Dâng
sớ cầu an
Cúng
sao giải hạn
Dâng
sớ cầu an
Tiền
mất tật mang
Cúng
sao giải hạn
Tai
nạn vẫn tới
Thiền
môn chân chánh
Dạy
người thực hành
Tu
tâm dưỡng tánh
Theo
bát chánh đạo
Việc
ác không làm
Nên
làm việc thiện
Giữ
tâm thanh tịnh
Như
chư Phật dạy
Trong
đời sống này,
chúng
ta thường gặp,
những
chuyện may rũi,
được
mất hên xui,
vui
buồn lẫn lộn,
lúc
được tán thán,
khi
bị phỉ báng,
lên
voi xuống chó,
có
lúc lên hương,
có
khi xuống bùn,
lúc
vinh lúc nhục,
khi
sướng khi khổ.
Những
lúc vui sướng,
cuộc
đời lên hương,
chúng
ta thụ hưởng,
phủ
phê hỉ hả,
không
nhớ gì cả.
Những
khi quá khổ,
chịu
đựng không thấu,
chới
với đảo điên,
chúng
ta bèn nhớ,
cầu
nguyện khấn vái,
van
xin thần linh,
khẩn
cầu thượng đế,
ban
cho phép lành,
làm
ra phép lạ,
hy
vọng cầu may,
đổi
thay vận số.
Bởi
vậy cho nên,
mỗi
dịp đầu năm,
sau
tết nguyên đán,
vào
đầu tháng giêng,
chúng
ta thường hay,
vào
chùa dâng sớ,
cúng
sao giải hạn,
nạn
khỏi tai qua,
toàn
gia vô sự,
kể
từ đầu năm,
chí
những cuối năm,
buôn
may bán đắt,
một
vốn bốn lời,
nhất
bổn vạn lợi,
con
cháu đỗ đạt,
tiền
bạc như nước,
sắm
xe tậu nhà,
tha
hồ sung sướng.
Những
chuyện cầu nguyện,
van
xin như vậy,
có
thực hay không,
có
được gì không?
Người
thì nói có,
hễ
cầu thì được,
linh
ứng vô cùng,
nên
tin là có,
mất
mát gì đâu.
Kẻ
lại nói không,
trông
chi chuyện đó,
nằm
mơ thì có,
mở
mắt tay không,
không
vẫn hoàn không,
uổng
công dâng sớ,
mất
tiền cúng sao,
điều
đó có thực!
Chúng
ta cùng nhau,
xét
thử xem sao,
cái
chuyện dâng sớ,
cúng
sao giải hạn,
có
đúng chánh pháp,
có
ích lợi gì,
thực
tế hay không?
* *
*
Thực
ra nếu như,
chúng
ta tu nhân,
tích
phước nhiều đời,
từ
trước đến nay,
thì
được gặp may,
không
cần cầu nguyện,
chẳng
cần dâng sớ,
cúng
sao giải hạn.
Những
người khác đạo,
nếu
họ có phước,
họ
vẫn gặp may,
tiêu
tai khỏi nạn,
tam
tai đại hạn,
chẳng
nghĩa lý gì,
chẳng
cần cúng sao,
tào
lao quá xá!
Tại
sao như vậy?
Bởi
vì xưa nay,
nhiều
người dâng sớ,
cúng
sao giải hạn,
tai
nạn vẫn tới,
mới
giải thích sao?
Chúng
ta giúp người,
gặp
chuyện khó khăn,
khốn
khó khổ đau,
chúng
ta được phước,
dù
không mong cầu.
Chúng
ta tu tập,
hạnh
nguyện bố thí,
tài
thí pháp thí,
cùng
vô úy thí,
cứu
nhân độ thế,
giúp
đỡ tiền của,
giúp
công giúp sức,
giúp
lời chỉ dẫn,
khuyên
lơn an ủi,
cho
người bớt khổ,
bớt
cơn sợ hãi,
thấy
đâu là phải,
việc
đúng thì làm,
cho
đúng chánh đạo.
Làm
được như vậy,
chúng
ta được phước,
dù
không mong cầu,
chắc
chắn không nghi.
Khi
tích được phước,
dù
ít hay nhiều,
phước
báu lai đáo,
chúng
ta gặp may,
tai
qua nạn khỏi,
gặp
thầy gặp thuốc,
bệnh
tật tiêu trừ,
tưởng
như phép lạ.
Trên
chuyến phi cơ,
xe
hơi tàu thủy,
những
khi gặp nạn,
người
nào phước đức,
thoát
được hiểm nguy,
một
cách lạ lùng,
tưởng
chừng phép lạ,
người
đời gọi là:
số
hên mạng lớn.
Người
nào kém phước,
cũng
được người cứu,
hậm
hơn một chút,
người
đời gọi là:
cũng
còn gặp hên,
nên
còn cứu kịp.
