Ý
nghĩa của cuộc sống
Thời
gian thấm thoát trôi nhanh, năm cũ sắp hết, năm mới sắp
sang. Trước thềm năm mới, chúng ta hãy dành ít phút để
suy tư, quán niệm: chúng ta đã làm gì cho cuộc đời mình
được ích lợi, trên phương diện thế gian và xuất thế
gian, trong năm vừa qua và những năm trước đó?
Ðồng
thời chúng ta cũng thử bàn về vấn đề "Ý nghĩa của cuộc
sống", để có một nhận định đúng đắn cho cuộc đời
của chúng ta từ đây về sau, trên bước đường tu học theo
đúng Chánh Pháp.
Từ
ngàn xưa cho đến ngày nay, từ phương đông sang đến phương
tây, từ Châu Á sang đến Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi và Châu
Úc, khi bàn về vấn đề ý nghĩa của cuộc sống, bằng cách
này hay cách khác, mọi người luôn luôn bày tỏ niềm mơ ước
một cuộc sống có ý nghĩa, một cuộc sống lý tưởng. Nhưng
thế nào là cuộc sống lý tưởng, thế nào là cuộc sống
có ý nghĩa? Làm sao xây dựng cuộc sống lý tưởng, làm sao
xây dựng cuộc sống có ý nghĩa? Trải qua nhiều thế kỷ,
xuyên qua nhiều địa phương khác nhau, nhiều người có những
quan niệm, những quan điểm, những ý kiến khác nhau về vấn
đề này.
Chẳng
hạn như có người quan niệm là phải có nhiều tiền của,
mới có cuộc sống lý tưởng và cuộc sống mới có ý nghĩa.
Tại sao vậy? Bởi vì có nhiều tiền của, con người mới
có thể làm được nhiều việc ích lợi cho bản thân và cho
mọi người theo như ý của mình mong muốn. Sách có câu: "Có
tiền mua tiên cũng được", chính là nghĩa đó vậy.
Chẳng
hạn như có người quan niệm rằng phải có nghề nghiệp chuyên
môn, phải có công ăn việc làm vững chắc, mới có cuộc
sống lý tưởng và cuộc sống mới có ý nghĩa. Tại sao vậy?
Bởi vì có nghề nghiệp chuyên môn, con người mới có thể
giúp ích cho bản thân và cho xã hội một cách hiệu quả hơn,
một cách tích cực hơn.
Chẳng
hạn như có người quan niệm là phải có gia đình hạnh phúc,
mới có cuộc sống lý tưởng và cuộc sống mới có ý nghĩa.
Tại sao vậy? Bởi vì dù có nhiều tiền, dù có nghề nghiệp
chuyên môn, dù có việc làm vững chắc, nhưng gia đình không
hạnh phúc thì cuộc sống không thể gọi là lý tưởng, không
thể gọi là có ý nghĩa được. Thực là thiên hình vạn trạng,
muôn hình muôn vẻ, mỗi người một ý, mười phân vẹn mười!
* *
*
Trong
phạm vi bài này, chúng ta thử bàn qua các quan niệm trên đây,
nhất là nghiên cứu ý nghĩa của cuộc sống qua giáo lý của
đạo Phật, đối với đời sống của người Phật Tử tại
gia bình thường.
Trước
hết, chúng ta thử xét qua các quan niệm phổ thông về cuộc
sống lý tưởng hay cuộc sống có ý nghĩa.
A .-
Ý nghĩa của cuộc sống theo quan niệm thế gian:
I)
Về vật chất:
Ở
trên đời, người ta thường coi trọng quyền lực, địa vị,
tiền bạc, châu báu và của cải vật chất. Người có quyền
lực lớn, địa vị cao, tiền của nhiều, sản nghiệp to,
thường được mọi người ngưỡng mộ, trân trọng, trầm
trồ, mơ ước. Ai ai cũng nghĩ là cuộc sống của những người
như vậy mới có ý nghĩa, bởi vì những người như vậy muốn
gì được nấy. Mọi việc trên đời hầu như nằm trong tầm
tay của họ. Họ có thể làm mọi việc theo ý muốn, theo kế
hoạch đã định mà ít gặp trở ngại, hay không gặp trở
ngại nào cả. Họ muốn khuếch trương sự nghiệp, hay muốn
làm những việc phước thiện, đều được như ý. Thậm chí
họ có thể khuynh đảo một chính quyền, hay một quốc gia
với thế lực tiền rừng bạc biển của họ. Nếu những
người cầm quyền thực sự đạo đức, biết vì dân vì nước,
người giàu sang trưởng giả biết đem tiền của giúp đời
giúp người, như xây bệnh viện, trường học, chùa chiền,
nhà thờ, viện dưỡng lão, viện cô nhi, biết san sẻ niềm
sung sướng, hạnh phúc cho mọi người, quả thực họ đang
sống một cuộc đời có ý nghĩa và giúp cho người thấy
được ý nghĩa của cuộc đời vậy.
