.
2.Vượn
Sầu Rơi Lệ
Vào
một buổi chiều xuân, một đội kinh mặc áo giáp trụ rực
rỡ, chạy nhanh như điện chớp, vượt qua quãng rừng hoang.
Ở phía sau đoàn kinh có mấy người mang kiếm theo hầu một
vị đại tướng. Đàng sau vị đại tướng lại có một chiếc
xe song mã đường đường lộng lẫy; người ngồi trong xe
ấy là một bậc quân vương đương thời - Sở Trang Vương.
Cứ
mỗi năm một lần, nhà vua xuất cung đi săn bắn cho khuây
khỏa nỗi u buồn nơi chốn hoàng cung.
Sở
Trung Vương có một viện đại tướng là Dưỡng Do Cơ. Kỹ
thuật bắn cung của ông cực kỳ điêu luyện, trăm phát trăm
trúng, nên rất được vua Sở thương yêu và tin tưởng. Khi
đoàn săn bắn vào rừng, lùng sục khắp nơi, thì nai dê, chồn
thỏ bỏ chạy tứ tán. Tại giữa rừng sâu có một cây cổ
thụ cao vút tận trời xanh. Trên cây có một con vượn già
đang vui đùa chuyền từ cành này sang cành khác. Sở Vương
lập tức ra lệnh cho Dưỡng Do Cơ hạ ngay con vượn ấy.
Dưỡng
như con vượn ấy hiểu được tiếng người, trông thấy Dưỡng
Do Cơ đột nhiên phi ngựa tới, nó bèn lấy tay che má mà khóc,
nước mắt chảy ròng ròng, kêu la rất bi thảm. Sở Vương
liền ra lệnh cho Do Cơ ngưng bắn và hỏi ông: "Vì lẽ gì
mà vượn già che mặt khóc?"
Do
Cơ liền tâu với nhà vua: "Tâu đại vương, giống vượn này
có tay dài, rất tinh khôn, có thể thu hút được khí thiêng
của trời đất, nó biết thần có tài thiện xạ, hễ mũi
tên buông ra là trúng ngay mục tiêu, nó nghĩ không thể nào
tránh được lằn tên cực mạnh của thần, chắc chắn phải
chết, nên mới che mặt mà khóc.
Sở
Vương buông tiếng thở dài, cảm kích vô vàn, lòng từ bi
bỗng dưng phát sinh, lập tức ra lệnh cho thuộc hạ đình
cuộc săn bắn, rồi trở về hoàng cung. Từ ấy, Sở Vương
rất nhân từ, vì thế, người người đều ca ngợi nhà vua
là vì vua nhân từ.
3.Vua
Thành Thang Mở Lưới Của Thợ Săn
Ngày
xưa, vua Thành Thang nhà Thương thường áp dụng một nền chính
trị thân dân tốt đẹp. Mỗi năm nhà vua đi tuần thú nhiều
lần để thăm hỏi dân tình, cứu giúp những người bệnh
tật khổ đau, nhờ đó mà sửa đổi được phong hóa, việc
chính trị càng trở nên ổn định.
Một
ngày kia, gặp lúc trời quang gió thuận, chim chóc ca hót líu
lo, muôn thú đùa vui hớn hở. Thành Thang đi đến một địa
phương nọ, thấy một thợ săn đang chỉ huy đồng bọn đào
hầm, giăng lưới, trông y có vẻ đắc chí hớn hở, đang
lớn tiếng ước nguyện: "Từ trên trời đáp xuống, từ dưới
đất vọt lên, từ bốn phương bay lại, đều sa vào mảng
lưới của ta, không một mống nào thoát khỏi".
Vua
Thành Thang vốn là một bậc minh quân nhân từ, đức độ,
yêu vật, thương người, nên trông thấy hành trạng của người
thợ săn ấy, trong lòng bất nhẫn, nhưng cũng không tiện ngăn
chặn việc săn thú, đánh bắt chim của y. Ông vốn là một
hoàng đế thông minh, trí tuệ, bèn nghĩ ra một diệu kế:
đi đến chỗ ấy, cởi bỏ lưới giăng ba mặt, chỉ để
lại một mặt.
