Phước
Báu
Trong
cuộc sống hằng ngày chúng ta thường nghe nói: Người này
"có phước" quá, cho nên mới được vừa giàu sang, vừa học
giỏi, vừa đẹp đẽ, vừa mạnh khỏe, vừa may mắn, cầu
con được con, cầu của được của, vạn sự như ý, tùy
tâm mãn nguyện. Hoặc cũng có khi chúng ta nghe nói: Người
này "bạc phước" quá, cho nên làm chuyện gì cũng thua lỗ,
tính toán việc gì cũng hỏng, muốn gì cũng không nên, cầu
gì cũng chẳng được, tai họa xảy ra tới tấp, gặp xui xẻo
liên miên! Khi được may mắn, khi được sung sướng, khi được
những sự như ý, khi được tất cả những điều gọi là
"có phước", người đời thường nghĩ rằng, cho rằng: mình
có phước báu như vậy là do trời thương, trời ban cho mình!
Những người đó không chịu tìm hiểu thêm: Tại sao ông trời
lại thương mình và ban cho mình phước báu như vậy, mà không
ban cho biết bao nhiêu người khác? Như vậy có phải là bất
công chăng? Như vậy có đúng chăng? Tại sao con người lại
có ý nghĩ như vậy?
Sở
dĩ con người có ý nghĩ như vậy là do tâm ích kỷ nhiều
đời, do tập khí tham lam bỏn sẻn, do tánh ganh tị đố kỵ
mà ra. Con người khi được sung sướng, thì mặc kệ người
khác ra sao, chẳng bận tâm đoái hoài, đó là tâm ích kỷ.
Con người khi được toại nguyện, muốn gì được nấy, thì
mặc kệ người khác ra sao, thậm chí trong lòng còn chẳng
muốn ai khác được như vậy, đó là tập khí tham lam bỏn
sẻn. Con người khi được thành công thắng lợi, thì mặc
kệ người khác ra sao, chẳng muốn ai khác bằng mình hay hơn
mình, đó là tánh ganh tị đố kỵ vậy.
Thực
ra, không có ông trời, thượng đế, hay đấng tạo hóa nào
làm những chuyện bất công, thiên vị như vậy. Những "phước
báu" chúng ta đã hưởng, đang hưởng, và sẽ hưởng, chính
do chúng ta đã tạo trong nhiều kiếp trước và ngay trong kiếp
này. "Mình làm mình chịu, mình làm mình hưởng" mới là lẽ
công bằng tuyệt đối vậy. Cũng không ít người thắc mắc:
Làm sao biết mình "có phước" hay không? Làm sao để tạo phước?
Ðồng thời chúng ta cũng cần nên biết: thế nào là phước
hữu lậu và thế nào là phước vô lậu? Và khi làm phước
giúp đỡ ai điều gì, mình nên nguyện như thế nào?
* *
*
Trên
thế gian này, nếu ngước nhìn lên chúng ta sẽ thấy không
biết bao nhiêu người giàu sang hơn mình, học thức hơn mình,
khỏe mạnh hơn mình, sung sướng hơn mình, đẹp đẽ hơn mình,
địa vị hơn mình, quyền thế hơn mình, may mắn hơn mình,
nhàn nhã hơn mình, bình yên hơn mình, thông minh hơn mình, sáng
suốt hơn mình, nhứt là không biết bao nhiêu người tu tập
giác ngộ hơn mình, được an lạc và hạnh phúc hơn mình.
Những người như vậy chính là những người "có phước"
hơn mình. Trái lại, khi nhìn xuống chúng ta sẽ thấy không
biết bao nhiêu người nghèo hèn hơn mình, dốt nát hơn mình,
yếu đuối hơn mình, khổ sở hơn mình, xấu xí hơn mình,
thấp kém hơn mình, cô thế hơn mình, xui xẻo hơn mình, cực
khổ hơn mình, hoạn nạn hơn mình, đần độn hơn mình, tối
tăm hơn mình, nhứt là không biết bao nhiêu người không được
sống an lạc và hạnh phúc như mình. Những người như vậy
chính là những người "bạc phước" hơn mình.
Như
vậy, rõ ràng chúng ta được gọi là "có phước", hay đang
thọ hưởng "phước báo", nếu như chúng ta có đủ tay chân,
mắt mũi vẹn toàn, cơm ăn áo mặc, khỏe mạnh ít đau, sống
lâu trăm tuổi, tâm trí bình thường, gia đình hạnh phúc,
cuộc sống tương đối đầy đủ, cuộc đời tương đối
bình yên, không gặp hoạn nạn, không gặp hiểm nguy, không
gặp tai biến, không gặp chiến tranh, không gặp đói khát,
không gặp kẻ thù, không gặp thiên tai, hỏa hoạn động đất,
bão lụt cuồng phong. Khi nào bị đau mắt, không còn nhìn thấy
được gì nữa cả, chúng ta mới thấy giá trị của đôi
mắt, giá trị của thị giác, mà hằng ngày chúng ta không
lưu tâm. Ðến khi gặp thầy gặp thuốc, được chữa lành
bệnh, đôi mắt trở lại như xưa, chúng ta mới thấy là mình
đang "có phước"! Hoặc khi nào bị bệnh bại xuội cả hai
chân, không còn đi đứng được bình thường, phải dùng xe
lăn. Ðến khi khỏi bệnh, được bình phục như xưa, chúng
ta mới thấy là mình đang "có phước"!