II)
Về tinh thần:
II.1)
Nghề nghiệp và bằng cấp chuyên môn:
Ngoài
vấn đề tiền bạc của cải, người đời cũng thường quan
niệm rằng cuộc sống của những người có bằng cấp hay
có nghề nghiệp chuyên môn mới có ý nghĩa. Những người
như vậy có thể giúp đời, giúp người một cách cụ thể
và tích cực hơn. Chẳng hạn như một vị thầy thuốc có
thể cứu được mạng sống con người. Một nhà bác học
có thể cứu sống nhân loại qua sự khám phá một thứ thuốc
mới trị được các bệnh nan y. Một viên kỹ sư phát minh,
chế tạo ra máy móc, dụng cụ, có thể phục vụ tiện ích,
nâng cao đời sống của con người. Những người này khi đem
hết tâm lực ra giúp đời giúp người, đem lại an lạc và
hạnh phúc cho mọi người, quả thực họ đang sống một cuộc
đời có ý nghĩa, và giúp cho người thấy được ý nghĩa
của cuộc đời vậy.
II.2)
Hạnh phúc gia đình:
Cũng
có người cho rằng, dù có nhiều tiền bạc của cải, dù
có bằng cấp chuyên môn, dù có nghề nghiệp vững vàng, nhưng
không có hạnh phúc gia đình thì cuộc sống cũng không có
ý nghĩa, không gọi là lý tưởng được. Hạnh phúc theo quan
niệm thông thường là phải thuận vợ thuận chồng, con cái
ngoan ngoãn, gia đình đầm ấm. Dù không tiền của nhiều,
không bằng cấp cao, những người có cuộc sống yên bình,
gia đình vui vẻ, trên thuận dưới hòa, gọi dạ bảo vâng,
kính trên nhường dưới, đi thưa về trình, sáng tối chăm
chỉ, săn sóc cho nhau, hết lòng thương yêu, quả thực họ
đang sống một cuộc đời có ý nghĩa và giúp cho người thấy
được ý nghĩa của cuộc đời vậy.
II.3)
Lý tưởng phục vụ:
Cũng
có quan niệm cho rằng khi chúng ta có một lý tưởng nào đó
trong cuộc đời, để dốc hết lòng hết sức, tận tâm tận
lực phục vụ, cuộc sống mới có ý nghĩa. Chẳng hạn như
có người thích phục vụ tổ quốc, phục vụ quốc gia dân
tộc. Có người thích phục vụ văn chương nghệ thuật. Có
người thích phục vụ khoa học kỹ thuật. Có người thích
phục vụ y học. Có người thích phục vụ quân đội. Có
người thích phục vụ xã hội. Có người thích phục vụ
tôn giáo. Những người xả thân vì tổ quốc, những người
trọn đời cống hiến cho xã hội, cho văn chương nghệ thuật,
cho công tác từ thiện, quả thực họ đang sống một cuộc
đời có ý nghĩa và giúp cho người thấy được ý nghĩa của
cuộc đời vậy.
Sách
có câu:
"Làm
người sống ở trên đời. Rạng danh sông núi người thời
khắc ghi".
Tuy
nhiên, những quan niệm về ý nghĩa của cuộc sống như vậy
chỉ có tính cách giả tạm, ngắn hạn, phiến diện và không
hẳn tuyệt đối. Tại sao vậy? Bởi vì nếu không có nhiều
tiền bạc, nếu không có bằng cấp, không có nghề nghiệp
chuyên môn, không có việc làm vững chắc, nếu không có chồng
tốt, vợ đẹp, con ngoan, gia đình hạnh phúc, con người không
thể có cuộc sống ý nghĩa sao? Cho dù có đầy đủ quyền
lực, địa vị, tiền bạc, bằng cấp, việc làm, nếu con
người sống trong cảnh vọng động, luôn luôn phải đối
phó với hoàn cảnh, luôn luôn phóng tâm theo các cảnh trần,
không thực sự làm chủ tâm mình, không thực sự biết mình
là ai, không biết mình thiện hay bất thiện, không biết mình
sinh ra đời để làm gì, không cần biết khi chết rồi mình
sẽ đi về đâu, thì quả thực là cuộc sống không có ý
nghĩa vậy.
* *
B.-
Con người và đời sống thế gian:
I)
Ðời sống của con người có giới hạn:
Chúng
ta thử bình tâm ngẫm nghĩ xem, cuộc đời của con người
sống được bao nhiêu lâu, sáu mươi năm, tám mươi năm hay
một trăm năm? Ðiều đó tùy thuộc vào cái gọi là "số mạng"
của con người, theo cách nhìn của thế gian. Người ta thường
tin tưởng rằng số mạng, hay số phận, đã được tạo hóa
an bài, đã được định sẵn cho con người, từ khi sinh ra
đời. Ðiều đó cố định, không thay đổi, còn được gọi
là "định mạng". Nếu gặp cảnh ngộ bất như ý, con người
chỉ biết than trời trách đất sao quá bất công. Nếu gặp
cảnh ngộ như ý, con người chỉ biết khoái chí tươi vui,
bởi vì nghĩ rằng nhờ trời thương, nên mình sung sướng
hơn kẻ khác, không có chi gọi là bất công cả! Những người
như vậy không tích cực tu nhơn tích phước, không biết làm
lành lánh dữ, tiếp tục tạo nghiệp, cho nên tiếp tục đi
trong lục đạo sinh tử luân hồi, biết đến bao giờ mới
giải thoát được?
Thực
ra không có điều gì cố định và không thay đổi cả. Theo
đạo Phật, tất cả tùy thuộc vào "nghiệp duyên" của con
người. Nghiệp duyên có thể sửa đổi được, do công phu
tu tập và ý chí của mỗi người. Kinh sách có câu: "Phật
pháp là bất định pháp". Nghĩa là con người biết tu tâm
dưỡng tánh, có thể cải sửa được cuộc đời, chuyển
hóa được cuộc sống, từ phiền não và khổ đau trở thành
an lạc và hạnh phúc. Nếu chỉ biết tin theo số mạng hay
định mạng, thì con người sẽ buông xuôi thụ động, tiêu
cực chấp nhận, sống một cách buông thả. Sách có câu: "Ðức
năng thắng số", chính là nghĩa đó vậy.