Người
thợ săn trông thấy thế rất ngạc nhiên, liền hỏi nhà vua
vì sao lại mở ba mặt mà chừa một mặt. Nhà vua nghiêm nét
mặt, đổi lời cầu ước: "Con nào muốn đi đến bên trái,
thì đi đến bên trái, con nào muốn đi đến bên phải thì
đi đến bên phải; con nào muốn đi lên trên thì đi lên trên;
con nào muốn chui xuống dưới thì chui xuống dưới; ngoài
ra, con nào không muốn sống thì cứ chui vào trong lưới của
ta".
Tên
thợ săn nghe nhà vua cầu mong như thế rất cảm động. Mẩu
chuyện đẹp này chẳng bao lâu lan truyền đi khắp nơi, khiến
cho lòng người cảm phục, tin tưởng, ở đâu cũng quay về
quy phục nhà vua.
4.
Tử Sản Nuôi Cá
Đời
Xuân Thu, nước Trịnh có một vị đại phu tên làTử Sản.
Tính ông vốn nhân từ, thường giúp người nghèo khổ, cứu
kẻ khốn cùng, nên được mọi người khen ngợi, tán thán
lòng nhân ái của ông. Một đời ông chuyên làm điều thiện,
thích việc bố thí, lại càng không thích hại vật, sát sinh.
Một
ngày kia có một người bạn thân gửi biếu một ít cá sống.
Thứ cá này thịt của nó vừa mềm vừa béo, ai cũng cho là
một thứ hải sản quý. Tử Sản trân trọng đón tiếp món
quà mà người bạn thân thiết đã gửi biếu, rồi gọi người
tỳ nữ bảo: "Ngươi đem số cá này đổ xuống ao nuôi cá
nhà ta để nuôi chúng".
Người
tỳ nữ nói: "Thưa đại nhân, đây là một thứ sản vật
quý giá mà người khách có lòng tốt đem biếu lão gia dùng,
nếu đem bỏ vào trong ao, không hợp với môi trường sống
của nó, thì e nó sẽ ốm dần, và hương vị của thịt sẽ
thay đổi mất ngon".
Đại
phu Tử Sản mỉm cười nói: "Ta là chủ nhân cắt đặt công
việc cho ngươi, ngươi cứ tuân lệnh, ta không thể vì một
miếng ngon mà đem giết những con cá sống này, làm việc ấy
quả thực ta không nỡ".
Người
tỳ nữ không dám nói gì thêm, lặng lẽ đem số cá ấy đổ
xuống hồ để nuôi và nói với chúng: "Các ngươi cứ nhởn
nhơ thoải mái, nếu ông chủ ta không có từ tâm, thì có lẽ
các ngươi đã bị đem mổ bụng mà nướng trên lò lửa đỏ
lâu rồi"!
5.
Bảo Vệ Sinh Mệnh Loài Vật Được Thêm Tuổi Thọ
Tiêu
Chấn người huyện Ôn Châu, tỉnh Triết Giang, thuở bé, một
hôm ông nằm mộng, thấy một vị thần mặc áo giáp vàng,
nói với ông: "Này chú bé, tuổi thọ của con chỉ có mười
tám năm mà thôi". Khi thức giấc, Tiêu Chấn cảm thấy bàng
hoàng, trong lòng đầy mối u sầu, đau khổ. Thân phụ ông
vốn là một vị quan thanh liêm, được thăng chức và đổi
đến trấn nhậm tỉnh Tứ Xuyên. Lúc ấy, ông nghĩ mình không
còn sống được bao lâu nên không muốn theo cha, nhưng thân
phụ ông lại muốn ông theo hầu bên mình, nên buộc lòng ông
phải đi theo.
Đến
nhiệm sở được hai ngày thì quan chủ tỉnh Tứ Xuyên thiết
tiệc đãi phụ thân ông. Ông cũng bị bắt buộc đến dự
tiệc. Theo tục lệ của tỉnh Tứ Xuyên, hễ sau ba tuần rượu
ngon thức lạ, thì nhà bếp sẽ dâng lên một bát canh rau.
