Phước
tuệ song Tu
Trong
đời sống này, chúng ta thường nghe, nói đến chữ "TU".
Chẳng hạn như là: tu bổ tu sửa, tu chính tu chỉnh, tu tỉnh
tu thân, tu nhân tích đức, tu tâm dưỡng tánh. Những
từ ngữ đó, có nghĩa chung là: sửa chữa sửa đổi, rèn
luyện trau giồi, cho được mới hơn, cho tốt đẹp hơn, cho
đúng đắn hơn, cho chính xác hơn, cả hai phương diện, vật
chất tinh thần.
Còn
như nói về, phương diện tín ngưỡng, từ ngữ đi tu, thường
có nghĩa là: rời bỏ đời sống, tại nơi thế gian, sống
đời tu sĩ, trong các tự viện, hay là tu viện, thanh tịnh
trang nghiêm, hoặc đến những nơi, núi rừng vắng vẻ.
Phạm
vi bài này, chỉ đề cập đến, công phu tu tập, có thể áp
dụng, giáo lý đạo Phật, cho người tại gia, để tạo an
lạc, hạnh phúc hiện tiền, ngay trên đời này. Ở trong
đạo Phật, chúng ta thường bàn, đến các vấn đề: "tu phước
tu tuệ".
Tu
phước là gì? Tu tuệ là gì? Giá trị tu phước,
giá trị tu tuệ, khác như thế nào? Làm sao có thể, áp
dụng vào trong, đời sống hằng ngày, của người tại gia,
phát tâm tu tập, tu tâm dưỡng tánh?
* *
*
Trước
hết là việc, chúng ta cần biết, đạo Phật xưa nay, có những
nghi lễ, hình thức cúng kiến, của một tôn giáo, dành cho
đại chúng, đa số tín đồ, những người chưa thấu, giáo
lý thâm sâu, của Đức Thế Tôn.
Chẳng
hạn như là: cúng kiến lễ lạy, chuông trống khánh mõ, cầu
an cầu siêu, cầu phước lộc thọ, cầu nguyện hòa bình,
cầu cho chúng sanh, vạn dân bá tánh, an lạc hạnh phúc.
Những hình thức này, rất là cần thiết, có thể giúp cho,
những người sơ cơ, tin theo đạo Phật, bởi do ông bà, cha
mẹ tin Phật, thỉnh thoảng đến chùa, vào các dịp lễ, lớn
nhỏ hằng năm, hái lộc đầu xuân, dịp tết nguyên đán,
hoặc vào các dịp, quan hôn tang tế, nhưng không hiểu gì,
giáo lý đạo Phật.
Hoặc
gặp những lúc, phong ba bão tố, dồn dập trong đời, tâm
thần điên đảo, đời sống chao động, con người cần có,
cảnh chùa thanh tịnh, để được tĩnh tâm, cần có buổi
lễ, cầu an cầu phước, để tạm an tâm, cần có những người,
thiện hữu tri thức, hết lòng an ủi, giảng giải nghĩa lý,
đem lại chánh kiến, giúp đỡ người đó, thoát khỏi những
cảnh, khổ đau như vậy.
Từ
các dịp đó, con người đến chùa, sinh hoạt thường xuyên,
và hiểu được rằng: bởi vì kém phước, thiếu phước ít
phước, hết phước không phước, thường gọi "vô phước",
cho nên cuộc đời, chịu nhiều thăng trầm, cuộc sống gặp
nhiều, khó khăn bất trắc, khốn khổ đau thương, hoạn nạn
điêu đứng, người thương không có, kẻ ghét thì đông.
Do đó con người, phát tâm "tu phước", tạo thêm phước báu,
để cho cuộc đời, vơi bớt phiền não, giảm thiểu khổ
đau.
Phước
báu là do, chính chúng ta tạo, chứ không phải do, thượng
đế ban cho, hay do cầu nguyện. Người nào tích phước, từ
trước đến nay, không cần cầu nguyện, cuộc đời cũng an,
ít gặp sóng gió, ít có trắc trở, đở bớt phiền muộn,
tai qua nạn khỏi, chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không,
chuyện khó hóa dễ.
Trong
Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy, thí dụ như sau: Nếu người
phải bị, nuốt một nắm muối, thì sẽ đau khổ, biết là
dường nào. Nhưng nếu đem bỏ, nắm muối đó vào, một
tô nước nhỏ, rồi mới phải uống, thì sẽ dễ chịu, hơn
một chút xíu. Nếu bỏ nắm muối, vào một lu nước, rồi
mới phải uống, thì sẽ dễ chịu, nhiều hơn chút nữa.
Nếu bỏ nắm muối, vào hồ nước lớn, rồi mới uống vào,
thì chuyện sẽ không, thành vấn đề nữa.
Nắm
muối tượng trưng, cho các nghiệp nhân, bất thiện chẳng
lành, con người đã tạo, từ trước đến nay, bây giờ phải
lãnh, nghiệp quả nghiệp báo, nói chung đó là: quả báo khổ
đau, không sao tránh khỏi. Chỉ có phước báo, ít hay
là nhiều, tượng trưng tô nước, lu nước hồ nước, có
thể giúp đỡ, con người vượt qua, khổ đau mà thôi.
Đó
mới thực là: chí công vô tư.
Mình
làm mình hưởng. Mình làm mình chịu.
Cầu
nguyện van xin, dù tin hay không, thực sự chẳng giúp, chẳng
ích gì đâu. Tại sao như vậy? Bởi vì thực ra,
chính vị giáo chủ, giáo phẩm chức sắc, giáo quyền cao cấp,
cũng phải trả nghiệp, đã tạo trước kia, nhiều đời nhiều
kiếp, ngay trong kiếp này, cũng bị nguyền rủa, vu khống cáo
gian, xử án khổ nạn, ám sát giết hại, một cách thê thảm,
không ai thay được!
Trong
khi xảy ra, tai nạn xe hơi, xe lửa tàu thủy, hay là phi cơ,
có người nằm mơ, cầu nguyện đức Mẹ, hằng đi cứu giúp,
có người cầu nguyện, đức Quán Thế Âm, cứu khổ cứu
nạn. Nếu như hai người, cùng thoát tai nạn, thực sự
vị nào, đã cứu giúp họ? Còn nếu hai người, cùng
bị thảm tử, thì cả hai vị, đều bỏ rơi họ? Có
phải vậy chăng?
Thực
ra không phải! Không có vị nào, cứu họ giúp họ, theo
lời cầu nguyện.
Chỉ
có phước báo, của chính cá nhân, đã cứu chính họ!
Người
có phước báo, nhiều hơn một chút, thì được thoát nạn,
một cách an ổn. Người có phước báo, ít hơn một chút,
thì được thoát nạn, một chút xây xát. Những người
vô phước, không còn phước báo, thường gọi tới số, thì
đã mạng vong.
Chí
công vô tư, là luật nhân quả.
Trong
Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy:
Chỉ
có phước báo, mới có thể làm, giảm thiểu nghiệp báo.
Nếu
như chúng ta, phát tâm tu phước, tạo thêm phước báu, chúng
ta thường làm, tất cả việc thiện, cứu người giúp đời,
thường được gọi là: những việc "phước thiện".
Chẳng hạn như là: bố thí cúng dường, hùn phước cất chùa,
tạo tượng đúc chuông, ấn tống kinh sách, đi chùa lễ Phật,
vào chùa công quả, tham gia hoạt động, từ thiện xã hội,
cứu trợ nạn nhân, thiên tai bão lụt, giúp đỡ người nghèo,
bần cùng khốn khổ.
Tuy
nhiên cũng có, những người tu phước, thường hay mong cầu,
phước báu trở lại, với bản thân mình, với gia đình mình,
qua các dạng như: thới hên may mắn, tai qua nạn khỏi, giàu
sang hạnh phúc, ăn nên làm ra, cửa nhà êm ấm, con cái thành
tài, buôn may bán đắt. Như vậy nghĩa là: mặc dù tu
phước, người rất hiền lương, ăn hiền ở lành, việc ác
không làm, chỉ làm việc thiện, nhưng mà tâm niệm, của người
tu phước, chưa được quảng đại, còn hay vị kỷ, hơn là
vị tha, chưa được thanh tịnh.
Do
đó cho nên, phước báu có được, rất là hạn chế, theo
như tâm lượng, hạn hẹp của mình. Khi không như ý,
những người tu phước, thường hay nổi giận, bực bội bất
an, tâm trạng hoang mang, làm cho nhiều người, mất dần tín
tâm, bỏ theo ngoại đạo.