II)
Ðời sống của con người bất như ý:
Có
điều chắc chắn không có ai trường sanh bất tử, sống hoài
không chết. Những người tu tiên nghe nói sống đến vài trăm
tuổi, rồi thì cũng chết như bất cứ ai. Chắc chắn không
có ai trẻ mãi không già, chuyện cải lão hoàn đồng chỉ
là giấc mơ mà thôi. Chắc chắn không có ai khỏe mãi không
đau, dù có đi chùa cúng kiến cầu an, van xin Trời Phật cho
đuợc dồi dào sức khỏe. Nếu như cúng kiến, van xin, mà
được bình yên, không đau yếu, nếu như uống nước sông
nước suối, xem như nước thánh thuốc tiên, mà được khỏe
mạnh khỏi bệnh, thì các bệnh viện, các phòng mạch bác
sĩ nên đóng cửa, các chuyên viên y tế, các chuyên gia phục
hồi sức khỏe, nên giải nghệ cho rồi. Ðiều chắc chắn
cuối cùng là trên đời không có ai biết trước mình sống
tới bao nhiêu tuổi mới từ giã cuộc đời này, và sau đó
sẽ đi về đâu?
III)
Ðời sống của con người vô nghĩa:
Có
bao giờ bất cứ ai trong chúng ta dành ít phút để thử suy
nghĩ: Con người sanh ra trên thế gian này để làm gì? Không
thể nói rằng thượng đế hay tạo hóa sanh ra con người,
để hành phạt người này, để trừng trị người kia, để
sai khiến người nọ, để thương yêu ban phúc cho những ai
biết thờ phượng. Sự thực, con người sanh ra đời, không
phải do tự ý, tự nguyện hay tự lực, mà chính do "nghiệp
lực" dẫn dắt con người trong sáu nẽo luân hồi. Con người
đến đây để trả nợ đã vay từ nhiều kiếp trước, đồng
thời vì vô minh tạo thêm nghiệp, vay thêm nợ mới, gọi chung
là "nghiệp báo", rồi sẽ phải trả trong hiện kiếp hoặc
hậu kiếp. Cứ tiếp tục như vậy, chúng sanh liên tục lăn
lộn trong vòng sanh tử luân hồi, không ngoài sáu cõi: trời,
người, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chẳng hạn
như những chúng sanh, dù ở cõi trời hưởng phước, dù là
ông trời, dù là thần tiên, cũng vẫn còn trong vòng sanh tử
luân hồi, sau khi hưởng hết "phước báo", vẫn còn bị đọa
lạc trong sáu cõi luân hồi.
Lúc
còn nhỏ, cuộc sống vô tư vô lự, đứa bé không biết chuyện
gì khác hơn là ăn, ngủ và chơi đùa. Lớn lên, cuộc sống
khép kín trong bốn bức tường của lớp học. Sau đó đỗ
đạt, thành tài, con người bắt đầu ra đời đấu tranh,
để kiếm được công ăn việc làm vừa ý, để có địa
vị đối với đời, rồi đến chuyện cưới vợ lấy chồng.
Ðại đăng khoa rồi đến tiểu đăng khoa. Những người không
có duyên với học đường, thì lao ra đời sớm hơn để kiếm
sống, để giúp đỡ gia đình. Tiếp đến, sanh con đầu lòng,
chẳng gái thì trai. Lai rai thêm vài đứa nữa cho vui cửa vui
nhà, theo quan niệm con đàn cháu đống là phước lộc trời
ban. Ðến lúc này, nhìn lại thì mái tóc đã điểm sương,
da nhăn má hóp, lưng còng gối mõi, bất cứ lúc nào cũng có
thể về đoàn tụ với tổ tiên!
Cuộc
đời như vậy quả thực là vô nghĩa! Hàng triệu triệu người,
từ hàng muôn muôn thế kỷ, cứ sinh ra, rồi lớn lên, lăn
lộn trong cuộc sống, không biết mình là ai, khi khổ đau thì
cầu trời khấn Phật, khi vui vẻ thì quên hết, cho đến lúc
nhắm mắt xuôi tay, từ giã cuộc đời, như thế là xong! Thái
Tử Tất Ðạt Ða không chấp nhận định mạng như vậy, cho
nên Ngài quyết tâm ra đi tu tập, đắc đạo thành Phật, rồi
đem những điều giác ngộ được truyền bá, giảng giải,
thuyết pháp, để giúp con người giải thoát khỏi phiền não
khổ đau và sanh tử luân hồi.
IV)
Chấp ngã:
Hầu
như mọi người trên thế gian này đều cho rằng: thân xác
này là thực, tâm hồn này là thực. Nhưng thực ra, thân xác
tứ đại này do đất, nước, gió, lửa, tạo thành, không
có gì gọi là thực. Tại sao vậy? Bởi vì nếu ngày nào chúng
ta không bồi dưỡng cho tấm thân, những chất từ đất sinh
ra như cơm gạo, những chất như nước sữa, những chất như
không khí, những chất tạo hơi ấm, thì ô hô tử vong. Ðến
cuối cuộc đời, thân xác này cũng phải để lại và tan
rã, cát bụi trở về với cát bụi. Có gì là thực đâu?