Thí
dụ như trên một chuyến máy bay, một chuyến tàu thủy hay
một chuyến xe lửa gặp tai nạn, hằng trăm người thương
tích tử vong, những người được sống sót chính là những
người "đại phước" vậy. Họ là những người theo đủ
mọi tôn giáo, thuộc đủ mọi sắc dân, thuộc đủ mọi thành
phần trong xã hội, gồm đủ mọi lứa tuổi, nhưng điểm
quan trọng là: chính họ đã "tu nhơn tích phước" nhiều đời
nhiều kiếp trước, mới được sống còn như vậy, chứ không
phải do họ cầu nguyện van xin thánh thần thiên địa gì cả,
dù là chí thành và khẩn thiết lắm, trong lúc ngộ nạn, mà
được đâu! Chúng ta thử suy nghĩ: trong khi lâm nạn, người
thì cầu Ðức Mẹ cứu giúp, người thì cầu Bồ Tát Quán
Âm cứu tai, cứu khổ, cứu nạn. Vậy, khi cả hai người cùng
thoát được nạn, vị nào thực sự đã tế độ họ? Thực
sự chính "phước báo" của mỗi người đã cứu chính họ
mà thôi. Người có "phước báo" nhiều hơn, thoát nạn một
cách an ổn hơn. Người có "phước báo" ít hơn, thoát nạn
với một chút xây xát. Người hết phước báo, không phước
báo, thì đã vong mạng!
Thậm
chí trong số những người tử vong trong các tai nạn, nhiều
trường hợp có cả các chức sắc thuộc các tôn giáo, có
cả những người đã từng đại diện thượng đế tha tội
cho nhiều người khác! Còn chính họ có tội nghiệp, đến
lúc phải trả, vẫn phải đền trả quả báo, nghiệp báo
như mọi người khác vậy! Chúng ta đọc báo cũng thấy có
những chuyến hành hương cầu nguyện của các tôn giáo, bị
lật xe trên đường đi hoặc trên đường về, gặp nạn hỏa
hoạn tại thánh địa, tại khu vực hành lễ, khiến cho hàng
trăm người, hàng ngàn người tử vong thương tích. Ðiều
này giúp cho chúng ta nhận định rất rõ ràng rằng: con người
tạo nghiệp báo, dù vô tình hay cố ý, cho đến lúc quả báo
chín mùi, lại không có phước báo che chở, thì cầu nguyện
van xin cũng chẳng ích lợi gì, chẳng có hiệu quả gì.
Trong
Kinh Pháp Cú, Ðức Phật có dạy: "Dù lên non, xuống biển,
vào hang, nghiệp báo vẫn theo con người như hình với bóng,
không ai có thể tránh được". Nghĩa là nếu như con người
không biết tu nhơn tích phước, chỉ lo tạo tội tạo nghiệp,
trong cuộc sống đấu tranh giành giựt hằng ngày, cho đến
khi quả báo thuần thục, không ai có thể tránh được, dù
cho người đó là bất cứ ai trong thế gian này, không phân
biệt vua quan, chức quyền hay thường dân, giàu sang hay nghèo
hèn, học thức hay bình dân, nam phụ lão ấu, tín đồ hay
chức sắc!
Có
ông Liêm Sứ ở Hồng Châu, đến hỏi Thiền sư Mã Tổ Ðạo
Nhất: Uống rượu ăn thịt là nên hay không nên? Mã Tổ Ðạo
Nhất đáp: Uống rượu ăn thịt là cái "lộc" của ngài. Không
uống rượu ăn thịt là cái "phước" của ngài! Có phước
mới hưởng lộc. Có phước mới trường thọ. Không phước
sao được hưởng lộc, sao được trường thọ? Như vậy,
chúng ta đã tạm hiểu thế nào là "có phước". Bây giờ chúng
ta thử tìm hiểu vấn đề: trong cuộc sống hằng ngày, những
phương cách nào, những pháp môn nào, những việc làm nào,
những hành động nào, những lời nói nào, hay những ý nghĩ
nào có thể tạo "phước báu", công năng và ích lợi của
"phước báu" như thế nào?
1)
Trước tiên là Bố Thí. Hạnh bố thí là nền tảng của tất
cả các hạnh lành, là căn bản của việc thực hành giáo
pháp, luôn luôn được đề cập đến trong Phật giáo. Bản
chất của con người thế gian là luôn luôn muốn có, muốn
thêm, muốn nữa, không bao giờ thấy đủ, không bao giờ thỏa
mãn với những gì mình đang có. Cho nên, nếu được lên thiên
đàng, nếu được về cõi tây phương, mà vẫn còn giữ lòng
tham như vậy, gọi là "đới nghiệp vãng sanh", thì con người
vẫn thấy khổ đau như hiện đời vậy thôi. Muốn được
an lạc hạnh phúc hiện đời, ngay tại thế giới ta bà này,
hãy vui thích với những gì mình đang có, bởi vì mình không
thể có những gì mình thích. Mong cầu nhiều, mơ ước nhiều,
chỉ thêm nhiều đau khổ mà thôi. Thực là đơn giản!