* *
*
Trong
Kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy:
"Nhược
Bồ Tát ư pháp, ưng vô sở trụ, hành ư bố thí. Sở
vị bất trụ sắc bố thí, bất trụ thinh, hương, vị, xúc,
pháp bố thí. Bồ Tát ưng như thị bố thí, bất trụ
ư tướng. Nhược Bồ Tát bất trụ tướng bố thí, kỳ
phước đức bất khả tư lượng" .
Nghĩa
là: nếu như chúng ta, không chấp bốn tướng: ngã, nhơn, chúng
sanh, thọ giả, và không chấp sáu trần: sắc, thinh, hương,
vị, xúc, pháp, mà thực hành hạnh bố thí, thì phước đức
không thể nghĩ, không thể lường được.
Nếu
người tu phước, làm việc phước thiện, mà không vụ lợi,
không tâm phân biệt, kỳ thị thân sơ, xuất xứ sang hèn,
nam nữ sắc tộc, không mong cầu lộc, hay được báo đáp,
không hề trông chờ, đền ơn đáp nghĩa, không hề thấy mình,
là người làm phước, không thấy người khác, thọ nhận
ơn phước, nếu làm như vậy, tạo được phước báu, vô
lượng vô biên, không thể nghĩ bàn.
Tại
sao như vậy? Bởi vì tâm lượng, của người tu phước,
ngay lúc bấy giờ, trở nên quảng đại, vô cùng vô tận,
cho nên phước báu, trở nên to lớn, vô lượng vô biên, tương
ứng rõ ràng. Trong lúc thực hiện, hành động tạo phước,
lời nói tạo phước, ý nghĩ tạo phước, không hề nghĩ rằng:
mình đang làm phước.
Giúp
đỡ người khác, chỉ vì tình thương, từ bi bác ái, lòng
tốt tự nhiên, tâm bất vụ lợi, vì người quên mình, đó
chính thực là: hành động tạo phước, cao thượng hạng nhứt,
đem lại "phước báu", vô lượng vô biên, không thể nghĩ
bàn.
Chúng
ta nên biết: chúng ta có phước, nếu như chúng ta, đầy đủ
sức khỏe, lục căn hoàn bị, tay chân lành lặn, đi đứng
tự nhiên, mắt mũi tinh tường, trí óc minh mẫn, sống trong
hạnh phúc, gia đạo bình an, trên thuận dưới hòa, thuận
vợ thuận chồng, con cháu ngoan ngoãn, hiền lành dễ dạy,
cuộc sống bình yên, ít gặp sóng gió, ít có trắc trở, tai
qua nạn khỏi, mọi việc suôn sẻ, mọi sự hanh thông, gặp
được thầy lành, gặp được bạn tốt.
Phước
báu hơn nữa, nếu như chúng ta, gặp được chánh pháp, ngộ
được chánh đạo, giác ngộ giải thoát, không còn trầm luân,
sanh tử luân hồi.
Người
trí thực hành, hạnh nguyện bố thí, chẳng cầu báo ân, chẳng
cầu lợi mình, chẳng vì giúp đỡ, cho kẻ bỏn sẻn, chẳng
vì quả báo, sanh cõi nhơn thiên, giàu sang sung sướng, hưởng
thụ dục lạc, chẳng vì danh tiếng, đồn đãi khắp nơi,
chẳng vì có của, dư dùng không xài, chẳng vì bắt chước,
làm theo người khác.
Người
trí thực hành, hạnh nguyện bố thí, chỉ vì từ tâm, giúp
người cần đến, khiến người an vui, qua cơn khốn khó, bớt
cơn phiền não, khiến cho người khác, sanh tâm bố thí, nhứt
tâm hồi hướng, công đức phước đức, cho khắp muôn loài,
pháp giới chúng sanh. Làm được như vậy, trí tuệ khai
mở, tâm niệm hòa bình, chúng sanh an lạc, mọi người hạnh
phúc.
Người
thích bố thí, chẳng thích tu tuệ, sanh ra giàu có, nhưng tâm
trí kém. Người thích tu tuệ, chẳng thích bố thí, sanh
ra thông thái, nhưng nghèo xác xơ. Tuy nhiên rõ ràng, trong
khi tu phước, nếu chúng ta làm, với tâm chính trực, bất
tùy phân biệt, kết quả đồng thời, cũng có nghĩa là: chúng
ta tu tuệ.
Chẳng
hạn như là: chúng ta thực hành, hạnh nguyện bố thí, với
tâm đại từ, tâm bất vụ lợi, chúng ta được phước, đồng
thời kết quả, tâm tham bỏn sẻn, dần dần giảm bớt, thiểu
dục tri túc, biết đủ bớt tham, không còn phạm giới, không
còn tạo nghiệp, tâm trí ổn định, dần dần thanh tịnh,
trí tuệ phát sanh.
Như
vậy nghĩa là: thực tâm tu tập, tu phước tu tuệ, đồng thời
kết quả. Nếu như chúng ta, tu tập tinh tấn, sẽ nhận thấy
rằng: trong phước có tuệ, trong tuệ có phước. Phước
báu giúp ta, bớt gặp chướng ngại, trên đường tu tập.
Trí tuệ giúp ta, tu tiến nhanh thêm, chóng đến bến bờ, giác
ngộ giải thoát, lai đáo bỉ ngạn.
Tu
tập nghĩa là: áp dụng giáo lý, ngay trong cuộc sống, luôn
luôn nhớ nghĩ, sửa đổi tâm tánh, của chính bản thân, ngày
một an hơn, ngày một vui hơn, cho đến một ngày, giác ngộ
giải thoát.
Trong
Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:
Hãy
tự thắp đuốc, tự mình bước đi.
Thắp
sáng trí tuệ, ngọn đuốc chánh pháp.
Trí
tuệ bát nhã, giúp đỡ chúng ta, thoát khỏi phiền não, giảm
thiểu khổ đau, không ngoài giáo pháp, của Đức Thế Tôn.
Do đó chúng ta, phát tâm tu tập, nên học giáo lý, mở mang
trí tuệ, mới tỏ chánh đạo, mới có chánh kiến, mới đặng
chánh tín, tâm được thanh tịnh, tránh được tà đạo, tránh
cảnh tu mù, lọt hầm sụp hố, từ bỏ tâm ma, đạt được
giác ngộ, thấu rõ chân lý, giải thoát khổ đau, sống trong
cảnh giới, niết bàn hiện tại, ngay trong cuộc sống, hằng
ngày của mình. Đó mới chính là: tu tuệ thực sự.
* *
Ở
trong cuộc sống, thế gian hằng ngày, có nhiều cơ hội, có
rất nhiều cách, có nhiều phương pháp, để cho con người,
làm phước tạo phước, kiếm phước tích phước. Dù đó
là phước: hữu lậu vô lậu, đều có công năng, giúp cho
con người, có được cuộc sống, bình yên an ổn, ít đau
khổ hơn, bớt đi phiền não, để tiến tới chỗ, giải thoát
khỏi vòng, sanh tử luân hồi.
Phước
báu hữu lậu, do những việc làm, tạo sự an vui, thoải mái
yên bình, ích lợi cho người, gặp lúc khó khăn, về mặt
vật chất, hay về tinh thần. Phước báu hữu lậu, còn
có công năng, đem lại may mắn, tai qua nạn khỏi, chuyện lớn
hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không, chuyện khó hóa dễ, hễ chịu
làm phước, oan trái bớt đi, nghiệp báo giảm thiểu.
Người nào làm phước, với lòng ước mong, hưởng phước
về sau, đó được gọi là: phước báu hữu lậu, vẫn còn
trong vòng, sanh tử luân hồi.
Phước
báu vô lậu, do những việc làm, lời nói ý nghĩ, ích lợi
cho người, nhưng đồng thời cũng, giúp chuyển hóa được,
con người chính mình, thí dụ như là: bố thí cúng dường,
tụng kinh niệm Phật, tư duy thiền quán, nghiên tầm kinh điển,
tu tâm dưỡng tánh. Người nào làm phước, với bốn
tâm lớn: từ bi hỷ xả, tứ vô lượng tâm, lòng không cầu
mong, hưởng phước về sau, chỉ chuyên cố gắng, tu tập tinh
tấn, tiến dần đến chỗ: giác ngộ giải thoát, là phước
vô lậu, vượt thoát khỏi vòng, sanh tử luân hồi.
Phước
báu hữu lậu, như tiền tiết kiệm, có khả năng giúp, con
người giàu sang, sung sướng tấm thân, bình yên may mắn.
Hưởng phước báo này, có ngày cũng cạn, cũng dứt cũng hết.
Khi đó là lúc, con người sẽ phải, đền trả nghiệp báo,
đã tạo trước kia, trong lúc giàu sang, quyền uy thế lực,
tạo nhiều nghiệp ác, quên mất việc thiện, tu nhơn tích
đức.