Còn tâm hồn của chúng ta thay đổi liên miên, từ bé đến
lớn, từ hôm qua đến hôm nay, từ giây phút trước đến
giây phút hiện tại. Tâm hồn của chúng ta, trong kinh sách
gọi là "tâm thức", không có gì gọi là thực, đó chỉ là
một dòng chuyển biến, trong từng sát na, trong từng giây phút,
không bao giờ ngừng nghỉ, khi con người chưa ngộ đạo.
Trong
đạo Phật, chấp thân tứ đại là mình, chấp tâm vô thường
là mình, gọi là "chấp ngã". Vì vậy bản ngã mà người đời
coi như là một "linh hồn vĩnh cữu", đó chỉ là "ảo tưởng"
mà thôi. Chính cái ảo tưởng này là nguyên nhân của phiền
não và khổ đau trong cuộc đời.
V)
Chấp pháp:
Con
người thường cho rằng mọi việc trên đời đều tồn tại
vĩnh viễn. Chúc tụng nhau hạnh phúc trăm năm. Tình bạn muôn
năm, tình yêu bất diệt. Cầu xin mãi mãi bình yên, không gặp
nạn tai, không chuyện phiền toái. Tất cả chỉ là niềm mơ
ước, mong muốn mà thôi, không phải là sự thực. Con người
khi đạt được một địa vị nào đó trong xã hội, có được
một sự nghiệp nào đó trên đời, thường nghĩ rằng, mong
rằng, những thứ đó là miên viễn, là thường còn. Con người
vĩnh viễn giữ được những điều mình đang có. Bởi vậy
cho nên mới có Hoàng Thượng vạn tuế, Tổng Thống muôn năm,
Chủ Tịch muôn đời, Hội Trưởng vạn niên!
Sự
thực, muôn pháp trên thế gian, muôn việc trên cõi đời, từ
vật chất cho đến tinh thần đều biến chuyển đổi thay,
không bao giờ ngưng. Nhứt là những thứ có hình thức, tướng
mạo, lớn như quả địa cầu, dãy núi, nhỏ như trái cam,
hạt cải, đều trải qua bốn giai đoạn:"sinh, trụ, dị, diệt".
Nghĩa là mọi vật được sinh ra bằng cách nào đó, trụ thế
được một thời gian nào đó, rồi cũng đến lúc biến dị
và cuối cùng là hoại diệt. Trong đạo Phật gọi đó là
"vô thường". Ở thế gian người ta gọi đó là "sự tàn nhẫn
vô tình của thời gian". Mọi pháp thế gian đều không tồn
tại qua thời gian. Một tòa nhà cao chọc trời kiên cố, một
hệ thống xa lộ vĩ đại, tất cả chỉ còn là đống gạch
vụn sắt vụn sau một cơn động đất. Một thị trấn sầm
uất đông dân, nhà cửa đông đúc, tất cả chỉ còn là một
khoảnh đất điêu tàn hổn độn, sau khi một cơn bão tố
khủng khiếp đi ngang qua. Con người thấy đó rồi mất đó.
Trên đời không có gì đáng để cho "con người tỉnh thức"
phải hơn thua tranh chấp cả!
Còn
theo đuổi việc hơn thua tranh chấp, con người vẫn còn si
mê, chưa thức tỉnh, cho nên không thể có cuộc sống ý nghĩa
được.
Trong
Kinh Kim Cang, Ðức Phật có dạy: "Phàm sở hữu tướng giai
thị hư vọng".
Nghĩa
là phàm ở trên đời những gì có hình thức, tướng mạo,
có thể nhìn thấy bằng cặp mắt thường, đều là hư vọng,
là giả tạm, không tồn tại vĩnh viễn, kể cả cái thân
xác của chúng ta hiện có.
Các
câu tục ngữ như: "Bèo hợp rồi tan, trăng tròn rồi khuyết",
"Thương hải biến vi tang điền", hay "Bức tranh vân cẩu, kiếp
người tang thương", chính là nghĩa đó vậy.
* *
C.-
Ý nghĩa của cuộc sống theo quan niệm đạo Phật:
I)
Thực tế của cuộc sống:
Mọi
người trên thế gian thường hay nghĩ "đời còn dài", còn
lâu lắm mới tới phiên mình đi chơi thế giới bên kia, cho
nên cả ngày suốt tháng quanh năm, chỉ bận tâm đến chuyện
kiếm tiền mưu sinh, chuyện làm ăn buôn bán, chuyện tranh danh
đoạt lợi, chuyện đấu tranh tranh đấu, chuyện hơn thua tốt
xấu, chuyện nhân nghĩa thị phi, chuyện đúng sai phải quấy.
Nói chung con người bận tâm đủ thứ mọi chuyện linh tinh
lang tang, lăng xăng lộn xộn!
Nhưng
sự thực, con người thuộc đủ mọi thành phần, thuộc đủ
mọi giới, thuộc đủ mọi lứa tuổi, thuộc đủ mọi sắc
dân, thuộc đủ mọi địa phương, thuộc đủ mọi tôn giáo,
thuộc đủ mọi tổ chức, đều có thể chết bất cứ lúc
nào, bất cứ cách nào, bất cứ nơi nào. Ðến khi sắp từ
giã cuộc đời, con người mới giựt mình tỉnh giấc, không
biết mình sẽ đi về đâu, rồi mình sẽ ra sao, sau khi chết,
và cuối cùng nhận ra rằng: "mình chưa hề sống được ngày
nào thực sự có ý nghĩa".