Người
nào vô phước,
ác
nhân thất đức,
chết
chẳng toàn thây,
người
đời gọi là:
tới
số mạng vong,
không
ai cứu nổi.
Lúc
gặp hiểm nguy,
người
cầu Đức Mẹ,
kẻ
khấn Quán Âm,
nếu
như cả hai,
cùng
được thoát hiểm,
vị
nào cứu họ,
còn
nếu cả hai,
đều
bị thảm tai,
hai
vị ở đâu,
chẳng
nghe kêu cứu,
nghe
kêu chẳng cứu?
Thực
ra đó là:
chẳng
có vị nào,
cứu
hay không cứu,
khi
người gặp nạn.
Chúng
ta nên biết:
chỉ
có phước báu,
cứu
người giúp người,
khi
gặp tai biến,
dù
ở nơi đâu,
trên
không trên đất,
trên
biển trên sông,
còn
phước thì sống,
hết
phước mạng vong,
gọi
là tới số!
Trong
Kinh A Hàm,
Đức
Phật có dạy:
"Chỉ
có phước báo,
mới
có thể làm,
giảm
thiểu nghiệp báo".
Phước
báu là do,
chính
chúng ta tạo,
chứ
không phải do,
thượng
đế ban cho,
hay
do cầu nguyện.
Nếu
cầu nguyện được,
tại
sao nhiều người,
cùng
cầu cùng nguyện,
kẻ
chết người sống,
kẻ
qua người vướng?
Chúng
ta cũng biết:
người
nào tích phước,
từ
trước đến nay,
không
cần cầu nguyện,
cuộc
đời cũng an,
ít
gặp nguy nan,
ít
có sóng gió,
ít
có trắc trở,
đở
bớt phiền muộn,
tai
qua nạn khỏi,
chuyện
lớn hóa nhỏ,
chuyện
nhỏ hóa không,
chuyện
khó hoá dễ.
Còn
như cầu nguyện,
mà
không tích phước,
thì
cũng như không,
chẳng
nên trông mong,
phép
lạ xảy đến!
Nghiệp
báo cũng do,
chính
chúng ta tạo,
chứ
không phải do,
thượng
đế thần linh,
hay
bất cứ ai,
xúi
bảo mình làm.
Chính
do tâm tham,
xui
khiến chúng ta,
cầu
xin tiền tài,
giàu
sang sung sướng,
một
chút phẩm vật,
nhỏ
nhoi chút xíu,
dâng
cúng cho chùa,
nhà
thờ đền miếu,
cầu
xin bạc triệu,
cầu
đủ thứ chuyện,
danh
lợi tài sắc,
những
thứ phù du,
Đức
Phật khuyên tu,
chúng
ta nên bỏ.
Chính
do tâm sân,
xui
khiến chúng ta,
cầu
xin thắng kiện,
tàn
hại kẻ thù,
triệt
hạ đối thủ,
người
mình không ưa,
vui
mừng khi thấy,
kẻ
thù thê thảm,
sống
trong khổ nhục,
chết
cũng không xong,
chúng
ta hài lòng.
Chính
do tâm si,
xui
khiến chúng ta,
cầu
nguyện vãng sanh,
tây
phương cực lạc,
mà
không cần tu,
không
gìn giữ giới,
ngay
trong hiện đời,
đợi
đến sắp chết,
niệm
Phật mười tiếng,
liền
được rước lên,
cảnh
giới Di Đà,
thiệt
là vô minh.
* *
Trong
Kinh A Hàm,
Đức
Phật có dạy,
thí
dụ như sau:
Nếu
người phải bị,
nuốt
một nắm muối,
thì
sẽ đau khổ,
biết
là dường nào.
Nhưng
nếu đem bỏ,
nắm
muối đó vào,
một
tô nước nhỏ,
rồi
mới phải uống,
thì
sẽ dễ chịu,
hơn
một chút xíu.
Nếu
bỏ nắm muối,
vào
một lu nước,
rồi
mới phải uống,
thì
sẽ dễ chịu,
nhiều
hơn chút nữa.
Nếu
bỏ nắm muối,
vào
hồ nước lớn,
rồi
mới uống vào,
thì
chuyện sẽ không,
thành
vấn đề nữa.
Nắm
muối tượng trưng,
cho
các nghiệp nhân,
bất
thiện chẳng lành,
con
người đã tạo,
từ
trước đến nay,
bây
giờ phải lãnh,
nghiệp
quả nghiệp báo,
nói
chung đó là:
quả
báo khổ đau,
không
sao tránh khỏi.
Chỉ
có phước báo,
ít
hay là nhiều,
tượng
trưng tô nước,
lu
nước hồ nước,
mới
có thể giúp,
con
người vượt qua,
đau
khổ mà thôi.
Đó
mới thực là:
chí
công vô tư.