Chúng
ta từng thấy, các vị quyền uy, ông vua bà chúa, hoàng hậu
thái phi, hoàng tử công nương, tổng thống thủ tướng, bộ
trưởng toàn quyền, các nhà giàu có, trưởng giả cao sang,
danh vang tột đỉnh, thế lực quyền quí, lãnh tụ chính trị,
lãnh tụ tôn giáo, khi hưởng hết phần, phước báo hữu lậu,
họ phải chịu nhiều, tai nạn khổ ách, tán gia bại sản,
thân bại danh liệt, thậm chí có thể, mất mạng thê thảm,
không ai thay được, ở nơi hoàng cung, hay trên xa lộ, hoặc
dưới biển sâu, hay trên núi tuyết!
Trong
Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy:
"Con
người khi nào, đang hưởng phước báo, cũng như mũi tên,
bắn lên không trung. Mũi tên bay lên, rất nhanh rất mạnh,
cũng như con người, gặp được mọi sự, may mắn tốt đẹp.
Đến
khi phước hết, con người bắt đầu, đền trả nghiệp báo,
ví cũng như là, mũi tên hết trớn, thì rơi xuống đất, cũng
nhanh như vậy".
Đó
chính là nghĩa: phước báu hữu lậu.
Bởi
vậy cho nên, ở trong kinh sách, Đức Phật có dạy: chúng ta
làm phước, đừng có mong cầu, hưởng phước về sau, mà
nên phát nguyện: đời đời kiếp kiếp, đầy đủ phước
duyên, gặp được chánh pháp, gặp được thầy lành, gặp
được bạn tốt, giúp đỡ trợ duyên, tu tâm dưỡng tánh,
cho đến cái ngày: giác ngộ giải thoát.
Đó
chính là nghĩa: phước báu vô lậu.
* *
*
Tóm
lại nên biết, trong khi tu phước, đồng thời tu tuệ, mỗi
ngày một tiến, nhứt định không lùi, con người cảm nhận,
an lạc hạnh phúc, ở trong tầm tay, ngay trong hiện đời, đi
đứng nằm ngồi, sinh hoạt hằng ngày, không tìm đâu xa, không
đợi kiếp sau, vãng sanh cực lạc, hoặc lên thiên đàng.
Tu
tập nghĩa là: áp dụng giáo lý, vào trong cuộc sống, hằng
ngày của mình, giữ thân khẩu ý, luôn luôn thanh tịnh.
Ngay trong cuộc sống, nếu như chúng ta, sinh hoạt bình thường,
đi đứng nằm ngồi, tất cả hành động, lời nói ý nghĩ,
đều thể hiện được, tứ vô lượng tâm: từ bi hỷ xả,
tâm không phiền não, an nhiên tự tại, an vui tu tập, sống
trong chánh niệm: niệm Phật niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm,
tức là chúng ta, đạt được phước báu, trí tuệ viên mãn.
Tu
đúng như vậy, chúng ta đạt tới, niết bàn giải thoát, không
còn trầm luân, sanh tử luân hồi. Tam bảo thường trụ,
phước tuệ lưỡng toàn. Kinh sách có câu:
"Phước
Tuệ lưỡng toàn, thì phương tác Phật".
Nghĩa
là chúng ta, muốn được làm Phật, an nhiên tự tại, thì
phải tu phước, tu tuệ song song, đều đặn như nhau. Ví như
con chim, phải đủ hai cánh, mới có thể bay. Chư Phật
là bậc "PHƯỚC TRÍ NHị NGHIÊM", phước báu trí tuệ, thảy
đều trang nghiêm, chính nghĩa như vậy.
Chư
Tăng thường được, mọi người xưng tán, là bậc "TÔN TÚC",
nghĩa là các ngài, là bậc tu hành, đáng tôn đáng kính, bởi
vì đầy đủ: phước báu trí tuệ, PHƯỚC tUệ song tu.
Tội
nghiệp
Trên
thế gian này, chúng ta từng chứng kiến các cảnh phiền não
khổ đau, nhiều hơn là bình yên vui sướng. Ngay trong
cuộc đời của chúng ta, những sự bất trắc, bất như ý,
bất toại nguyện, cũng nhiều hơn những việc vui vẻ, vừa
ý, toại nguyện.
Cho
nên, nhận định cuộc đời "khổ nhiều vui ít", đó là sự
thực rõ ràng, nhưng trong chúng ta ít người dám mạnh dạn
nhìn nhận. Con người vì mãi mê đấu tranh, vật lộn
với cuộc sống hằng ngày, nên không có thời giờ để suy
tư, tìm hiểu. Có người không muốn nhìn nhận sự thực
đó, tự kỷ ám thị, tự lừa dối mình, cho rằng cuộc đời
là vui đẹp, là đáng hưởng thụ, với mục đích tạm quên
đi những đau khổ, bất hạnh trong cuộc sống, không biết
ngày mai mình sẽ ra sao, không biết làm sao cho đời bớt khổ,
cho đời hết khổ.
Khi
gặp hoàn cảnh khổ đau, khi có điều bất trắc, bất như
ý, bất toại nguyện, con người chỉ biết than trời trách
đất, hoặc trách cứ tổ tiên, trách cứ ông bà cha mẹ, ăn
ở bất nhơn thất đức, cho nên cháu con mới ra nông nổi
này!
Đôi
khi, có người chỉ biết đặt niềm tin nơi đấng thiêng liêng
nào đó, để cầu nguyện, van xin, khấn vái cho được tai
qua nạn khỏi, cho được bình an, mà không chịu tìm hiểu
hư thực, không chịu tìm hiểu Chân Lý, không chịu học hỏi
Chánh Pháp, cho nên những người biết lợi dụng lòng mê tín
dị đoan dễ gạt gẫm, dễ lợi dụng, dễ sai khiến, hậu
quả khó mà lường trước được.
Thường
thường khi thấy người nào gặp hoàn cảnh không may, gặp
điều bất hạnh, bất như ý, đau khổ hoặc ngộ nạn, có
người xúc động, tỏ lòng thương xót, thốt lên: "Tội nghiệp
quá!". Điều này có nghĩa là khi ở trong trạng thái "tâm
bình thường", con người ai cũng có sẵn "tâm từ bi bác ái",
thấy người đau khổ thì động lòng trắc ẩn, xót thương.
Cũng
trong trường hợp đó, người khác lại nói: Đáng đời chưa!
Gieo gió thì gặt bảo! Làm tội thì phải đền tội!
Cũng có người nói: Nghiệp của họ nặng quá, nên họ mới
khổ nạn như vậy! Hoặc có người khác nói: Trời phạt
họ đó! Những sự suy nghĩ như vậy do tập quán, thói
quen mà thốt nên lời.
Vậy
chúng ta hãy thử tìm hiểu: "Tội" là gì, "Nghiệp" là gì?
"Tội báo, Nghiệp báo" là gì? Làm gì mà phải "tội nghiệp"?
Làm sao cho hết "tội nghiệp"? Làm sao "dừng nghiệp và chuyển
nghiệp"?
* *
*
Theo
luật nhân quả, chúng ta biết rằng: "gieo nhân nào thì gặt
quả nấy". Thí dụ như gieo nhân là hạt cam, chúng ta
sẽ được cây cam và gặt quả cam. Khoa học đã thí
nghiệm và chứng minh điều này rõ ràng, không có gì đáng
nghi ngờ cả. Nghĩa là làm thiện gặp thiện, làm ác
gặp ác, ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão, có lửa có
khói, sinh sự sự sinh.
Tuy
nhiên, cũng có thắc mắc: Tại sao có người gieo thật nhiều
gió mà chẳng thấy họ gặt bão, hay nói cách khác, những
người đó làm nhiều điều bất thiện, gây nhiều tội ác,
mà tại sao họ vẫn bình yên, an ổn, ăn nên làm ra, sống
trong cảnh giàu có sung sướng? Trái lại, có người làm
thật nhiều việc phước thiện phước đức, như bố thí
cúng dường, hùn công góp của ấn tống kinh sách, quyên góp
cho các hội từ thiện, xây cất chùa chiền, lập nhà thương
trường học, đắp đường xây cầu, mà tại sao chẳng thấy
phước báo đâu, chỉ thấy quả báo xấu, gặp nhiều nạn
tai, gặp nhiều điều bất trắc, bất như ý, bất toại nguyện?