Lúc
đó đã quá muộn màng. Suốt cuộc đời con người sống trong
mê muội, không biết tỉnh thức, chỉ lo"tạo nghiệp", nghiệp
lành thì ít, nghiệp dữ thì nhiều. Nghiệp lành bao gồm những
việc phước thiện lợi ích, những chuyện lấy ân báo oán,
những chuyện đem lại an lạc hạnh phúc cho mọi người. Nghiệp
dữ bao gồm những việc lợi mình hại người, những việc
lấy oán báo ân, những việc vạch lá tìm sâu, những việc
ném đá dấu tay, những việc gửi thư nặc danh, những việc
hăm he hù dọa, những việc vu oan giá họa, những việc đem
lại phiền não khổ đau cho người, phát xuất từ tâm tham
lam, sân hận, si mê, đố kỵ, ganh tị, ích kỷ, cống cao,
ngã mạn, chấp chặt, thành kiến, phân biệt, kỳ thị, bất
chính.
II)
Hoạt động của cuộc sống:
Chỉ
vì cuộc sống khó khăn, con người phải bon chen, sống vội
sống vàng, sống trong nghèo nàn tình thương, sống trong những
ham muốn không bao giờ thỏa mãn, sống trong tức giận thù
hận ngập tràn, sống trong cuồng loạn si mê, sống trong lo
âu sợ hãi, thấp thỏm ưu tư, căng thẳng phập phồng.
Con
người sống trên cuộc đời, nhưng không thực sự biết rằng
mình đang sống, đang làm gì, để làm gì?
Thí
dụ như con người khi ăn uống không thực sự biết mình đang
ăn uống. Trong khi ăn uống, con người bận đọc báo, bận
nói chuyện, bận coi truyền hình, bận nghe điện thoại, bận
giận tức con cái, bận nhớ chuyện đời xưa, bận suy nghĩ
kế hoạch làm ăn, quay cuồng với đủ các thứ chuyện trên
đời. Trong khi tay gắp thức ăn bỏ vào miệng, hay bưng ly
nước uống, nhiều khi chẳng biết đó là thức ăn gì, món
nước gì!
Trong
khi ngủ, con người bận nhớ chuyện xảy ra trong ngày, bận
toan tính chuyện ngày mai, bận lo lắng chuyện hôm qua, bận
tức giận chuyện hôm nay, bận suy tư nghĩ tưởng trăm muôn
ngàn việc. Giấc ngủ như vậy nào được bình yên, giấc
ngủ như vậy nào được khỏe khoắn, ngủ như vậy nào được
thẳng giấc gì đâu! Ban ngày con người để đầu óc lăng
xăng lộn xộn, thương người này thù người kia, chuyện này
phải chuyện kia quấy, ban đêm nhứt định nằm mơ thấy ác
mộng!
Trong
khi đi, con người lo trể giờ hẹn, lo trể giờ làm, bận
lo chuyện đông, bận lo chuyện tây, bận ngó ông gầy, bận
cười bà béo, bận nhìn trời mây, cho nên nhiều khi vấp phải
đá, nhiều khi quàng phải dây, nhiều khi đạp nhằm gai gốc,
nhiều khi đụng phải cột đèn, nhiều khi lọt luôn xuống
cống!
Trong
khi đứng, khi nằm, khi ngồi, con người bận lo chuyện tiền
bạc, chuyện làm ăn buôn bán, chuyện bàng quan thiên hạ, chuyện
giận tức ganh tị, chuyện thưa gởi kiện tụng. Con người
thường để tư tưởng chạy rông, từ đông sang tây, từ
xưa đến nay, từ chuyện mình đến chuyện người, từ chuyện
quốc gia đại sự đến chuyện lặt vặt nhỏ nhen.
Nói
chung, trong bốn động tác thường ngày của cuộc sống: đi,
đứng, nằm, ngồi, con người thường không biết mình đang
đi, không biết mình đang đứng, không biết mình đang nằm,
không biết mình đang ngồi, tâm tư lúc nào cũng dong ruỗi
ở tận đâu đâu!
Con
người luôn luôn sống theo sự lôi cuốn, sự tác động của
ngoại cảnh chung quanh, không làm chủ được tâm mình.
Con
người sống trên cuộc đời nhưng không thực sự biết rằng
mình đang sống.
III)
Thế nào là cuộc sống có ý nghĩa:
III.1)
Sống lợi mình lợi người là cuộc sống có ý nghĩa. Những
việc gì mình không muốn người khác làm cho mình, thì mình
đừng làm như vậy cho người ta. Chẳng hạn như mình không
muốn bị người khác quấy rầy, không muốn đời tư bị
bươi móc, thì mình đừng làm như vậy cho người ta. Chẳng
hạn như mình không thích bị ai phê bình, chỉ trích, khinh
khi, phỉ báng, thì mình đừng vạch lá tìm sâu, bới bèo tìm
bọ, viết thư nặc danh, hăm dọa chửi bới người ta. Phải
nên biết rằng: gieo nhân nào gặt quả nấy, đong đấu nào
nhận đấu nấy!