Phương
pháp chế biến bát canh này rất là tàn nhẫn, thảm khốc.
Người ta dùng lửa để hơ dưới vú một con bò cái để
cho sữa vọt ra, đọng lại trong một cái bát làm bằng sắt,
kết thành một món ăn hảo hạng. Ngẫu nhiên, Tiêu Chấn đi
xuống nhà bếp, thấy con bò bị cột nơi cây cọc, liền hỏi
người đầu bếp, đầu bếp trình bày tường tận với ông.
Ông vô cùng kinh ngạc, lập tức đi đến chỗ thân phụ, trình
bày đầy đủ những gì đã trông thấy và thưa với phụ
thân: "Người ta vì ngon miệng khoái bụng mà đem lửa nung
vào vú bò, để sửa chảy ra, như thế con bò chắc chắn sẽ
đau đớn vô cùng, xin phụ thân ra lệnh đình chỉ việc pha
chế một thức ăn đầy tính chất vô nhân đạo như thế
này.
Thân
phụ ông vốn là người nhân từ, liền ra lệnh miễn dâng
thức ăn đặc biệt ấy. Nhờ thế con bò cái liền được
cứu thoát. Mấy hôm sau, Tiêu Chấn nằm mơ thấy một vị
thần mặc áo giáp vàng đến nói với ông: "Này cậu bé, con
đã làm một việc phúc đức nên không những không bị chết
yểu mà còn được sống lâu, làm quan đến Tể tướng, hy
vọng con sẽ thương yêu bảo vệ mọi loài sinh linh nhiều
hơn nữa".
Quả
nhiên về sau, Tiêu Chấn làm đến chức Thừa tướng và thọ
hơn chín mươi tuổi mới qua đời.
6.
Dùng Voi Chở Nước (Cứu Đàn Cá Sắp Chết Vì Trời Hạn)
Cách
đây hai ngàn năm, tại một miền đất nọ xứ Ấn Độ, bên
cạnh dòng nước chảy bỗng xuất hiện một hồ nước. Trong
hồ có hàng vạn con cá đang nhởn nhơ đua bơi một cách thích
thú. Nào hay gặp lúc trời hạn, trải lâu ngày không một
hột mưa rơi. Nước trong hồ dần dần khô cạn, những con
cá nhởn nhơ kia bị cái nắng thiêu đốt bức bách có lẽ
sẽ chết rụi trong hồ, không mống nào thoát khỏi.
Một
ngày kia trời đang nắng chói chang, một vị trưởng giả ngẫu
nhiên đến bên bờ hồ, trông thấy hồ nước khô cạn, thoắt
nhiên nảy sinh mối từ tâm, lập tức yết kiến quốc vương,
tâu với nhà vua: "Tâu đại vương, hồ sắp khô, không bao
lâu nữa đàn cá sẽ chết hết, xin đại vương cho thần hai
mươi thớt voi lớn để chở nước đổ vào hồ, hầu cứu
sống đàn cá".
Vị
vua này trước đây đã quy y Tam Bảo, nên khi nghe lời thỉnh
cầu của trưởng giả liền nói: "Thực khó gặp được người
biết mở lòng từ bi như khanh, vậy khanh có thể đến chuồng
voi tùy ý dẫn voi đi chở nước để cứu sống đàn cá sắp
lâm nguy".
Lập
tức trưởng giả cùng với hai người con, đến chuồng voi,
chọn lấy hai mươi thớt voi lớn, đồng thời đế⮠bên quán
rượu, mượn một số bình đựng rượu rồi ba cha con đưa
đàn voi đến bên sông, dùng các bình chứa múc đầy nước
đổ vào hồ. Làm công việc đó trải qua nhiều ngày, hồ
nước dần dần đầy lại như trước. Nghìn vạn con cá được
thể vui mừng đùa giỡn vẫy sóng, bơi lội thỏa thích.
