Không
có, có không
Trong
đời sống hằng ngày, chúng ta có rất nhiều thắc mắc, có
nhiều vấn đề cần phải giải quyết, chẳng hạn như là:
Trong đạo Phật thường nói "có không, không có", ý nghĩa
thế nào?
* *
*
Từ
ngữ "có không, không có" xuất phát từ câu sau đây trong bài
kinh Bát Nhã:
Sắc
bất dị không, không bất dị sắc.
Sắc
tức thị không, không tức thị sắc.
Nghĩa
là: "Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc
tức là không, không tức là sắc". Từ ngữ "sắc" dùng
để chỉ tất cả những vật "có" hình tướng. Chẳng
hạn như là: thân người, cái bàn, cái ghế, cái cây, ngọn
cỏ, dãy núi, v.v. . . Từ ngữ "không" dùng để chỉ tánh không
của muôn pháp, của mọi sự sự vật vật, đều không tồn
tại vĩnh viễn, không thường còn, luôn luôn đổi thay, thường
hay thay đổi.
Chúng
ta đã tìm hiểu qua thế nào là chấp ngã và chấp pháp.
Vượt qua được chấp ngã và chấp pháp, tức là chúng ta
đã vượt qua được hết thảy mọi khổ ách. Tại sao
như vậy? Bởi vì, sắc và không chẳng có gì khác nhau,
còn và mất cũng vậy, tuy không đồng nhau, nhưng không làm
loạn động con người biết tu tâm dưỡng tánh.
Chẳng
hạn như là: một cái đồng hồ do nhiều thứ ráp lại tạo
thành. Có người tò mò tháo rời từng bộ phận ra, rồi
không biết ráp lại, thì cái đồng hồ không còn nữa.
Hoặc giả đến một lúc nào đó, lâu hay mau, sớm hay muộn,
chúng ta cần tiền đem bán, hoặc đem cho người khác, hoặc
cái đồng hồ bị hư hoại, thì cũng không còn nữa.
Ngay khi cái đồng hồ còn hiện tiền, chúng ta đã hiểu biết
bản chất của nó là không, tức là không tồn tại vĩnh viễn.
Cho
nên mọi chuyện biến đổi đối với cái đồng hồ không
làm cho chúng ta ngạc nhiên, không làm cho chúng ta phiền não
và khổ đau, tức là chúng ta được an nhiên tự tại, trước
sự còn mất của cái đồng hồ, nói riêng, trước sự còn
mất (có và không) của tất cả muôn pháp trên thế gian, kể
cả sự còn mất cái mạng sống của chúng ta, nói chung.
Chẳng
hạn như là: một căn nhà tiền chế có thể tháo ráp được.
Khi chưa được ráp lại, đó chỉ là một đống vật liệu
như là: cây, gổ, sắt, gạch, đá, ngói, xi măng, khung cửa,
máng xối, vân vân, chưa phải là căn nhà. Khi ráp xong
rồi, đó mới được gọi là căn nhà. Như vậy, bản
chất của căn nhà vốn là không. Do duyên hợp nên căn
nhà tạm có. Khi hết duyên, cái nhà rã ra, trở thành
đống gạch vụn, không còn là căn nhà nữa vậy. Trong
Kinh Bát Nhã, đó là: "chân không diệu hữu".
Trong
Kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy:
"Phàm
sở hữu tướng giai thị hư vọng".
Nghĩa
là: tất cả mọi thứ trên thế gian có hình tướng, nhỏ
như hạt cải, cái bàn cái ghế, cái nhà cái xe, to lớn như
dãy núi, hay quả địa cầu, tất cả đều hư vọng, không
tồn tại vĩnh viễn, có ngày cũng biến hoại, sau vài chục
năm, vài trăm năm, hoặc vài chục triệu năm. Cũng vậy,
cái thân tứ đại gồm có: đất, nước, gió, lửa, hay còn
gọi là cái thân ngũ uẩn gồm có: sắc, thọ, tưởng, hành,
thức, của con người cũng như vậy mà thôi.