III.2)
Sống không ưu tư, không phiền não trong mọi hoàn cảnh là
cuộc sống có ý nghĩa. Vì áp lực của cuộc đời thường
đè nặng trong tâm tư, chúng ta bị ngoại cảnh chi phối quá
nhiều, ngày ăn không ngon, đêm ngủ chẳng yên. Lúc thịnh
thì vui, lúc suy thì buồn. Lúc nhục nhã thì bực, lúc danh
dự thì khoái. Lúc xưng tán thì thích, lúc phê phán thì quạu.
Lúc khổ thì than, lúc hân hoan thì chịu! Nở được nụ cười
nhẹ nhàng, vô ưu, trầm tĩnh, trong mọi hoàn cảnh giúp chúng
ta sống cuộc đời có ý nghĩa. Nụ cười thương yêu, nụ
cười có ý thức bao giờ cũng đẹp đẽ và thường giúp
con người sống cuộc đời có ý nghĩa một cách mầu nhiệm
khó thể nghĩ bàn.
III.3)
Sống trong tỉnh thức là cuộc sống có ý nghĩa. Chúng ta biết
mình thực sự là ai, biết mình thực sự đang làm gì, biết
mình thực sự đang nói gì, biết mình thực sự đang nghĩ
gì. Chúng ta thường mang cái áo đời danh lợi, cho nên quên
"con người chân thật" của mình, luôn luôn sống trong ảo
tưởng. "Con người chân thật" là con người luôn luôn sống
trong tỉnh thức, kiểm soát được hành động, lời nói và
tư tưởng, không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, trình độ,
xuất xứ, đời sống, dân tộc. Sống trong tỉnh thức nghĩa
là phải có chánh kiến, theo chánh tư duy, giữ gìn chánh ngữ,
thực hành chánh nghiệp, sống với chánh mạng, có chánh tinh
tiến, luôn luôn chánh niệm, có được chánh định.
III.4)
Sống trong an lạc và hạnh phúc là cuộc sống có ý nghĩa.
Cuộc sống không dính mắc, không sân hận, không si mê, không
phiền não, không chấp chặt, không thành kiến, không kỳ thị,
không tranh chấp, không hơn thua, không bon chen, không đua đòi.
Khi có người mang lửa đến đốt, chúng ta đừng đưa bổi
ra đón, thì sẽ không bị đốt cháy. Nghĩa là nếu bị người
chửi mắng, hay khi nhận được thư, dù nặc danh hay chính
danh, nặng lời nhục mạ, chúng ta không nổi cơn sân, dù ngoài
mặt hay trong lòng, thì chúng ta được bình yên vô sự. Chúng
ta không có được những gì mình thích, thì hãy thích những
gì mình có. Ðược như vậy, ngày ăn ngon tối ngủ yên, và
chắc chắn chúng ta sống cuộc đời an lạc và hạnh phúc.
III.5)
Sống an trú trong hiện tại là cuộc sống có ý nghĩa. Chúng
ta thường luyến nhớ quá khứ, mơ tưởng tương lai. Sống
trong cuộc đời hiện tại, chúng ta nên biết rằng "mình đang
sống", đang hít thở không khí, đang ở trong chánh niệm, sống
với thiện tâm, sống không tà niệm. Ðược như vậy, tâm
của chúng ta như dòng nước trong mát, không vướng bụi trần,
không vương phiền não. Bình an dưới thế cho người thiện
tâm.
Trong
Kinh Kim Cang, Ðức Phật có dạy:
Quá
khứ tâm bất khả đắc,
hiện
tại tâm bất khả đắc,
vị
lai tâm bất khả đắc.
Nghĩa
là chuyện quá khứ cảm giác đã qua đi, không nên nhớ nữa,
chuyện hiện tại thấy đó rồi mất đó, cảm giác nào rồi
cũng qua mau, không có gì tiếc nuối, chuyện tương lai chưa
đến, đừng lo lắng ưu tư phiền muộn, chỉ khiến cuộc
đời thêm phức tạp phiền não mà thôi!
III.6)
Sống trong giác ngộ và giải thoát là cuộc sống có ý nghĩa.
Chúng ta muốn có cuộc sống ý nghĩa, bình yên, phẳng lặng,
an lạc và hạnh phúc, chúng ta phải biết quán sát chân lý,
nhận chân lẽ thực, thấy được thực tướng của vạn hữu.
Chúng ta muốn có cuộc sống ý nghĩa, thì nên biết rằng,
chúng ta sinh ra đời để trả hết các nợ đã vay, đã tạo
tác từ nhiều tiền kiếp, đừng tạo thêm nghiệp mới, chấm
dứt sinh tử luân hồi, không si mê, không mơ tưởng, không
van xin, không mong cầu. Chúng ta phải sáng suốt nhận định
rõ ràng: cuộc đời khổ nhiều vui ít.
Cho
nên, chấp nhận cuộc đời là chấp nhận: sinh lẫn diệt,
còn lẫn mất, được lẫn thua, khen lẫn chê, vui lẫn buồn.
Chấp nhận cuộc đời là chấp nhận: có làm có hưởng, có
làm có chịu, sinh sự sự sinh, gieo gió gặt bão. Chấp nhận
cuộc đời là chấp nhận: nay còn mai mất, nay xấu mai tốt,
nay bạn mai thù, chuyển biến không ngừng. Cần phải có thời
gian tu tập thực nghiệm lâu dài, cần phải có công phu quán
chiếu bền bỉ, cần phải có ý chí mạnh mẽ, nghị lực
vững vàng, để chuyển hóa cuộc đời từ phiền muộn, ưu
tư, lo âu, sợ hãi, trở thành hoan hỷ, vui vẻ, thanh thản,
tự tại. Ðược như vậy, chúng ta sẽ giải thoát khỏi vòng
sanh tử luân hồi.