Chúng
ta biết rằng: có những hạt giống gieo trồng, thì gặt được
quả sớm, nhưng cũng có những hạt giống gieo trồng xong,
phải đợi một thời gian sau, hay một thời gian lâu sau, mới
gặt được quả. Cũng vậy, có những việc chúng ta làm đời
trước, đời này mới nhận kết quả hay hậu quả. Có những
việc chúng ta làm đời này, đời sau mới có kết quả hay
hậu quả. Do làm ác đời trước, nên con người gặp khổ
đau đời này, chớ có oán hận, than trời trách đất, bởi
lẽ "mình làm mình chịu", không có ông trời nào, thượng
đế nào trừng phạt mình, một cách tùy tiện, một cách vô
căn cứ cả.
Chúng
ta thường có tánh đổ thừa kẻ khác, kể cả ông bà cha
mẹ, đã tạo nghiệp, rồi cháu con phải lãnh hậu quả, chứ
không bao giờ chịu nhìn nhận "chính mình đã làm", đã gây
ra những lỗi lầm trong kiếp trước, cho nên kiếp này "chính
mình gánh chịu".
Còn
những việc phước thiện, phước đức mình làm trong đời
này, vì quá ít quá nhỏ, chưa kịp có kết quả. Hoặc
đôi khi việc phước thiện, phước đức đã có kết quả,
đã làm cho nhẹ bớt đi những nạn tai, mà mình phải gánh
chịu, chỉ tại mình không biết đó thôi. Nếu không
biết làm những việc thiện tạo phước báu như thế, để
bù đắp những tội lỗi đã gây ra trước kia, con người
có thể đã gặp nhiều phiền não khổ đau hơn, nhiều tai
nạn nặng nề hơn. Nếu việc phước thiện đã làm nhiều
hơn tội lỗi đã tạo, chắc chắn con người được hưởng
sự sung sướng, sự may mắn. Nghĩa là sự sung sướng,
sự may mắn do phước báo chính mình đã tạo ra, từ nhiều
kiếp trước hay kiếp này, chứ không do ông trời, hay thượng
đế nào thương mình, mà ban cho cả.
Như
vậy, chúng ta phải hiểu luật nhân quả được áp dụng trong
ba thời: quá khứ, hiện tại và vị lai. Cũng có những
quả báo nhãn tiền, tức là kết quả hay hậu quả có ngay
trước mắt, gieo nhân đời này, gặt quả cũng trong đời
này. Thí dụ như ăn trộm thì bị bắt, ở dơ thì sanh
bệnh, làm biếng thì nghèo khó, đánh người thì người đánh,
hại người thì người hại, kiện thưa thì tốn tiền, tiết
kiệm thì có dư, chăm học thì đỗ đạt, siêng năng, chăm
chỉ, cần cù, nhẫn nại, nếu không thành công thì cũng thành
nhân.
* *
Chúng
ta thữ nghĩ xem: Tội là gì?
Tội
lỗi là những điều bất thiện, những việc ác do chính mình
nói, chính mình làm, chính mình suy nghĩ, chính mình gây ra,
chính mình tạo tác, do thân khẩu ý của chính mình. Tội
lỗi cũng do sự sai khiến, xúi giục, chỉ dẫn, bày cách cho
người khác làm, thi hành, thực hiện những điều bất thiện,
những việc ác. Tội lỗi cũng do sự vui mừng, tán đồng,
khen ngợi, khi thấy kẻ khác làm những điều bất thiện,
những việc ác.
Nghĩa
là: "Nhược tự tác, nhược giáo tha tác, kiến tác tùy hỷ",
đều tội lỗi như nhau. Tại sao vậy? Bởi vì chính
mình làm, chỉ bảo người khác làm, hay thấy người khác
làm mà vui theo, những điều bất thiện, những việc ác, thì
tâm của chúng ta đều bị náo động, đều bị hoen ố, đều
ghi nhận chủng tử sanh tử luân hồi như nhau.
Đạo
Phật luôn luôn chú trọng đến "tâm", chính là cái "thực
tướng" bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng,
bất giảm của con người, chứ không quan trọng đến cái
giả tướng khác biệt bên ngoài của mỗi người. Cái
giả tướng khác biệt đó chỉ là cái thân tứ đại sanh
diệt, nay còn mai mất, chúng ta đang mượn tạm, trong kiếp
sống này mà thôi. Bởi vậy cho nên, đọc kinh điển
của đạo Phật, muốn hiểu được pháp vô lượng nghĩa,
pháp vô thượng thậm thâm vi diệu, chúng ta hãy tìm hiểu
qua lăng kính của một chữ, đó là chữ: "TÂM".
Chư
Tổ có dạy:
"Tâm
tức Phật, Phật tức Tâm", chính là nghĩa đó vậy.
Đức
Phật là bậc vô thượng y vương, vô thượng dược vương
chuyên trị "tâm bệnh" của tất cả chúng sanh, chứ không
phải "thân bệnh". Đức Phật hiểu rõ tâm bệnh của
tất cả chúng sanh, vì sao con người trôi lăn trong sanh tử
luân hồi, cho nên Đức Phật chỉ dẫn con đường thoát ly
sanh tử luân hồi. Đó mới chính là trọng tâm cốt yếu
của đạo Phật.
Sách
có câu:
"Tướng
tự tâm sanh, tướng tùng tâm diệt".
Bất
cứ ai giải quyết được tâm bệnh, thì thân bệnh có còn
gì đáng nói nữa đâu. Cái thân tứ đại giả tạm này
chỉ có tuổi thọ một trăm năm hay hơn chút đỉnh là nhiều.
Còn cái tâm bất sanh diệt của tất cả mỗi chúng ta có tuổi
thọ vô lượng mà Đức Phật đã chỉ bày trong các kinh điển
thì ít người hiểu thấu!
Người
nào chỉ hiểu kinh điển nhà Phật qua nghĩa đen: cầu bình
an, cầu siêu sanh, là những người chỉ đứng bên ngoài cổng
rào, chứ chưa vào được đến trong sân chùa, nói chi đến
ngưỡng cửa nhà Phật. Người nào chỉ hiểu đạo Phật qua
các hình thức cúng kiến, lễ nghi thường thấy, là người
chưa hiểu đạo Phật là gì cả!
Thậm
chí, có người đến với đạo Phật, vì muốn cầu gì được
nấy, muốn vạn sự như ý, muốn tùy tâm mãn nguyện, muốn
buôn may bán đắc, muốn nhất bổn vạn lợi, muốn thi đâu
đậu đó, muốn sở cầu như nguyện, muốn tình duyên may mắn,
muốn đủ thứ chuyện trên trần đời, thì than ôi, đạo
Phật còn gì là Phật đạo nữa! Thật đáng thương xót!
Thật đáng "tội nghiệp" lắm thay!
Trong
Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy:
"Nhất
thiết duy tâm tạo".
Nghĩa
là chúng ta nên biết tội lỗi nặng hay nhẹ tùy theo tâm trạng,
tâm tánh của con người khi tạo tác. Thí dụ như một
người nghèo khó đi câu con cá, để ăn qua ngày, tội nhẹ
hơn người no đủ, đi câu con cá vì thú vui. Con người
vì si mê nên cảm thấy vui thích trên sinh mạng của chúng
sanh! Khi xưa, những người có quyền thế, xem việc giết
người, giết dân chúng hay giết tù nhân, như thú vui tiêu
khiển. Ngày nay, ở các nước gọi là văn minh, con người
xem việc săn bắn thú vật như là môn thể thao, coi cảnh đấu
bò giết bò như là trò giải trí!
Thật
đáng "tội nghiệp" lắm thay! Con người đang hưởng phước
ở các xứ văn minh, lại tìm cách tạo tội tạo nghiệp vì
vô minh. Một người giết một con thú dữ để tự vệ
trong hoàn cảnh sợ hãi, tội nhẹ hơn một đứa bé tay cầm
cây cầm roi, thi đua với các đứa bé khác, đánh đập một
con gà, rụng lông tơi tả, máu đổ dầm dề, cho đến chết,
một cách nhanh nhứt, để được khen thưởng, để được
lãnh giải, trong cuộc thi do người lớn tổ chức!
Dĩ
nhiên, kẻ chủ tâm cố ý giết người vì tư thù, vì quyền
lợi, tội nặng hơn kẻ sát nhân trong cơn điên loạn, hãi
hùng hay vô ý thức. Kẻ giết con vật lớn như trâu bò,
tội nặng hơn kẻ giết côn trùng, con gián, con kiến.
Giết người, giết con vật lớn, con vật có nhiều linh tánh
hơn, tức nhiên, kẻ giết phải có chủ ý, dụng tâm, dụng
công, dụng sức nhiều hơn, nên tội nặng hơn. Giết
côn trùng, con gián, con kiến không do cố ý, không do thích
thú, bởi vì con người không thể sống chung với những sinh
vật này được, theo phép vệ sinh chung của xã hội, nên nhẹ
tội hơn. Tuy nhiên, tìm giết vô cớ con gián, con kiến
ngoài đồng, ngoài đường lại là chuyện khác.