Trưởng
giả đứng nhìn đàn cá vẫy vùng trong nước, trên mặt hồ
lại nổi sóng lăn tăn, lòng cảm thấy hân hoan, bao nỗi u
hoài chất chứa trong lòng bỗng dưng tan hết. Đến lúc trời
chiều, trưởng giả cùng hai con đưa đàn voi trở về, trong
lòng khởi lên bao nỗi hân hoan khôn tả.
7.
Cứu Chim Sẻ, Được Vòng Ngọc
Vào
đời Hán, ở phía Bắc núi Hoa Âm có một gia đình họ Dương,
chuyên về nông nghiệp, chỉ sinh một cậu con trai, đặt tên
là Dương Bảo. Cậu Bảo từ bé đã thông minh, lanh lợi, mày
thanh, mắt sáng, đầu để hai bím tóc, ai trông thấy cũng
yêu mến.
Dương
Bảo tính tình nhân từ, vừa lúc chín tuổi đã yêu thích
thắng cảnh thiên nhiên, thường lây chốn núi rừng làm bầu
bạn. Một ngày kia, chàng đi đến bên triền núi phía trước
nhà, bỗng nghe tiếng kêu bị thương của một con chim sẻ,
ngoái đầu nhìn lên trên không, chợt thấy một chú diều
hâu đang gắp một con sẻ vàng. Nhân thấy có người, nên
diều hâu kinh hãi để rơi chim sẻ đang bị thương xuống
đất. Trong lúc tính mạng sắp lâm nguy, chim sẻ còn bị một
đàn kiến kéo đến bao vây. Dương Bảo liền chạy vội tới,
nhặt lấy chim sẻ ôm vào lòng bàn tay, đàn kiến lập tức
bỏ chạy tứ tán. Bảo bèn mang chim sẻ về nhà nuôi trong
một cái lồng, thương yêu, chăm sóc rất chu đáo. Tìm hoa
vàng rịt vết thương cho chim, chờ đếnn khi vết thương lành
hẳn, mới đem thả vào rừng.
Một
hôm, vào lúc đêm gần tàn, Bảo bỗng mơ thấy một tiểu
đồng mặc áo màu vàng hướng đến Bảo lạy tạ, cảm ơn
cứu mạng; đồng thời dâng tặng bốn vòng bạch ngọc và
nói: "Cảm tạ ân nhân! Tôi vốn là sứ giả của Vương mẫu,
nhờ ơn người cứu mạng, không biết lấy gì báo đáp ân
sâu, kính tặng người bốn vòng bạch ngọc, cầu mong con cháu
được vinh hiển, làm đến công khanh".
Ban
đầu Bảo không dám nhận tặng vật của tiểu đồng, nhưng
trước tấm lòng cực kỳ chân thành, buộc lòng Bảo phải
nhận lấy ngọc ấy. Thoắt nhiên tỉnh giấc, nhớ lại giấc
mộng vừa qua, Bảo lấy làm kinh dị, miệng lẩm bẩm: "Thật
là một giấc mộng ly kỳ! Thật là một giấc mộng ly kỳ!"
Quả
nhiên sau đó, con cháu của Dương Bảo liên tiếp bốn đời
làm đến công khanh, vinh hiển tột cùng.
8.
Phật Cắt Thịt Mình Thế Thịt Chim Bồ Câu
Trời
quang muôn dặm, ánh dương chiếu khắp, cảnh sắc tươi vui.
Đức Phật đi đến ven rừng, bỗng thấy một con chim ưng
đang đuổi theo chim bồ câu trắng. Đứng trước nguy cơ bị
mất mạng, bồ câu trắng thấy Phật liền sà vào lòng ngài
để lánh nạn. Đức Phật liền bảo vệ, che chở cho nó.
Chim
ưng bèn xếp cánh, đáp xuống một cành cây và nói: "Ngài
muốn cứu bồ câu thoát chết, lẽ nào lại để cho tôi chết
đói!"
Đức
Phật ung dung hỏi: "Ngươi cần những gì để no lòng, ta sẵn
sàng cung cấp cho ngươi".