IV)
Làm sao xây dựng cuộc sống có ý nghĩa:
Ðể
có được một cuộc sống có ý nghĩa, chúng ta phải luôn
luôn tỉnh thức, giữ tâm bình thường, thản nhiên, tự tại
trong mọi hoàn cảnh, trong mọi tư thế, trong mọi hành động,
trong mọi lời nói, trong mọi ý nghĩ. Trong mọi hoàn cảnh,
trong mọi tư thế, dù được hay mất, dù khen hay chê, dù thân
hay thù, dù vui hay khổ, dù oan hay ưng, dù đúng hay sai, chúng
ta phải luôn luôn tỉnh thức, vẫn giữ tâm bình thường,
không xao động, không khởi niệm. Khi đi, đứng, nằm, ngồi,
chúng ta biết mình đang đi, đang đứng, đang nằm, đang ngồi.
Làm việc gì tập trung tinh thần vào việc đó, không xao lãng,
không lo ra. Ðược như vậy, chúng ta không gặp tai nạn nghề
nghiệp, có thể làm xong công việc một cách tốt đẹp và
chúng ta có một cuộc sống ý nghĩa.
Trong
mọi hành động, chúng ta phải luôn luôn không nên làm tổn
thương đến người và vật. Trong mọi lời nói, chúng ta luôn
luôn giữ gìn khẩu nghiệp, không nói những lời làm tổn
thương đến mọi người, dùng lời nói chuyên chở tình thương,
những khi cần thiết mang lại ánh sáng chân lý, giảng giải
giáo lý cho mọi người được gội nhuần nước cam lồ tươi
mát. Trong mọi ý nghĩ, chúng ta phải luôn luôn giữ gìn chánh
niệm, không theo các tạp niệm dong ruỗi bốn phương, không
để tâm theo việc thương ghét thân thù, giữ tâm bình thường,
bất tùy phân biệt, không kỳ thị, không thành kiến, luôn
luôn chăn trâu kỹ lưỡng, không để trâu dẫm đạp lúa mạ
của người.
Khi
tâm tham khởi lên, khi tâm sân nổi lên, chúng ta phải tỉnh
thức, biết ngay và buông bỏ, không theo.
Chúng
ta không nên để các vọng tâm tham sân đó xúi giục làm điều
xằng bậy. Ðược như vậy chúng ta có cuộc sống ý nghĩa
và lý tưởng, đồng thời mới có thể giúp mọi người chung
quanh sống đời có ý nghĩa vậy.
Trong
cuộc đời trên thế gian này, muốn cuộc sống có ý nghĩa,
chúng ta nên thường xuyên quán chiếu rằng: mình đã để
cho cuộc đời của mình trôi qua trong quên lãng đã bao nhiêu
ngày tháng năm rồi? Hãy thử lắng lòng nghiệm xét xem: mình
đã làm gì cho đời mình, ngoài những việc làm kiếm tiền
sinh sống và giải trí vui chơi?
Ðể
biết nhìn đời cho đúng ý nghĩa, trong Kinh Hoa Nghiêm, Ðức
Phật dạy: "Từ nhãn thị chúng sanh".
Nghĩa
là muốn cuộc sống có ý nghĩa, chúng ta cần nhìn tất cả
mọi người với con mắt từ bi hỷ xả. Chúng ta nên biết
thương người cũng như thương chính mình, cảm thông nỗi
khổ đau của người như nỗi khổ đau của chính mình, đừng
làm khổ người, dù là kẻ thù, cũng vậy.
Sách
có câu:"Mắt thương nhìn cuộc đời", chính là nghĩa đó vậy.
Trong
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Ðức Phật dạy:
Muốn
cuộc sống có ý nghĩa, hãy mặc áo Như Lai, ở nhà Như Lai
và ngồi tòa Như Lai.
Nghĩa
là trong mọi hoàn cảnh, chúng ta luôn luôn "mặc áo nhẫn nhục"
của Như Lai, tức là nhẫn mà không thấy nhục, để ứng
xử trong cuộc đời đầy phiền não và khổ đau, không nên
gây thêm phiền não và khổ đau cho mọi người. Ðể có thể
thực hành được hạnh nhẫn nhục đến độ rốt ráo tột
cùng, trong kinh sách gọi là ba-la-mật, chúng ta cần an trú
trong "căn nhà đại từ đại bi" của Như Lai. Có được tấm
lòng đại từ đại bi của Ðức Phật, chúng ta mới có thể
nhẫn nhục được, không nỗi sân hận, hay tức giận khi bị
người chửi rủa, mắng nhiếc, nhục mạ, vu oan, thưa kiện.
Và cuối cùng, sau khi nhẫn nhục được rồi, phát triển tâm
từ bi được rồi, làm tất cả mọi việc phước thiện rồi,
chúng ta luôn luôn nhớ ngồi trên "tòa pháp không" của Như
Lai, tức là chúng ta quên hết mọi việc tốt đẹp đã làm,
để lòng kiêu mạn không phát khởi, để luôn luôn giữ "tâm
bình thường" trong từng sát na vậy. Thực hiện được ba
điều Ðức Phật dạy trên đây, dù đang sống trên thế giới
ta bà khổ này, chúng ta vẫn an nhiên tự tại với tâm bình
thường và cuộc sống mới có ý nghĩa thực sự vậy.