Ðạo
Phật dạy hạnh bố thí để giúp con người dẹp lòng tham
lam ham muốn, ích kỷ hẹp hòi, gồm có tham tiền tài, tham
sắc đẹp, tham danh vọng, ham ăn ham uống, ham ngủ ham nghỉ.
Ðạo Phật dạy hạnh bố thí để đem lại an lạc và hạnh
phúc cho người đời. Tại sao vậy? Bởi vì với lòng tham
ngũ dục: tài, sắc, danh, thực, thùy, nói trên, con người
trên thế gian phải đấu tranh, giành giựt, phải dùng mọi
thủ đoạn để thỏa mãn, bất chấp sự đau khổ của kẻ
khác, bất chấp sự an nguy của chính bản thân, với bất
cứ giá nào cũng phải đoạt cho bằng được sự như ý! Không
được thỏa mãn, con người dễ nổi lòng sân hận, thù đời
ghét người, oán trời trách đất! Hạnh bố thí giúp con người
hiểu được ít nhiều sự an lành thiết thực của người
và của chính mình như thế nào. Cái gì mình tiêu xài thì
đã qua mất rồi. Cái gì mình đang có chưa chắc giữ được
lâu dài, nhưng chắc chắn rằng sẽ để lại khi qua đời.
Chỉ có những gì mình đã bố thí, đã cho ra, mới thực sự
là "của mình", mới thực sự là "phước báu", và sẽ đến
với mình các qua dạng: bình yên may mắn, tai qua nạn khỏi,
cầu gì được nấy, trong cuộc sống hằng ngày của chúng
ta.
Trong
khi thực hành hạnh bố thí, chúng ta đừng nên thắc mắc:
nếu mình quyên góp tiền bạc cho một người hay một tổ
chức nào đó, để làm việc từ thiện, nhưng họ không làm
đúng như lời họ nói, thậm chí họ còn lợi dụng lòng tốt
của nhiều người để thủ lợi, làm việc sai trái, thì mình
có được "phước báu" hay không? Tại sao vậy? Bởi vì khi
chúng ta tự nguyện, phát tâm tùy hỷ, đóng góp tịnh tài
cho một việc từ thiện, cứu người giúp đời, với tâm
vị tha bất vị kỷ, vì người quên mình, vì muốn giúp người,
không vì phước báu cho mình, thì chúng ta đã có "phước báu"
ngay tại chỗ đó rồi, ngay từ lúc phát tâm tùy hỷ như vậy
đó. Còn chuyện người đó, chùa đó, tổ chức đó, có làm
đúng hay không, tội nghiệp họ tạo, quả báo họ sẽ tự
nhận. Nhân nào quả nấy. Chúng ta không cần phải bận tâm!
Chúng
ta cũng được hiểu thế nào là "phước điền" cao thượng
nhứt, đó là những "ruộng phước" đem lại nhiều "phước
báu" nhứt, khi hành động tạo phước của chúng ta hướng
đến. Cũng ví như người nông dân hiểu biết đám ruộng
nào phì nhiêu, trồng trọt sẽ cho năng suất cao nhứt. Phước
điền cao thượng đó chính là bốn ơn nặng, hay tứ trọng
ân, gồm có: ơn cha mẹ, ơn thầy bạn, ơn xã hội, ơn tam
bảo. Hạnh bố thí dù là tài thí, pháp thí hay vô úy thí,
đều đem lại "phước báu" vô lượng vô biên, nếu như mình
làm hạnh bố thí với thiện tâm, trực tâm và bồ đề tâm.
Nghĩa là tạo được bao nhiêu "phước báu" do hạnh bố thí,
chúng ta đều nên phát tâm "hồi hướng" cho toàn thể chúng
sanh trong pháp giới đồng thọ hưởng. Có như thế, quả báo
phước đức sau này, còn gọi là phước báo, mới thực sự
to lớn. Tại sao vậy? Bởi vì không giữ riêng cho mình, dù
là "phước báu" do chính mình tạo nên, có nghĩa là mình đã
diệt được lòng tham. Khi lòng tham đã diệt được, sự giải
thoát mới hoàn toàn, phước báo mới vô lượng vô biên vậy.
2)
Thứ hai là Trì Giới. Trì giới là nghiêm chỉnh ăn ở theo
đúng giới luật của Phật Tử, dù là cư sĩ tại gia, hay
tu sĩ xuất gia. Nhờ đó, trong cuộc sống, chúng ta không làm
tổn nhơn, hại vật, trong khi tạo ích lợi cho mình. Ðó là
cách tạo "phước báu" vô cùng vô tận, không thể nghĩ bàn.