Còn
đối với các pháp trên thế gian, chuyện gì có cũng như không,
không có chuyện gì tồn tại vĩnh viễn, lâu dài. Con
người thấy đó mất đó, khỏe đó bệnh đó, vinh có nhục
có, sướng có khổ có, thay đổi liên miên. Cho nên khi
đắc thời được thế, con người không nên kiêu căng phách
lối, ngạo mạn khinh người. Tại sao như vậy? Bởi
vì, chuyện đó không chắc tồn tại được lâu đâu!
Hoặc
khi gặp chuyện bất bình bực bội, xui xẻo rắc rối, hư
hại thất bại xảy ra, con người cũng đừng để tâm trí
rối loạn quá đáng. Tại sao như vậy? Bởi vì,
chúng ta biết rằng: chuyện gì rồi cũng qua đi, chỉ sớm
hay muộn, chóng hay chầy, mà thôi. Cố gắng giữ sự
bình tĩnh thản nhiên, được bao nhiêu tốt bấy nhiêu.
Một
cơn giận tới, do bị chửi mắng sỉ nhục, do bị công kích
khiêu khích, do bị phân biệt đối xử, một cách bất công,
do bị vu oan giá họa, nói chung, do bị ngoại cảnh chi phối,
do người đời chung quanh gây nên, là điều không thể tránh
được.
Chúng
ta nên quán chiếu: cơn giận đó không thiệt, không tồn tại
lâu, chỉ quấy động tâm sân của mình, không nhằm nhò gì
đến con người chân thật của mình, vốn bình tĩnh thản
nhiên, vốn thanh tịnh thường hằng. Chúng ta không theo cơn
giận đang khởi lên, cơn giận đó sẽ qua mau, sẽ tan biến,
sẽ lắng xuống. Mây đen tan biến, bầu trời quang đãng.
Tuy nhiên, cơn giận qua mau hay chậm, tùy theo năng lực tu tập,
công phu quán chiếu, khả năng hành trì của mỗi người.
Chúng ta không theo, cơn giận sẽ nguội dần. Mọi sự
mọi việc sẽ bình yên.
Ngược
lại, chúng ta theo cơn giận đó, đi gây sự, sinh sự thì sự
sinh ra ngay. Thí dụ như tức quá nhịn không nổi, phản
ứng ngay tại chỗ: chửi cấp trên thì bị mất việc, đánh
người thì bị phạt, giết người thì ở tù. Một chuỗi
hậu quả liên tục sẽ đổ ập lên đầu chúng ta, tiếp theo
ngay sau cơn giận của mình, khó lường trước được.
Khi gặp nghịch cảnh, không chịu dùng trí tuệ bát nhã quán
chiếu, chúng ta càng cầu mong chuyện qua mau, chuyện lại càng
chẳng chịu qua. Cứ để tự nhiên, đến đâu đối phó
đến đó, lo lắng quá nhiều, buồn bực thái quá, sức khỏe
suy yếu, không ích lợi gì.
"Sắc"
và "không" là hai từ ngữ chỉ sự đối đãi trong cảnh giới
tương đối. Khi còn ở trong cảnh giới tương đối,
con người vẫn còn phiền não và khổ đau, cho nên trong kinh
sách gọi là còn trong vòng sanh tử luân hồi. Chẳng hạn
như là: con người còn thương thương ghét ghét, còn đúng
sai phải quấy, còn thị phi nhơn ngã, tức là còn khổ đau
phiền não. Chẳng hạn như là: chấp chặt sự quan trọng của
mặt mũi, địa vị, danh vọng, tiền bạc, của cải, sự nghiệp,
tức là còn phiền não khổ đau.
Không
có cái gì trên đời này tồn tại vĩnh viễn.
Bản
chất của muôn pháp là không.