Việc
trộm cắp cũng vậy. Người trộm cắp vì nghèo túng,
phải giúp gia đình qua cơn đói khổ, vì tạm thời, không
còn phương cách nào khác, tội nhẹ hơn một kẻ cố ý chủ
tâm dùng thủ đoạn, dùng luật pháp, để chiếm đoạt tài
sản, sang đoạt bản quyền của người khác, thưa kiện người
khác với mục đích kiếm tiền, muốn mình sung sướng, làm
giàu nhanh chóng, người khác thì đau khổ vì sạt nghiệp!
Việc nói dối để an ủi, giúp đỡ tinh thần người đang
bị bệnh, người đang khổ đau, khủng hoảng, sợ hãi, không
thể đem so sánh với việc nói dối để gạt gẫm người
khác vì ích kỷ, vì tư lợi, vì thù oán hại người, vì muốn
kết bè kết đảng.
Càng
tệ hại hơn nữa vì tự ái, vì tự lợi, vì danh dự hão,
vì chính nghĩa cuội, vì công lý một chiều, vì lẽ phải
phiến diện, vì mê tín dị đoan, vì quá khích, có người
đặt điều vu cáo vu khống, phỉ báng mạ lỵ người khác,
lộng giả thành chơn, nước lã khuấy nên hồ, để ám hại
người khác, viết bài đả kích, khen mình khinh người, lôi
kéo phe phái, thì những người đó làm sao tránh khỏi luật
nhân quả, làm sao thoát khỏi "lưới trời" lồng lộng, tuy
thưa mà không lọt, tuy không thấy mà chẳng sai chạy!
Trong nhà Phật, "lưới trời" đó chính là "quả báo" con người
phải lãnh, vì các việc đã làm, đã nói, đã nghĩ, trước
đây.
* *
Chúng
ta thường nghe nói đến chữ "nghiệp" trong cuộc sống hằng
ngày, cũng như trong đạo Phật, như là: nghề nghiệp, tội
nghiệp, nghiệp báo, nghiệp chướng, nghiệp nhân, nghiệp quả.
Vậy
chúng ta thử tìm hiểu: "Nghiệp" là gì?
Nghiệp
là thói quen hành động, nói năng hay suy nghĩ hằng ngày của
chúng ta trong cuộc sống, trong khi làm việc, trong khi giao tiếp,
ở tại nhà, ở tại sở làm hay bất cứ nơi đâu.
Nghĩa
là nghiệp do thân hành động, khẩu nói năng và ý suy nghĩ,
nên thường được gọi là tam nghiệp: thân nghiệp, khẩu
nghiệp và ý nghiệp.
Theo
nguyên tắc, có hai loại nghiệp: thiện và bất thiện.
Tuy nhiên, khi nói đến chữ "nghiệp", người ta thường nghĩ
đến những nghiệp ác hay nghiệp bất thiện.
1)
"Thân nghiệp" là những thói quen hành động, do thân tạo tác
hằng ngày. Có người luôn luôn thích giúp đỡ kẻ khác,
làm việc phước thiện, làm việc xã hội. Có người luôn
luôn thích đi chùa, lễ Phật, tụng kinh, đi nhà thờ xem lễ,
cầu nguyện. Cũng có người luôn luôn thích đánh nhau,
đánh đập súc vật, giết hại sinh mạng chúng sanh, chơi đấu
bò, đi câu cá, đi săn bắn, như thú vui tiêu khiển. Có người
luôn luôn thích hút thuốc, uống rượu, bài bạc. Có người
luôn luôn thích việc trộm vặt dù họ không túng thiếu. Có
người luôn luôn thích kiện tụng, thích xúi người khác thưa
kiện để thủ lợi. Có người luôn luôn thích hăm dọa người
khác, theo thói chưa đậu ông nghè đã đe làng tổng, họ gửi
bài đăng báo, tòa báo không đăng nguyên văn, sửa bản thảo,
họ bảo xin lỗi, viết thư dọa làm con kiến đi kiện củ
khoai!
2)
"Khẩu nghiệp" là những điều mình thường nói ra hằng ngày,
có khi ngọt ngào dễ nghe, có khi chanh chua chát khế, kinh khủng
khiếp luôn! Cổ nhơn có dạy: "Lời nói chẳng mất tiền
mua. Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau". Có người luôn
luôn thích nói chuyện đạo lý, chuyện ích lợi cho người.
Có người luôn luôn thích thuyết pháp, tụng kinh, niệm Phật.
Có người luôn luôn thích an ủi, khuyên lơn, đem sự an ổn
tâm thần đến cho người khác. Có người luôn luôn nói
lời hòa nhã, êm ái, dịu dàng, ai ai cũng thích nghe, thích
gặp mặt, thích trò chuyện. Đó là những người lựa
lời mà nói cho người an vui, và đang tu theo hạnh Đức Quán
Thế Âm Bồ Tát, hay tu theo hạnh Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ
Kiến Bồ Tát.
Cũng
có người luôn luôn thích nói suốt ngày, không biết mệt,
không ngừng nghỉ. Có người luôn luôn thích nói chuyện
thị phi, chuyện thiên hạ, chuyện phải quấy, chuyện hơn
thua, chuyện tranh chấp, chuyện kiện tụng, chuyện thưa gửi,
chuyện phiền não, chuyện khổ đau. Có người luôn luôn
thích văng tục, chửi thề, bới móc người khác, kê tủ đứng
vào miệng người khác, móc họng cho người ói ra, mỗi khi
khai khẩu, mỗi khi mở miệng. Có người thốt xong một
lời, người nghe phải đi xức dầu cù là, hoặc uống thuốc
nhức đầu, thậm chí ngất xỉu, hay giã từ luôn cõi đời.
Có người thốt xong một lời, người khác phải đi tù, gia
đình xào xáo, vợ chồng chia ly, lục đục, cãi vã, nghi ngờ
lẫn nhau, tiêu tan hạnh phúc.
Bởi
vậy, chúng ta mới biết khẩu nghiệp nặng nề biết bao, lời
nói độc hại đến chừng nào, lời nói có khả năng hại
người còn hơn vũ khí. Đó là lời nói của những kẻ
"lựa lời mà nói cho người giết nhau", hoặc là những kẻ
"lựa lời mà nói cho người tiêu luôn"!
Những
người biết tu tâm dưỡng tánh rất dè dặt với khẩu nghiệp,
không dám phát ngôn bừa bãi, luôn luôn nhớ lời cổ nhơn
dạy: "Lời nói là bạc, im lặng là vàng". Có người
bèn áp dụng tu pháp môn "tịnh khẩu", suốt ngày không muốn
nói bất cứ chuyện gì, với bất cứ ai. Tuy nhiên, bên
ngoài phẳng lặng, mà trong lòng dậy sóng, thì cũng như không!
Có khi nói năng để truyền bá Chánh Pháp, lời nói đầy pháp
vị, nói lời chuyên chở đạo lý. Có khi sự im lặng
cũng đúng Chánh Pháp, cũng đượm nhuần đạo lý.
Cổ
nhơn có dạy: "Ngữ ngôn đạo đoạn".
Nghĩa
là còn phải dùng lời nói, thì không thể diễn tả được
đạo lý một cách tột cùng, khi lên tiếng thì đạo mất
rồi. Người hiểu đạo là người có tâm cảm thông sâu sắc,
không cần dùng lời nói, có thể thấu hiểu mọi sự mọi
việc một cách dễ dàng, không có gì ngăn ngại. Trong
kinh sách có câu: "Đạo cảm ứng giao nan tư nghì" chính là
nghĩa đó vậy.
Cũng
có câu: "Đạo bổn vô ngôn".
Nghĩa
là gốc của đạo không thể dùng lời lẽ của thế gian mà
diễn tả được. Đạo là chỗ cứu kính tuyệt đối
bất khả tư nghì, đạo cảm thông không thể nghĩ bàn được.
Đó chính là chỗ im lặng của Cư sĩ Duy Ma Cật thời Đức
Phật còn tại thế, đó chính là sự lặng thinh của Nhị
Tổ Huệ Khả, khi trình kiến giải lên Sơ Tổ Bồ Đề Đạt
Ma vậy.
3)
Tuy nhiên, quan trọng hơn cả chính là "ý nghiệp". Chính
ý nghiệp chủ động điều khiển thân nghiệp và khẩu nghiệp.