Thí dụ như chúng ta trì giới không nói dối, không nói lời
xuyên tạc, thêm bớt, vu cáo, để buộc tội, vu oan cho kẻ
khác phải chịu nhiều đau khổ, cho thỏa mãn lòng căm tức
của chúng ta đối với người đó, dù cho đó là kẻ thù,
hay kẻ mình không ưa cũng vậy. Thí dụ như người tu sĩ Phật
giáo cố gắng giữ gìn giới hạnh trong sạch, cuộc sống
thanh tịnh, chăm lo tu học, không tham gia hoạt động thế sự,
không lo chuyện thế gian, không ham danh văn sĩ, thi sĩ, tiến
sĩ gì gì đó với đời, thì vị tu sĩ đó đem lại biết
bao nhiêu "phước báu" cho chính bản thân, cho đồng bào Phật
Tử và cho đạo pháp.
Ðược
như vậy, không cần đợi đến kiếp mai sau, mà ngay hiện
tại, trên cuộc đời này, ở tại nơi đây, trong kiếp sống
này, chúng ta có thể thọ hưởng "phước báu" của một nếp
sống giới hạnh. Lợi ích của giới đức phát sanh ngay trong
hiện tại. Hiện tại rất quan trọng đối với người biết
sống trong tỉnh thức, biết quán sát nội tâm, biết giữ
gìn giới hạnh. Quá khứ đã trôi qua, nhớ nhung tiếc nuối
chỉ phí phạm thời giờ, chẳng những điên rồ, mà đôi
khi còn tạo nghiệp xấu, vì những chuyện tức giận, thù
hận đã qua. Trong khi đó, tương lai chỉ là viễn ảnh mơ
hồ, không có gì cố định, không có gì chắc chắn. Người
nào hẹn đến khi có tuổi rồi, mới cạo đầu vào chùa bắt
đầu tu, cũng là người đang sống trong mơ, đang trong cơn
mê. Tại sao vậy? Bởi vì có ai biết được chắc chắn mình
sống đến bao lâu? Trong khi đó, chúng ta có thể tạo "phước
báu" bằng cách tu tâm dưỡng tánh, ngay hiện tại, trong cuộc
sống hằng ngày, đừng đợi đến ngày nào cả. Tu tâm dưỡng
tánh được ngày nào, chúng ta hưởng "phước báu" ngay ngày
đó, thì tại sao phải hẹn? Vã lại tu tâm dường tánh đâu
phải là việc dành riêng cho các tu sĩ, hoặc đâu phải cạo
đầu vào chùa mới gọi là tu! Các bậc tôn túc thường nhắc
nhở chúng ta: "tu mau kẻo trể" và "tu trong mọi hoàn cảnh",
chính là nghĩa đó vậy.
Chẳng
hạn như trước đây, chúng ta thích bàn chuyện thị phi, phải
quấy, tốt xấu, thích xen vào chuyện của thiên hạ thế nhân,
cho nên lắm khi gặp rắc rối, tranh cãi, đôi co, mích lòng,
có khi dẫn tới chuyện kiện tụng lôi thôi. Bây giờ chúng
ta hiểu được giáo lý đạo Phật, biết rằng tu tâm dưỡng
tánh đem lại nhiều "phước báu" hiện đời, có thể thực
hành trong mọi hoàn cảnh, chúng ta quyết tâm dừng ngay, chừa
bỏ tất cả, thì cuộc sống sẽ an lạc và hạnh phúc, không
còn phiền não và khổ đau nữa. Giới luật ví như hai đường
sắt của một tuyến xe lửa. Chiếc xe lửa nào, chạy đúng
đường sắt, sẽ chạy ngon lành, đến nơi đến chốn, bình
yên vô sự. Chiếc nào mà chạy, trật khỏi đường rầy,
tức nhiên lật gọng, tai nạn thê thảm. Cũng vậy, những
người Phật Tử, dù tại gia cư sĩ, hay xuất gia tu sĩ, trì
giới thanh tịnh, sẽ tu tinh tiến, kết quả rõ ràng, bớt
chuyện phiền não, giảm thiểu khổ đau, chóng được niết
bàn, an lạc hạnh phúc, ngay tại hiện đời.
3)
Thứ ba là Nhẫn Nhịn. Có người quan niệm: nhịn thì nhục,
cự thì đục. Họ cho rằng nếu nhịn được đằng chân,
chúng sẽ lân đằng đầu, được nước lần này chúng sẽ
làm tới lần sau, nhịn hoài chúng sẽ cho là mình ngu, cho là
mình hèn, làm sao nhịn nổi, tại sao phải nhịn chứ? Chính
quan niệm như vậy khiến cho cuộc đời luôn luôn đầy dẫy
những tranh chấp, cãi vã, hơn thua, kiện tụng, đấu tranh,
cho nên thường dẫn đến phiền não và khổ đau. Thực ra,
chính vì con người không thể thực hành được "hạnh nhẫn
nhịn" cho nên mới có quan niệm như trên. Người ta mắng mình
một tiếng, mình trả một miếng, có khi nhiều hơn, thì dễ
dàng quá. Người ta hành động, không tốt với mình, mình
liền trả đủa, hết sức nặng nề, cho thiệt hả giận,
cho thực đả nư, thì dễ dàng quá. Nhưng còn tiếp theo, sau
đó thì sao? Câu chuyện như vậy, biết đến bao giờ, mới
được chấm dứt, và dứt thế nào? Người ta lỡ lầm, vi
phạm tội ác, mình đòi trừng phạt, cho thiệt xứng đáng,
phanh thây xẻ thịt, treo cổ bắn bỏ, đày xuống địa ngục,
bỏ tù rục xương, rủa xả chửi mắng, tưng bừng tơi tả,
thì hãy thử nghĩ: ai ác hơn ai?