Hiểu
biết được như vậy, chúng ta phá được chấp ngã và chấp
pháp, tâm của mình mới được thanh tịnh. Không bị
cảnh trần chi phối, lôi cuốn, tức là không còn phiền não
khổ đau, thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi, chính là nghĩa
đó vậy. Đó là tinh thần bát nhã, còn gọi là "pháp
môn bất nhị". Bất nhị nghĩa là: không hai, cũng không
phải là một. Nói hai cũng trật, nói một cũng sai, cho
nên gọi là: "KHÔNG HAI".
Chúng
ta tạm dùng thí dụ sau đây cho dễ hiểu. Người đời
thường nói: "Tuy hai mà một. Tuy một mà hai". Câu đó thường
dùng để chỉ những cặp vợ chồng hòa thuận đồng lòng,
nhứt tâm nhứt trí, trong mọi vấn đề, trong mọi hoàn cảnh,
trong mọi trường hợp. Tuy là hai người khác nhau, nhưng
họ chỉ có một ý kiến, có một quyết định, khi cần chỉ
hỏi một người cũng đủ, cũng như hỏi người kia.
Họ cũng như một người về mặt tinh thần, nhưng thực tế
họ là hai.
Chúng
ta thử xét thí dụ khác: Mặt biển lúc nổi sóng và mặt
biển lúc thanh bình, tuy là hai trạng thái hoàn toàn khác nhau,
nhưng không phải là hai biển. Cũng vậy, tâm chúng ta
lúc bình tĩnh thản nhiên và lúc nổi cơn tức giận, không
hai, nhưng cũng không phải một. Tuy hai mà một, tuy một
mà hai, chính là nghĩa đó vậy.
Chúng
ta thử xét thí dụ khác: Cái gương soi lúc dính bụi và lúc
trong sáng không phải hai, nhưng cũng không phải một.
Lúc dính bụi, hình ảnh hiện ra không rõ. Lúc trong sáng,
mọi hình ảnh đều rất rõ ràng, không nhầm lẫn.
Trong
cảnh giới tương đối, chúng ta thấy có cái này thì phải
có cái kia. Chẳng hạn như có sáng thì có tối, có đúng
thì có sai, có thương thì có ghét, có phải thì có quấy,
có "có" thì cũng có "không". Chấp một bên thì chúng ta khổ
đau ngay, phiền não ngay. Đó còn gọi là cảnh giới nhị
biên, hay biên kiến, người đời gọi là cực đoan. Khi
nào chúng ta phát huy được trí tuệ bát nhã, vượt ra khỏi
vòng tương đối, chúng ta sẽ hết phiền não và khổ đau,
sẽ được giác ngộ và giải thoát, sẽ được an lạc và
hạnh phúc, sẽ được an nhiên và tự tại.
Chẳng
hạn như khi vào một căn phòng không có mùi thơm, không có
mùi hôi, tâm chúng ta vẫn bình thản. Chẳng hạn như
khi gặp một người, nếu không quan tâm chuyện thương ghét,
tâm chúng ta vẫn bình thản. Chẳng hạn như khi đi ngoài đường,
dù gặp cảnh và gặp người rất nhiều, nhưng khi về đến
nhà, nếu tâm không dính mắc, tâm chúng ta vẫn bình thản.
Nếu ra đường gặp kẻ thù, gặp chuyện bực bội, tâm liền
dính mắc, mang theo hình ảnh đó về đến nhà, tâm chúng ta
sẽ bất an, gia đình không hạnh phúc.
* *
*
Tóm
lại, có hay không, không hay có, có và không, không và có,
tùy theo tâm niệm của chúng ta. Tâm niệm của chúng ta
còn quá lăng xăng lộn xộn, thì cái gì cũng có. Phiền
não khổ đau có. Sanh tử luân hồi có. Nếu chúng
ta tu tâm dưỡng tánh, đạt đến cảnh giới "vô tâm", tức
là tâm không còn lăng xăng lộn xộn, thì tâm được an lạc,
cuộc sống được hạnh phúc.