Tại sao vậy? Bởi vì nếu như tư tưởng luôn luôn có
ý nghĩ thế nào thì hành động và lời nói sẽ y theo đó
mà ra, không sai khác chút nào. Chính tư tưởng phát xuất
ra hành động và lời nói. Thí dụ nếu trong tâm ý chúng
ta nghi ngờ người nào ăn cắp đồ, thì từ hành động cho
đến lời nói của người đó đều có vẻ khả nghi, đáng
ngờ, và hành động cũng như lời nói của chúng ta đều không
bình thường đối với người đó.
Thí
dụ nếu chúng ta luôn luôn có tư tưởng, có ý nghĩ là kẻ
nào ác thì phải bị tiêu diệt, phải bị đọa địa ngục,
phải bị trừng phạt nặng nề, cho nên khi có cơ hội, có
phương tiện, có quyền hành, có thế lực, chúng ta sẽ dễ
dàng mắng chửi, mạt sát, giết hại, trừ khử, thanh toán
kẻ đó không chút xót thương, không chút bận tâm! Nghĩ
như vậy, nói như vậy, làm như vậy, tâm của chúng ta không
từ bi, không bác ái chút nào, và như vậy chúng ta có khác
gì kẻ ác kia đâu? Giết người phải đền mạng, có
luôn luôn hẳn là lẽ công bằng tuyệt đối chăng, có giúp
nạn nhân sống lại chăng, có giúp xã hội an ninh, trật tự
chăng, có giúp tình người thêm tốt đẹp chăng? Con người
thường nhân danh cái thiện, nhân danh thế thiên hành đạo,
để thi hành, thực hiện việc ác, việc trả thù ngay sau đó.
Chính vì vậy mà oan oan tương tục không biết đến bao giờ
mới dứt được. Thiệt là "tội nghiệp" thay!
Trên
thế gian này, sân hận không bao giờ dập tắt sân hận. Duy
có tình thương, tâm từ bi mới diệt được tâm sân hận.
Đó là định luật trường cửu. Cho nên, trong Kinh Pháp
Cú, Đức Phật có dạy:
Lấy
oán báo oán, oán nghiệp chập chùng.
Lấy
ân báo oán, oán nghiệp tiêu tan.
Đây
là cách dừng nghiệp và chuyển nghiệp hữu hiệu nhất.
Thí dụ vì nghiệp duyên đời trước, có người nào đó khi
gặp chúng ta, liền không có cảm tình, không ưa thích, có
thái độ thù nghịch, chống đối. Nếu như chúng ta không
hiểu luật nhân quả, bèn có thái độ tương ứng đáp lại,
thì càng ngày quan hệ giữa chúng ta và người đó càng tệ
hại thêm mà thôi. Còn nếu như khi họ gặp hoàn cảnh
không may nào đó mà mình có thể giúp được và thực tâm
giúp đỡ họ, thì có phải "oán nghiệp" trước đây tiêu
tan hay không?
Thí
dụ trong gia đình, nếu người cha hay người mẹ, vì tức
giận người con đối xử tệ bạc với mình, không như mình
mong ước, nên cũng đối xử lạnh lùng, hằn học, bực dọc
đáp lại, thì thử hỏi câu chuyện sẽ đi đến đâu, sẽ
kết thúc ra sao? Nếu cha mẹ có lòng từ bi, không chấp
chặt những điều đó, vẫn thương yêu, chăm sóc người con,
như lúc con còn nhỏ dại, thì ít ra còn hy vọng người con
chuyển đổi tâm ý, gia đình hòa vui trở lại.
Chuyện
này "nói ra thì dễ, làm được mới khó". Nhưng thử
hỏi chuyện gì trên đời này mới là chuyện dễ làm đây
?
* *
Bây
giờ, nói về vấn đề: "dừng nghiệp và chuyển nghiệp".
Chúng
ta đã biết rằng chính ba nghiệp thân khẩu ý là động cơ
dẫn dắt chúng sanh vào vòng trầm luân sanh tử luân hồi nhiều
đời nhiều kiếp. Cho nên, muốn thoát ly sanh tử luân
hồi, con người phải biết dừng nghiệp và chuyển nghiệp.
Nghĩa là chúng ta phải dừng tất cả những nghiệp ác, nghiệp
bất thiện, từ thân khẩu ý của mình, chuyển ba nghiệp thân
khẩu ý bất thiện, thành ba nghiệp thiện lành. Đó chính
là trọng tâm tu hành của đạo Phật, chứ không phải những
hình tướng bên ngoài, những nghi lễ rườm rà, những van
xin cầu khẩn.
Người
có nghiệp cờ bạc thì luôn luôn tìm tới các sòng bài bạc
để vui chơi trong chốc lát, rồi sau đó đau khổ dài dài.
Người có nghiệp hút thuốc thì đi đâu cũng luôn luôn để
ý đến chỗ nào bán thuốc lá và giá cả ra sao. Người
mang nghiệp nào thì sẽ bị dẫn theo con đường ấy, cũng
như kim loại bị nam châm hút vậy. Con người khi chết
đi, thân xác, danh vọng, của cải, thân bằng quyến thuộc,
tất cả mọi thứ đều phải bỏ lại thế gian, chỉ mang
theo cái "nghiệp báo" tái sanh kiếp sau. Chính cái nghiệp báo
này là nguyên nhân làm cho chúng ta sung sướng hay đau khổ
vậy. Khi biết được điều đó, liễu tri được điều
đó, giác ngộ được điều đó, chúng ta cần phải tìm cách
dừng nghiệp, tìm cách chuyển ba nghiệp bất thiện thành ba
nghiệp thiện.
Trong
kinh sách, Đức Phật dạy pháp môn để dừng nghiệp và chuyển
nghiệp, chính là "Pháp Sám Hối".
Người
biết ăn năn sám hối mới thực là người biết tu chân chính,
không cần phải có hình tướng như thế nào, chỉ cần chúng
ta kiên trì, cố gắng tu tâm dưỡng tánh, đúng theo Chánh Pháp,
thì đạt được kết quả mỹ mãn. Kết quả đó là
cảnh giới an lạc và hạnh phúc hiện đời, kết quả đó
là cảnh giới tây phương cực lạc hay thiên đàng sau này.
Chánh Pháp không dành riêng cho những người theo đạo Phật
hay bất cứ ai. Chánh Pháp là chân lý cứu kính mà bất
cứ ai có "tâm bình thường" cũng có thể tìm hiểu được
và thực hành được, một cách bất tùy phân biệt.
Nếu
không có "pháp sám hối chơn thực" thì không có thánh
nhơn trên đời, không có thiên đàng, hay cảnh giới tây phương
cực lạc. Biết bao nhiêu bậc thánh hiền xưa nay có quá
khứ bất thiện, xấu ác, gian tà, nhưng nhờ các ngài giựt
mình tỉnh thức, qua được cơn mê, quày đầu hướng thiện,
cho nên trở thành đại đức thánh nhơn. Bởi vậy, chúng ta
noi gương các ngài, chỉ nên quán xét chính mình, không cần
thiết phải bận tâm biết quá khứ của người khác ra sao.
Người ta trước đây tạo nghiệp xấu thiệt, nhưng nay đã
biết sám hối, đã biết dừng nghiệp và chuyển nghiệp, còn
mình thì sao, vẫn đi soi mói việc riêng của người khác để
làm gì?
Trong
kinh sách, Đức Phật có dạy:
Tội
tùng tâm khởi tương tâm sám.
Tâm
nhược diệt thời tội diệc vong.
Tội
vong tâm diệt lưỡng câu không.
Thị
tắc danh vi chơn sám hối.
Nghĩa
là muốn tội lỗi thực sự không còn nữa, thì chúng ta phải
tiêu diệt cái nguyên nhân chính gây ra tội lỗi, xúi giục
mình làm bậy nói bậy nghĩ bậy, đó là vọng tâm lăng xăng,
lộn xộn, loạn động, suy nghĩ, tính toán, suy lường, hằng
ngày của chúng ta. Một khi đã thực tâm sám hối thì
không còn tâm muốn làm, muốn nói, muốn nghĩ những chuyện
bậy đó nữa. Mỗi khi vọng tâm khởi lên, xui khiến
mình làm chuyện bậy, bất cứ chuyện gì lợi mình hại người,
bảo mình nói lời bậy, bất cứ lời nào gây phiền não cho
người khác, giục mình nghĩ ý bậy, bất cứ ý nghĩ nào khen
mình khinh người, thì chúng ta phải nhận biết ngay, dừng
lại, không theo. Lâu dần, vọng tâm đó lặng đi rồi,
thì tội lỗi cũng không còn gây ra nữa. Cũng giống như
mỗi lần trong đầu nhớ tới bản nhạc nào quen thuộc, nếu
chúng ta ư ử hát theo thì sẽ nhớ hoài nhớ lâu, còn nếu
chúng ta không hát theo, thì ít lâu sau, sẽ quên bẳng đi, không
còn nhớ nữa. Đó mới thực là "chơn sám hối", tức
là sám hối chơn chính, chơn thực, thực lòng vậy.