Có
những người trên thế gian này xin ân xá cho kẻ phạm tội
đã giết người thân của mình, bởi vì những người đó
đã biết cảnh mất người thân, đau khổ như thế nào, nên
không muốn gia đình phạm nhân lâm vào cảnh ngộ bi thương
đó. Chúng ta đọc báo thấy thực sự có những người như
vậy, nhưng rất hiếm hoi! Trong Kinh Pháp Cú, Ðức Phật có
dạy:" Lấy oán báo oán, oán nghiệp chập chùng. Lấy ơn báo
oán, oán nghiệp tiêu tan" . Người ta mắng mình một tiếng,
nếu mình nhịn được, không trả một miếng, mới thực là
khó. Người ta hành động, không tốt với mình, mình không
hành động, giống y như vậy, mới thực là khó. Hơn nữa,
nếu người ta gặp, khó khăn hoạn nạn, mình sẵn sàng giúp,
thực tâm thực tình, hết lòng hết dạ, lại càng khó hơn.
Làm được như vậy, mọi chuyện bình yên, tiếp theo sau đó.
Câu chuyện thù oán, chắc chắn chấm dứt, một cách êm đẹp,
nhẹ nhàng dễ dàng.
Trong
Kinh Pháp Cú, Ðức Phật có dạy:"Thắng vạn quân không bằng
tự thắng mình. Tự thắng mình là điều cao quí nhứt". Nghĩa
là tự kềm chế bản thân, tự kềm chế hành động, tự
kềm chế ngôn ngữ, tự kềm chế ý nghĩ của chính mình,
mới thực là khó. Con người thường bị tâm tham lam, tâm
sân hận và tâm si mê sai khiến, điều khiển, cho nên cuộc
đời mới gặp nhiều phiền não và khổ đau. Khi tâm tham khởi
lên, khi tâm sân khởi lên, khi tâm si khởi lên, người nào
tỉnh thức, tự kềm chế được, tự hóa giải được, thì
cuộc sống sẽ an lạc hạnh phúc. Chiến thắng được tâm
tham lam, sân hận, si mê của chính mình, mới thực sự gọi
là "có phước", mới thực sự đem lại an lạc và hạnh phúc
cho cuộc đời mình. Cho nên cổ nhân có dạy: "Một sự nhịn
chín sự lành", chính là nghĩa đó vậy.
Khi
chiến thắng được tâm tham chẳng hạn, không đi ăn trộm,
không chôm chĩa đồ, không gạt gẫm người, con người khỏi
gặp rắc rối với pháp luật. Khi chiến thắng được tâm
sân chẳng hạn, không chửi mắng đánh đập, không trả thù
người khác, không thưa gửi kiện tụng, không gây thêm phiền
não, không tạo thêm kẻ thù, không tăng thêm nghiệp báo, không
chuốc thêm oán hờn, không làm chuyện càn dở, con người
được thoải mái bình yên. Khi chiến thắng được tâm si
chẳng hạn, không mê tín dị đoan, không uống nước sông
suối, chẳng có chút vệ sinh, lại cho là nước thánh, không
tin chuyện huyễn hoặc, không tin thiên linh chuỗi, chẳng có
căn cứ, con người được bình tĩnh, tâm trí sáng suốt. Nhờ
đó, con người sẽ ăn được ngon, ngủ được yên. Sách có
câu: "Ăn được ngủ được là tiên". Ðó là "phước báu"
do chính mình tạo nên, không do trời ban, không do cầu nguyện.
4)
Thứ tư là Tinh Tấn. Tinh tấn nghĩa là siêng năng, cần mẫn
tu tâm dưỡng tánh trong mọi hoàn cảnh, trong mọi động tác,
đi, đứng, nằm, ngồi, để ngăn chận ba nghiệp, không tạo
thêm tội lỗi, nghiệp báo mới. Không phải đợi đến lúc
quỳ trước bàn Phật, hay đi đến chùa, hoặc dự các khóa
tĩnh tâm, mới gọi là tu! Tu như vậy ít quá, một tháng mới
có một khóa tu, một tuần mới đến chùa một lần, một
ngày niệm hương trước bàn thờ, hay ngồi thiền, chừng một
tiếng đồng hồ, 23 tiếng còn lại, tha hồ để tâm trí dong
ruỗi theo những ý nghĩ tạp nhạp, thương người này, ghét
người khác, thị phi phải quấy, tâm trí bất định. Ðến
khi nghịch cảnh xảy đến, tai nạn giáng xuống, không đủ
năng lực để đối phó, tâm trí của chúng ta sẽ xáo trộn,
bất an, đương nhiên dẫn đến khổ đau và than trời trách
đất. Sách có câu: "Mấy người lòng dạ tinh ma. Ðã làm phải
chịu, kêu mà ai thương", chính là nghĩa đó vậy.