Mình
làm mình hưởng.
Mình
làm mình chịu.
Con
người nên lo,
dừng
nghiệp chuyển nghiệp,
đừng
làm bậy bạ,
đừng
nói người ta,
làm
tốt làm xấu,
đừng
nghĩ vẫn vơ,
ngay
từ bây giờ,
đừng
đợi đến khi,
nghiệp
báo xảy ra,
dù
có rên la,
van
xin cầu khẩn,
thì
cũng muộn màng!
Cầu
nguyện van xin,
dù
tin hay không,
thực
sự chẳng giúp,
chẳng
ích gì đâu.
Tại
sao như vậy?
Bởi
vì các vị,
giáo
chủ giáo phẩm,
giáo
quyền cao cấp,
giáo
hội trung ương,
giáo
sĩ địa phương,
tai
ương đã đến,
cũng
phải trả nghiệp,
đã
tạo trước kia,
nhiều
đời nhiều kiếp,
ngay
trong kiếp này,
cũng
bị nguyền rủa,
vu
khống cáo gian,
xử
án khổ nạn,
ám
sát giết hại,
một
cách thê thảm,
không
chỗ chôn thây!
Trong
Kinh A Hàm,
Đức
Phật có dạy:
"Dù cho lên non,
xuống
biển vào hang,
nghiệp
báo đã mang,
vẫn
theo con người,
như
hình với bóng,
không
ai có thể,
tránh
được thoát được".
* *
*
Tóm
lại xưa nay,
cuộc
đời đổi thay,
vui
buồn sướng khổ,
cũng
tại con người,
tạo
phước cũng có,
tạo
nghiệp cũng có,
tạo
phước hưởng phước,
hưởng
phước báo lành,
tạo
nhân lãnh quả,
nhân
thiện quả hiền,
nghiệp
ác quả dữ.
Luật
nhân quả đó,
áp
dụng ba đời,
chẳng
hề sai chạy,
chẳng
vị nể ai,
bất
cứ người nào,
nếu
đã gieo nhân,
cũng
đều gặt quả.
Trong
sách có câu:
"Lưới
trời tuy thưa, mà chưa ai lọt".
Thượng
đế thần linh,
ơn
trên linh thiêng,
chí
công vô tư,
không
bao giờ làm,
theo
lời cầu nguyện,
van
xin khấn vái,
của
những con người,
chẳng
tích phước đức,
lại
gây ác nhân,
thất
đức vô cùng:
nay
đâm bị thóc,
mai
thọc bị gạo,
vu
khống cáo gian,
khai
man hoàn cảnh,
lợi
dụng pháp luật,
chuyên
kiện tụng người,
kiếm
tiền bất chánh,
giựt
hụi quịt nợ,
sang
đoạt tài sản,
chiếm
hữu bản quyền,
làm
tiền trắng trợn,
hung
tợn hiếp người,
bần
cùng cô thế,
bất
kể khổ đau,
của
bao người khác.
Ngày
xưa chư tổ,
có
lòng dạy dỗ,
con
người hướng thiện,
làm
lành lánh dữ,
tạo
nên phương tiện,
cúng
sao giải hạn,
dâng
sớ cầu an,
mục
đích khuyến dụ,
con
người về chùa,
cúng
kiến lễ lạy,
mong
cầu an tâm,
gia
đạo hòa bình,
rồi
nhân dịp đó,
giảng
dạy chánh kiến,
truyền
bá chánh pháp,
đọc
tụng kinh điển,
niệm
Phật ngồi thiền,
tu
tâm dưỡng tánh,
giúp
đỡ con người,
giác
ngộ chân lý,
thấy
được sự thực,
giải
thoát khổ đau,
xây
dựng cuộc sống,
an
lạc hạnh phúc.
Ngày
nay chúng ta,
tâm
Phật tâm ma,
lẫn
lộn khó phân,
cho
nên tạm dùng,
xử
dụng phương tiện,
cúng
sao giải hạn,
dâng
sớ cầu an,
khi
còn hoang mang,
lúc
chưa hiểu đạo,
chẳng
biết làm sao,
cho
đúng chánh pháp.
Giờ
đây thấu hiểu,
rõ
ràng không nghi,
chúng
ta phát nguyện,
dừng
nghiệp chuyển nghiệp,
quày
đầu hướng thiện,
tu
tâm dưỡng tánh,
tránh
làm điều ác,
chỉ
làm điều thiện,
giữ
tâm thanh tịnh,
tích
cực chuyển hóa,
cuộc
sống tâm linh,
của
bản thân mình,
ngày
được tốt hơn,
tâm
được an hơn,
như
vậy thực tế,
những
người chung quanh,
cùng
chung phúc lạc,
cho
đến một ngày,
ngộ
được chánh đạo,
đạt
được đỉnh cao:
niết
bàn giải thoát.