* *
Pháp
sám hối chơn chính có hai phần:
Lý
Sám Hối và Sự Sám Hối.
Trước
hết, chúng ta nói về "Sự Sám Hối".
Khi
tâm của chúng ta còn mê mờ, chưa được giác ngộ Chân Lý,
chưa hiểu biết Chánh Pháp, chúng ta phải hành theo sự sám
hối. Nghĩa là đối trước tôn tượng chư Phật, chư
Bồ Tát, chúng ta phải hành lễ bái, tỏ bày sám hối, mong
diệt nghiệp chướng, tội chướng, siêng năng tinh tấn, mỗi
tháng hai lần.
Mỗi
lần như vậy, chúng ta đọc bài kệ như sau:
Ngã
tích sở tạo chư ác nghiệp.
Giai
do vô thủy tham sân si.
Tùng
thân khẩu ý chi sở sanh.
Nhứt
thiết ngã kim giai sám hối.
Nghĩa
là chúng ta đã tạo không biết bao nhiêu ác nghiệp từ xưa
đến giờ, đều do ba điều độc hại: tham lam, sân hận và
si mê, thể hiện qua ba hình thức: thân hành động, khẩu nói
năng, ý suy nghĩ. Tất cả những tội lỗi đó, những nghiệp
bất thiện, những nghiệp ác đó, chúng ta đều thành tâm
thực lòng, ăn năn sám hối, quyết tâm chừa bỏ, không dám
tái phạm, cố gắng gìn giữ tam nghiệp thân khẩu ý cho được
thanh tịnh.
Trong
kinh sách có câu:
"Ngã
thân ảnh hiện chư Phật tiền",
tức
là: "Trước bảo tọa thân con ảnh hiện".
Nghĩa
là đối trước tôn tượng chư Phật, chúng ta hiện nguyên
hình con người thực của mình, phản ảnh đúng nội tâm của
mình, để thành tâm phát lồ sám hối, không che dấu bất
cứ điều gì cả. Chúng ta có thể che dấu tội lỗi,
che dấu tật xấu, đối với người đời, chứ đối với
chư Phật, đúng ra đối với Phật Tâm của chúng ta, chúng
ta chẳng thể giấu giếm bất cứ điều gì. Ngày xưa,
để cho mọi người dễ hiểu, cổ nhơn giải thích đó chính
là lúc chúng ta đứng trước gương chiếu yêu, trước diêm
vương cảnh đài, bất cứ việc gì chúng ta đã làm, đã nói,
đã nghĩ, trong suốt cuộc đời đều hiện ra hết tất cả.
* *
Nay
nói về "Lý Sám Hối".
Trong
Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy:
"Nhất
thiết duy tâm tạo".
Nghĩa
là muôn việc trên thế gian này đều do tâm của chúng ta tạo
ra tất cả. Tâm của chúng ta tạo ra thiên đàng.
Tâm của chúng ta tạo ra địa ngục. Thí dụ chúng ta
phát triển các tâm lượng rộng lớn, tốt đẹp như từ bi
hỷ xả, tức là chúng ta phát triển cảnh giới thiên đàng,
cực lạc và sống an lạc trong cảnh giới đó.
Nếu
chúng ta chấp chặt những thành kiến, định kiến, thiên kiến,
biên kiến, tà kiến, ác kiến, thường kiến, đoạn kiến,
phát triển những tâm lượng hẹp hòi, ích kỷ, đố kỵ,
ganh tị, tham lam, sân hận, si mê, khen mình khinh người, lợi
mình hại người, tức là chúng ta phát triển cảnh giới địa
ngục và sống bất an trong cảnh giới đó vậy.
Sự
sám hối ví như chiếc xe đạp. Nghĩa là người chỉ
biết sự sám hối thôi, không hiểu rõ lý lẽ, thì đường
tu tiến chậm. Đi chùa lạy Phật, tụng kinh bái sám,
từ lâu lắm rồi, mà sao vẫn còn bực mình nhiều chuyện
quá, phiền não vẫn còn y nguyên, có khi còn nhiều hơn lúc
trước nữa.
Lý
sám hối ví như động cơ. Nghĩa là người chỉ biết lý sám
hối thôi, không chịu hành sự, thì đường tu cũng không tiến.
Hiểu rõ lý sám hối và năng hành sự sám hối, nghĩa là "lý
sự viên dung", lý sự đầy đủ vẹn toàn, thì đường tu
tiến được rất nhanh, cũng như đi xe có gắn máy thì chạy
nhanh hơn xe đạp vậy.
Tu
tiến có nghĩa là: giảm bớt phiền não và khổ đau, sống
được cảnh giới an lạc và hạnh phúc ngay hiện đời.
Dù
theo bất cứ tôn giáo nào chăng nữa, thực ra vị giáo chủ
cũng không thể ban phước cho chúng ta được bình an, sung sướng
hay an lạc và hạnh phúc. Các ngài chỉ cho chúng ta bản đồ,
chỉ cho chúng ta phương pháp, để chúng ta tự thực hành,
tự đi đến cảnh giới an lạc và hạnh phúc mà thôi.
Như vậy mới thực là chí công vô tư vậy.
Vì
thế cho nên, những người có trí tuệ bát nhã, luôn luôn
giữ gìn tam nghiệp cho thanh tịnh, tinh tấn tu tâm dưỡng tánh,
phát tâm bồ đề, tiến tu đạo nghiệp, chứ không phải chỉ
biết cầu nguyện, van xin, cầu khẩn, khấn vái. Tại
sao vậy? Bởi lẽ chẳng được lợi ích gì, chỉ thêm
phiền não, vì cầu nguyện hoài mà không được đáp ứng
gì cả!
Cầu
không được, khổ là cái chắc.
Cầu
bất đắc, tức khổ không sai.
Có
nhiều cách tu, nhiều phương pháp, nhiều pháp môn để giúp
chúng ta dừng nghiệp và chuyển nghiệp, cho nên Phật giáo
có nhiều tông phái. Tịnh độ tông dùng câu niệm Phật,
dùng cách quán tưởng, dùng thời khóa tụng kinh, để dừng
tất cả các nghiệp. Mật tông dùng câu thần chú đà-la-ni
để dừng tất cả các nghiệp. Thiền tông dùng pháp
khán thoại đầu, dùng công án nhà thiền, hay dùng "pháp đối
cảnh vô tâm", hay "pháp tri vọng", để dừng tất cả các
nghiệp.
Dừng
được một phần của "ba nghiệp", chúng ta bớt được một
phần "chướng nạn" của cuộc đời. Dẹp được một
phần "nghiệp chướng" của bản thân, chúng ta hưởng được
một phần cuộc sống an lạc và hạnh phúc ngay hiện đời.
Thí dụ như bớt được chút lòng tham lam, chúng ta bớt được
chút khổ nạn, bởi vì tham thì thâm. Thí dụ như bớt
chút lòng sân hận, chúng ta bớt được chút phiền não nhức
đầu, bởi vì sân thì sinh sự. Thí dụ như bớt chút
lòng si mê, chúng ta bớt được chút khổ đau, bởi vì mê
thì mất tiền, mất của, mất tất cả!
* *
Đến
đây, chúng ta cần hiểu rõ, phân biệt rõ: thế nào là "tội
và nghiệp", và thế nào là "tội báo và nghiệp báo".
Sau một thời gian tu hành nào đó, khi tâm được thanh tịnh,
ba nghiệp không còn, thân khẩu ý hoàn toàn thanh tịnh, "tội
và nghiệp" không còn nữa, bởi vì chúng ta không còn tạo
nghiệp, không còn tạo tội.
Do
thành tâm sám hối, "tội và nghiệp mới" không còn tạo ra
nữa, nhưng tội báo và nghiệp báo, nói chung là quả báo,
từ "tội và nghiệp cũ" vẫn còn. Chúng ta đã tạo "nghiệp
nhân" thì nhứt định phải nhận "nghiệp quả", không thể
chạy đâu cho khỏi. Người đời thường gọi đó là
"số trời đã định", hay "định mệnh đã an bài", hoặc "chạy
trời không khỏi nắng", chính là nghĩa đó vậy.
Trong
Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:
Dù
cho lên non, xuống biển vào hang,
nghiệp
báo đã mang, vẫn theo con người,
như
hình với bóng, không ai có thể,
tránh
được thoát được.