Chúng
ta tinh tấn làm tất cả các điều thiện, dù lớn dù nhỏ,
cứu người giúp đời, làm cho cuộc sống của chính mình
và của những người chung quanh, có ý nghĩa hơn, an lạc hơn
và hạnh phúc hơn. Chúng ta tinh tấn diệt trừ những tạp
niệm vọng tưởng, thường xúi giục chúng ta tạo thêm nghiệp
báo xấu, để cho chính mình và những người chung quanh bớt
lo âu, phiền muộn vì những hành động sai khiến bởi tâm
tham, tâm sân và tâm si của mình. Chúng ta thử nghĩ: thực
hành hạnh tinh tấn như vậy, có phải chúng ta được vô lượng
vô biên "phước báu" chăng? Và nhờ hạnh tinh tấn, chúng ta
không nản lòng trên đường tu tập các hạnh lành, dù gặp
biết bao nhiêu nghịch cảnh trở ngại. Cho nên trong đạo Phật,
hạnh tinh tấn được tượng trưng bởi Bồ Tát Ðại Lực
Ðại Thế Chí, là vị Bồ Tát có năng lực tinh tấn lớn
lao, có ý chí siêu xuất thế gian, dũng mãnh tiến bước không
lui, trước mọi nghịch cảnh, trước mọi nghiệp chướng.
5)
Thứ năm là Thiền Ðịnh. Thiền định nghĩa là trau dồi tâm
tánh cho được tự tại, cho được bình tĩnh thản nhiên,
trước mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Trong cuộc sống hằng
ngày, chúng ta thường gặp những bước thăng trầm, những
sóng gió của cuộc đời, chẳng hạn như lúc thịnh lúc suy,
lúc được danh dự lúc bị hủy báng, lúc được khen tặng
lúc bị chỉ trích, lúc được sung sướng lúc bị khổ đau.
Trong kinh sách gọi đó là "bát phong", thường làm cho tâm trí
của chúng ta bị bất an, chao đảo, giao động, xao xuyến,
xáo trộn.
Cho
nên đạo Phật dạy nhiều phương pháp để hàng phục và
an trụ tâm, tùy theo căn cơ, trình độ, hoàn cảnh, sở thích,
tâm nguyện của mỗi người, gọi là vô lượng pháp môn.
Chẳng hạn như pháp môn tịnh độ dạy chúng ta tụng kinh,
niệm Phật để định tâm. Khi chúng ta tụng kinh, thân ngồi
ngay ngắn, nghiêm trang, miệng đọc lời Phật dạy trong kinh,
tâm chú ý vào lời kinh và tiếng chuông mõ, nên không còn
nghĩ ngợi linh tinh lang tang, tư tưởng không còn chạy lung
tung nữa. Như vậy có nghĩa là tam nghiệp, gồm thân khẩu
ý của chúng ta, đều được thanh tịnh. Kinh sách có câu:"Tam
nghiệp hằng thanh tịnh đồng Phật vãng tây phương". Nghĩa
là khi ba nghiệp của chúng ta luôn luôn thanh tịnh, không còn
tạo nghiệp nữa, thì "phước báu" vô lượng vô biên, chúng
ta cùng chư Phật sống trong cõi tịnh độ tây phương. Hoặc
khi tâm trạng bị hoang mang, lo lắng, sợ sệt, xôn xao, chúng
ta dùng câu niệm Phật để định tâm, để trấn áp những
tâm trạng bất an vừa kể.
Ở
đây, cần biết thêm rằng không phải chúng ta tụng kinh để
cho Ðức Phật nghe! Cũng không phải chúng ta niệm Phật để
cho Ðức Phật tính sổ, coi chúng ta niệm được bao nhiêu
câu, cộng được bao nhiêu chuỗi mỗi ngày! Kinh điển ghi
lại lời dạy của Ðức Phật cốt để hướng dẫn chúng
ta tu tâm dưỡng tánh, điều trị tâm bệnh của chúng sanh,
ví như toa thuốc của bác sĩ để điều trị thân bệnh, chứ
không phải để đọc đi, đọc lại, tụng cho bác sĩ nghe!
Mục đích chúng ta tụng kinh, niệm Phật là để hàng phục
và an trụ tâm, chuyển hóa từ kẻ phàm phu tục tử, trầm
luân đau khổ, thành người trí tuệ, giác ngộ giải thoát.
Hàng phục và an trụ được tâm, chúng ta mới có được cuộc
sống phước báu, an lạc và hạnh phúc.