Chúng
ta cùng suy ngẫm câu chuyện sau đây: Một hôm hai vị sư huynh
đệ có việc cùng xuống núi. Khi xong việc trở về đến
bên một con suối, hai vị thấy một cô gái ăn mặc đàng
hoàng, đang lúng túng chưa biết cách nào lội qua suối. Sau
khi hỏi qua cớ sự, vị sư đệ liền bồng cô gái đưa giùm
qua suối. Trên suốt quãng đường còn lại, vị sư huynh lầu
bầu, cằn nhằn sư đệ đã đụng chạm cô gái, như vậy
là phạm giới, đó là những việc không nên làm. Vị sư đệ
c? bình thản bước đi, im lặng, không đối đáp. Lúc về
tới cổng chùa, vị sư huynh vẫn còn tiếp tục lãi nhãi,
vì tưởng rằng sư đệ lặng yên, nghĩa là nhận tội đã
làm. Cho đến lúc đó, vị sư đệ mới thốt nên lời: Ðệ
đã bỏ cô gái ấy lại bên bờ suối từ lâu rồi, tại sao
huynh vẫn còn cõng cô ta về đến đây vậy?
Qua
câu chuyện này, chúng ta nghiệm xét hai điều:
Một
là, người sống với chánh niệm thường im lặng, không tranh
cãi, không thị phi, không đính chính, oan ức không cần biện
bạch, vì biện bạch là nhân ngã chưa xả, lấy oan ức làm
cửa ngõ đạo hạnh.
Hai
là, trong cuộc sống thường ngày, sau khi đi làm hay đi chơi,
chúng ta cõng không biết bao nhiêu là nhân vật về nhà, có
khi còn cõng luôn lên giường ngủ nữa là khác!
Bởi
vậy cho nên, chúng ta chứa biết bao nhiêu là hình bóng, người
thương kẻ thù, trong kho tàng tâm thức của chúng ta. Nhân
dịp cuối năm, chúng ta thường dọn kho chứa đồ đạc cho
sạch sẽ, luôn tiện hãy dọn dẹp kho tàng tâm thức cho trống
trải. Ðược vậy cuộc sống chúng ta sẽ bớt phiền não
và khổ đau. Từ đây, cuộc sống mới có ý nghĩa vậy.
* *
*
Tóm
lại, mặc dù được xem như là một tôn giáo, nhưng đạo
Phật không phải chỉ có các hình thức cúng kiến, nghi lễ
và người theo đạo Phật không bắt buộc phải có lòng tin,
không bắt buộc phải có đức tin, không bắt buộc phải nhắm
mắt tin theo, cúi đầu chấp nhận, bất cứ điều gì, dù
được ghi chép trong kinh điển, khi lý trí chưa chấp nhận.
Người Phật Tử nương theo giáo lý của Ðức Phật để làm
phương tiện chuyển hóa đời mình, từ phiền não sang an lạc,
từ khổ đau sang hạnh phúc.
Mục
đích tối hậu, mục đích cứu kính, mục đích tột cùng
của Phật giáo vẫn là chỉ bày phương pháp rèn luyện tâm
tánh, phương pháp tu tâm dưỡng tánh, để giúp con người
sống được với "con người chân thật" của mình, chứ không
phải sống với cái tấm thân tứ đại nặng nề đòi hỏi
đủ thứ chuyện, chứ không phải sống với cái tâm hồn
thay đổi liên miên, sai xử đủ thứ việc, để giúp con người
bớt được phiền não và khổ đau hiện đời, được an lạc
và hạnh phúc, được Niết-bàn hiện tiền, giải thoát khỏi
vòng sanh tử luân hồi.
Trong
Kinh Ðại Bát Niết Bàn, Ðức Phật có dạy:
Chư
hành vô thường.
Thị
sinh diệt pháp.
Sinh
diệt diệt dĩ.
Tịch
diệt vi lạc.
Nghĩa
là mọi việc trên đời đều vô thường, không tồn tại
lâu dài, kể cả tấm thân tứ đại nặng nề mấy chục ký
lô, cùng với cái tâm lăng xăng lộn xộn của chúng ta, tất
cả đều là những pháp sinh diệt, những thứ sinh ra rồi
sẽ diệt đi, không tồn tại vĩnh viễn, không có gì phải
quan trọng. Nếu quan trọng cái thân và cái tâm sinh diệt thì
con người sẽ sống trong phiền não và khổ đau.
Ðiều
quan trọng chính là làm sao cho tâm lăng xăng lộn xộn sinh
diệt đó lặng đi, không còn nữa, tức là chúng ta không còn
tham lam nữa, chúng ta không còn nổi sân nữa, chúng ta không
còn si mê nữa, khi đó cảnh giới tịch diệt hiện tiền,
ngay trước mắt, đó mới thực là vui, đó chính là Niết-bàn,
là cực lạc vậy.
Trong
Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Ðức Phật có dạy: "Sinh diệt diệt
dĩ, tịch diệt hiện tiền", chính là nghĩa đó vậy.
Nói
chung, Phật giáo có mục đích giúp con người sống trong tỉnh
thức, biết mình đang thực sự sống một cuộc đời có ý
nghĩa, một cuộc đời lý tưởng vậy.