Chim
ưng liền đáp: "Tôi muốn ăn thịt".
Đức
Phật liền rút ra một con dao nhỏ, thản nhiên cắt thịt cánh
tay trao cho chim ưng. Nhưng chim ưng chê ít, không bằng thịt
bồ câu, do đó. Phật lại cắt thêm thịt; nhưng càng cắt
thịt lại bồ câu cho được. Chẳng mấy chốc thịt cánh
tay cắt gần hết mà vẫn không làm sao đủ nặng bằng thịt
bồ câu.
Chim
ưng hỏi Phật có hối hận hay không, Phật đáp: "Ta hoàn toàn
không hối hận một mảy may nào hết. Vì muốn cứu vớt mọi
sinh linh thì thịt cánh tay ta có gì là đáng tiếc. Nếu lời
nói này của ta xuất phát từ lòng chí thành thì mong thịt
cánh tay ta sẽ liền lại như trước.
Đức
Phật thề nguyện vừa xong, quả nhiên thịt cánh tay ngài trở
lại như trước. Chim ưng liền hiện nguyên hình Đế Thích,
vút lên không trung hướng về Đức Phật thi lễ, miệng không
ngớt tán thán, rồi bay đi.
Tin
tức Đức Phật vì lòng từ bi cắt thịt cánh tay hiến cho
chim ưng chẳng bao lâu truyền đi khắp nơi, khiến mọi người
đều ca ngợi hạnh nguyện hy sinh cao cả của một bậc vĩ
nhân.
9.
Bầy Lươn Xin Cứu Mạng
Vào
khoảng năm Vạn Lịch đời nhà Minh, tại Hồ Thư Hàng Châu,
có một gia đình phú hộ họ Vu, bình nhật không sát sinh mà
thích bố thí, làm nhiều việc thiện.
Năm
ấy có một nhà láng giềng bị kẻ trộm lấy hết của cải,
họ Vu liền mở hầu bao lấy tiền cứu trợ. Người đàn
bà láng giếng rất cảm kích trước tấm lòng cao thượng
ấy, nên một hôm đem biếu khoảng mười con lươn cho cụ
bà họ Vu để dùng làm thức ăn. Nhưng gia đình họ Vu ít
khi nào dám sát sinh, nên đem số lươn ấy thả vào trong một
cái ang, rồi lấy đồ đậy lại, chờ đem phóng sinh. Chẳng
may, cả mẹ lẫn con đều quên bẵng chuyện ấy.
Trải
qua thời gian khá lâu, vào một đêm nọ, lúc sắp tàn canh,
bà cụ mơ thấy khoảng mười người mặc áo vàng, đầu đội
mũ nhọn, đột nhiên đi vào trong phòng quỳ xuống thưa: "Xin
Thái phu nhân mở lòng từ bi ban cho chúng tôi đường thoát
nạn".
Bọn
mặc áo vàng ấy nói xong liền ra đi. Thái phu nhân chợt tỉnh
giấc, trong lòng băn khoăn bất an, chợt nghĩ miên man mà chẳng
hiểu cứu mạng sống cho những ai. Do đó, bèn mời một ông
thầy bói về nhà để xem việc tốt xấu thế nào. Bốc sư
bói xong một quẻ, liền bảo: "Thái phu nhân chớ nên lo lắng,
quẻ này lành chứ không dữ, tại quý tôn phủ đang có những
sinh mạng thỉnh cầu phu nhân phóng thích".
Phu
nhân liền ra lệnh cho người nhà tìm kiếm khắp trong nhà
ngoài sân, cuối cùng mới phát hiện ra mười con lươn lớn
đang rộng trong ang. Số lươn này tương ứng với mười vị
mặc áo vàng mà phu nhân trông thấy trong giấc mộng. Bà hoảng
kinh, thất sắc nói: "Nguy thay, suýt chút nữa ta làm hại mười
sinh mạng này rồi". Lập tức bà truyền lệnh cho người nhà
đem số lươn ấy thả vào trong hồ. Từ đó về sau, con cháu
nhà họ Vu ngày càng thịnh vượng.