Cũng
với mục đích hàng phục và an trụ được tâm, thiền tông
dạy chúng ta "tứ oai nghi thiền". Nghĩa là trong bốn oai nghi,
gồm có: đi, đứng, nằm, ngồi, trong cuộc sống hằng ngày,
chúng ta luôn luôn giữ gìn tâm được chánh niệm, không loạn
tưởng, không tạp niệm, như vậy sẽ được chánh định.
Cho nên mỗi khi tạp niệm, vọng tưởng khởi lên, chúng ta
liền biết ngay và dừng lại, không bị luồng tư tưởng lăng
xăng lộn xộn đó dẫn đi. Thí dụ như khi đang ngồi chơi,
bổng dưng chúng ta nhớ tới chuyện thù oán năm xưa, tâm trí
liền xao xuyến với ý nghĩ trả thù phục hận! Nếu chúng
ta không thức tỉnh dừng lại ngay, thì luồng tư tưởng này
sẽ tiếp tục dẫn chúng ta đi tới ý nghĩ tìm cách nào để
trả thù, cho đáng đời kẻ đã hại mình, đã thưa gửi mình
ra tòa, đã vu oan giá họa cho mình, đã cáo gian mình, và hậu
quả là chúng ta tạo thêm nghiệp báo! Cuộc đời chắc chắn
sẽ gặp nhiều khổ đau! Tây phương có câu: "Do not mess up
your beautiful life!", chính là nghĩa đó vậy.
Trong
Kinh Kim Cang, Ðức Phật có dạy: "Quá khứ tâm bất khả đắc.
Hiện tại tâm bất khả đắc. Vị lai tâm bất khả đắc".
Nghĩa là: Chuyện quá khứ qua rồi đừng luyến tiếc, đừng
nhớ nghĩ làm gì cho bận tâm, chỉ gieo thêm nghiệp chướng
chứ chẳng ích lợi gì. Chuyện hiện tại rồi cũng qua mau,
cố níu kéo cũng chẳng được, có lo âu phiền muộn cũng
chẳng ích lợi gì. Chuyện tương lai chưa đến, lo lắng, ưu
tư, sầu muộn cũng chẳng giúp ích được gì. Chi bằng chúng
ta giữ gìn tâm trí được như như, bình tỉnh, thản nhiên,
có phải khỏe hơn không? Chuyện gì phải tới nó sẽ tới,
lo sợ cũng chẳng ngăn cản được đâu. Tốt nhứt chúng ta
đừng tạo thêm tội nghiệp mới, thì khỏi phải lo sợ quả
báo, tội báo, nghiệp báo sẽ đến!
Trong
Kinh Pháp Cú, Ðức Phật có dạy:"Lấy oán báo oán, oán nghiệp
chập chùng. Lấy ơn báo oán, oán nghiệp tiêu tan". Nghĩa là
chuyện oán thù trong quá khứ chỉ nên cởi mở, không nên
kết chặt thêm. Thí dụ như trong gia đình trước kia có chuyện
bất hòa, tranh chấp, chúng ta bèn bỏ nhà đi xa. Khi có dịp
trở về quê hương viếng thăm, chúng ta mang theo quà cáp với
tấm lòng từ bi hỷ xả, một trời thương nhớ, quên hết
chuyện không vui trong quá khứ, tức nhiên mọi chuyện sẽ
trở nên êm đẹp vui vẻ. Tâm trí của chúng ta sẽ an lạc
hơn, cuộc đời sẽ hạnh phúc hơn.
Ở
đây, cần biết thêm rằng thiền tông không dạy tọa thiền
như con cóc, từ giờ này sang giờ khác, chẳng hiểu mục đích
để làm gì, ngoài chuyện đem khoe khắp nơi khắp chốn! Chính
thiền tông dạy chúng ta ngồi thiền để "chăn trâu", để
thúc liễm thân tâm, tức là dẹp trừ tạp niệm và vọng
tưởng, với mục đích hàng phục và an trụ tâm. Hơn thế
nữa, không phải chỉ có lúc ngồi thiền mới dẹp trừ tạp
niệm và vọng tưởng mà thôi. Trong đời sống hằng ngày,
lúc tiếp xúc với ngoại cảnh, lúc thấy hình sắc, lúc nghe
âm thanh, lúc ngửi mùi, lúc nếm vị, lúc xúc chạm, chúng
ta luôn luôn giữ gìn tâm trí được bình tĩnh thản nhiên,
không xao xuyến, không loạn động. Nếu trong tâm "lỡ" nổi
loạn, tạp niệm khởi lên, chúng ta liền biết ngay và dừng
lại kịp thời, thì đó chính là thiền định vậy.
Tổ
Ðiều Ngự Giác Hoàng, tức là Hoàng Ðế Trần Nhân Tôn nhường
ngôi, đi tu, trở thành Sơ Tổ Thiền Phái Trúc Lâm, có dạy
rằng:
"Cư
trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ
tắc xan hề khốn tắc miên
Gia
trung hữu bảo hưu tầm mích
Ðối
cảnh vô tâm mạc vấn thiền".