Các
bậc thánh thiện là những người đã thanh tịnh được tam
nghiệp nên có cuộc sống an nhàn, tự tại trong nội tâm,
trong tâm thức. Tuy nhiên, trên hình thức bên ngoài, chúng ta
thấy cuộc sống của các vị giáo chủ, của các bậc thánh
nhơn không phải là không có sóng gió, không phải là không
có chuyện bất trắc xảy ra. Có khi các ngài vẫn bị
vu cáo, nhục mạ, phỉ báng, xét xử, kết án và thậm chí,
bị hành hình như những tội phạm hình sự.
Tại
sao vậy? Bởi vì, các ngài tuy đã dứt hết các "tội và nghiệp"
đời này, nhưng tội báo và nghiệp báo, nói chung là "quả
báo", từ nhiều đời và nhiều kiếp trước vẫn còn, các
ngài vẫn phải trả. Các ngài, cũng như bất cứ ai, không
thể đứng ngoài luật nhân quả được.
Chẳng
hạn như: Vào cuối thế kỷ thứ ba, vị tổ thứ hai mươi
bốn là Aryasimha tuy đã đắc đạo, nhưng vẫn bị vua Kế
Tân chém đầu. Vào đầu thế kỷ thứ bảy, vị tổ
thứ hai mươi chín, là Tổ Sư Huệ Khả, bị vu cáo và bị
giam đến chết trong ngục, thọ 107 tuổi! Tổ Bá Trượng
Hoài Hải trong một buổi thuyết giảng, có gặp một ông lão,
nguyên là một vị Hòa Thượng, vì hiểu sai và giảng sai luật
nhân quả, cho là một khi con người đắc đạo rồi, thì không
phải trả quả báo, thoát ngoài luật nhân quả, cho nên phải
bị đọa 500 kiếp chồn.
Chúng
ta cũng thường hay nghĩ như vậy, cho là sám hối xong thì sạch
tội và sẽ được bình an, không tai nạn gì nữa cả, không
phải trả quả báo! Hiểu như vậy là sai! Chúng
ta thường lầm lẫn "tội nghiệp mới" với "quả báo cũ".
Chúng ta cần nên biết rằng chúng ta không thể nhờ bất cứ
ai tha tội, xóa tội, miễn tội, gánh tội thay thế cho chúng
ta được. Tại sao vậy? Bởi vì như vậy trái với
luật nhân quả, lẽ công bằng và không hợp tình, hợp lý
chút nào.
Trong
tam tạng kinh điển, Đức Phật chỉ dạy rất rõ ràng vấn
đề "tội và báo" này. Khi nào chúng ta không còn tâm
si mê muốn quịt nợ, chúng ta sẽ nhận biết được dễ dàng
hơn, thấu đáo hơn, không còn bị dối gạt, không còn lầm
lẫn nữa.
Chúng
ta thử xét thí dụ sau đây, để hiểu biết thêm về "tội
báo, nghiệp báo, quả báo, và phước báo". Theo luật
nhân quả, do hậu quả của tội lỗi đã làm, gọi là "nghiệp
nhân", con người gặp những bệnh tật, những tai nạn, những
bất trắc ở đời, gọi là "nghiệp quả hay nghiệp báo".
Con người phải gánh chịu "quả báo hay tội báo" như vậy,
ví như phải ăn một nắm muối. Phải ăn một nắm
muối thì khổ biết là bao nhiêu. Nếu như con người
có thể bỏ nắm muối vào tô nước rồi uống thì có lẽ
dễ chịu hơn chút đỉnh. Nếu như con người có thể
bỏ nắm muối vào lu nước rồi uống thì dễ chịu hơn chút
nữa. Nếu như con người có thể bỏ nắm muối đó vào
hồ nước lớn rồi uống thì chắc là câu chuyện không thành
vấn đề nữa rồi.
Nắm
muối bị bắt buộc phải ăn tượng trưng cho "tội báo, nghiệp
báo, hay quả báo", do những tội lỗi chúng ta đã làm từ
nhiều đời trước hay đời này. Nước trong tô, trong
lu, trong hồ tượng trưng cho "phước báo" ít hay nhiều, chúng
ta đã tạo được từ những việc làm phước thiện, phước
đức, trong các đời trước hay đời này. Như vậy, nếu
con người phải đền trả hoàn toàn đầy đủ những tội
lỗi do chính mình gây ra, đời trước hay đời này, thì có
khi phải tán gia bại sản, bệnh tật ngặt nghèo, nguy hại
tánh mạng. Nhưng nhờ đã làm các việc phước thiện,
nên có "phước báo" để bù đắp, cho nên hoàn cảnh
khổ đau, tai nạn có thể được giảm bớt hay hóa giải đi.
Chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không. Ví như con
người có tiền tiết kiệm để dành, có thể đem trả, trừ
bớt nợ hay trừ dứt nợ xưa vậy.
Bởi
vậy, làm việc phước thiện, tạo phước đức, có phước
báo, để tiêu trừ tội nghiệp là thái độ tích cực và
hợp đạo lý, đối với bất cứ ai trên thế gian này, hơn
là việc cầu nguyện thượng đế để xin xá tội, để chạy
tội, hoặc đổ hết tội lỗi của mình cho thượng đế gánh
giùm! Thật là thảm thương thay cho thượng đế do con
người đặt ra, tưởng tượng ra, để gánh vác hết tội
lỗi của nhân loại trên thế gian này! Con người vốn
hay muốn quịt nợ, muốn trốn tránh trách nhiệm, không sợ
nhân chỉ sợ quả, không bao giờ nhìn nhận những việc sơ
sót, sai trái, tội lỗi, lỗi lầm, chính mình đã làm, chỉ
biết trách cứ người khác, đổ thừa tại người này, đổ
thừa tại việc kia, không bao giờ dám nhận là "tại mình",
không bao giờ chịu nhận là "lỗi tại tôi mọi đàng".
Tại sao vậy? Bởi vì con người không hiểu thấu đáo,
không biết tin sâu luật nhân quả vậy.
* *
*
Tóm
lại, trong kinh sách, Đức Phật có dạy:
Tam
nghiệp hằng thanh tịnh.
Đồng
Phật vãng tây phương.
Nghĩa
là nếu như lúc nào ba nghiệp của chúng ta đều thanh tịnh,
lặng yên, trong sáng, thân không sát sanh, trộm cắp, tà dâm,
khẩu không nói dối, không nói lời thị phi, không đâm bị
thóc thọc bị gạo, không xuyên tạc phỉ báng, không vu khống
cáo gian, ý không còn tham lam, sân hận, si mê, thì chắc chắn
chúng ta sẽ được an lạc và hạnh phúc hiện đời, sẽ cùng
chư Phật về cõi tây phương cực lạc sau này. Những
người không thấu hiểu lẽ này, nên nghĩ là có thể "đới
nghiệp vãng sanh", tức là còn mang nghiệp mà vẫn có thể
vãng sanh tây phương, nhờ vào câu niệm Phật A Di Đà.
Đó là một sự suy nghĩ sai lầm lớn lao của người tu đạo,
không đúng Chánh Pháp.
Trong
Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy:
Tất
cả nghiệp chướng đều do vọng tưởng,
nếu
muốn sám hối,
hãy
ngồi tĩnh tâm quán sát thực tướng.
Nghĩa
là khi quán sát thực tướng, nếu người nào biết được
tánh chúng sanh là tánh niết bàn thì người ấy cùng cực
giải thoát.
Trong
kinh sách có câu:
"Phật
và chúng sanh tánh thường rỗng lặng",
hay:
"Năng lễ sở lễ tánh không tịch".
chính
là nghĩa này vậy.
Xét
cho đến ngọn nguồn, tội nghiệp đều do vọng tưởng điên
đảo mà sinh ra. Nhưng tâm vọng tưởng điên đảo ấy cũng
như luồng gió giữa chốn hư không, chẳng có chỗ nào trụ,
chẳng có chỗ nào dính mắc.
Khi
chưa thấu hiểu chân lý, mang mang mờ mờ mịt mịt, cho nên
chúng ta mới gây tội nghiệp, nhưng lại chỉ thấy tội nghiệp
của người khác. Đến khi rõ lý lẽ, tất cả tội lỗi
trước đây thảy đều tiêu diệt, bởi chúng ta đã thấy
tội nghiệp của chính mình. Lúc ấy mới biết một cách
rốt ráo, tất cả đều là không: không có tội lỗi gì để
mà tiêu diệt, không có tội nghiệp gì để mà tạo tác, không
thấy có nghiệp báo gì để mà gánh chịu, cũng không còn
sanh tử luân hồi nữa vậy.