Nghĩa
là dù sống trên trần đời, muốn được vui theo đạo lý,
hãy đừng chấp chặt, tùy duyên hành sự, tùy hoàn cảnh mà
ứng xử. Chẳng hạn như đói đến thì ăn, mệt ngủ khò.
Chẳng có gì đòi hỏi, chẳng có gì buồn lo, chẳng có gì
bận tâm, chẳng có gì ưu phiền. Trong mỗi con người chúng
ta, ai ai cũng có "của báu", đó chính là "con người chân thật"
của chúng ta. Cho nên chẳng cần chạy vào chùa, hay lên non
lên núi, tìm kiếm làm gì cho mất công, nhọc sức vô ích.
Trong cuộc sống hiện nay, đối với các cảnh trần đời,
chúng ta đừng khởi vọng tâm lăng xăng lộn xộn, thương
thương ghét ghét, phải quấy thị phi, tranh đua hơn thua. Lúc
đó, chính là lúc chúng ta đạt được thiền định, hiểu
được và sống được với "con người chân thật" của chính
mình. Ðó chính là mục đích cứu kính của đạo Phật vậy.
6)
Thứ sáu là Trí tuệ. Trí tuệ trong đạo Phật, kinh sách gọi
là trí tuệ bát nhã, không phải sự hiểu biết, kiến thức,
trí thức của thế gian. Ở thế gian, người trí thức là
người học cao hiểu rộng, có bằng cấp các ngành, nhưng
vẫn sống trong trong sanh tử luân hồi, thường gặp phiền
não khổ đau. Trí tuệ trong đạo Phật là sự nhận thức
sáng suốt, đưa con người đến chỗ giác ngộ và giải thoát,
được an lạc và hạnh phúc. Người có trí tuệ là người
có chánh kiến, nghĩa là người thấy muôn pháp, biết muôn
việc "đúng như thực", không mê lầm điên đảo, không mê
tín dị đoan, không nhận giả làm chân, không chấp chặt thành
kiến. Chẳng hạn như khi thấy việc gì xảy đến cho mình
hay cho người, chúng ta biết ngay rằng: đó là kết quả hay
hậu quả của một việc hay nhiều việc đã làm trước đây.
Không bao giờ tự nhiên có khói, mà không do lửa phát sanh.
Không bao giờ tự nhiên có sóng, trong khi gió lặng yên. Không
bao giờ tự nhiên có cái cây mọc lên, mà không có hạt giống
trong đất trước đó. Nhờ đó, chúng ta không ngạc nhiên,
khi có chuyện may mắn đến, cũng như không đau khổ, khi có
chuyện xui xẻo xảy ra.
Trong
Kinh Hoa Nghiêm, Ðức Phật có dạy: "Chư pháp tùng duyên sanh.
Chư pháp tùng duyên diệt". Nghĩa là mọi việc muôn sự trên
thế gian này, trong kinh sách gọi là chư pháp, tùy theo nhân
duyên mà sanh ra, cũng tùy theo nhân duyên mà diệt đi. Không
có việc gì sanh diệt mà không có nguyên nhân. Không có cái
gì, vật gì, việc gì tự nhiên xảy ra, tự nhiên sanh ra, tự
nhiên xuất hiện. Không có cái gì, vật gì, việc gì tự nhiên
biến mất, tự nhiên diệt đi, tự nhiên không còn nữa. Chẳng
hạn như khi thấy một tòa nhà sụp đổ, một tình bạn kết
thúc, chúng ta hiểu ngay phải có nguyên nhân và cũng hiểu
rằng không có chuyện gì trên đời tồn tại vĩnh viễn. Nhờ
đó, chúng ta có thể giữ gìn được tâm trí bình tĩnh thản
nhiên, khi mọi chuyện tang thương biến đổi xảy ra trong cuộc
đời.
Không
có cái gì, vật gì, việc gì do ông trời, do thượng đế
sanh ra cả. Chẳng hạn như một cơn mưa do hội đủ nhân duyên
mà có, chứ làm gì có ông thần mưa, ông thần gió, ông thần
sấm, ông thần sét, ông thần sông, ông hà bá, như người
xưa tin tưởng, khi khoa học chưa phát triển. Bây giờ con người
còn có khả năng làm mưa nhân tạo, ở bất cứ nơi nào, bất
cứ lúc nào. Tại sao thượng đế làm ra cuồng phong, bão tố,
lũ lụt, động đất, để giết hại con người? Thượng đế
vẫn còn nổi cơn thịnh nộ, nổi cơn sân hận, để giáng
họa trừng phạt con người ngoan cố, không nghe theo, không
làm theo, như vậy có khác gì những kẻ phàm phu tục tử ở
trên đời này, hay nổi sân hận, khi gặp chuyện không vừa
ý?
Nếu
chỉ đọc giáo lý của đạo Phật và chỉ biết Phật giáo
qua lý thuyết, ắt là không đủ. Không học hiểu giáo lý,
không thực sự biết Phật giáo như thế nào, chỉ nhắm mắt
làm theo những tập tục cổ truyền một cách máy móc, tức
nhiên là sai lầm và thiếu sót nặng nề. Học mà không hành
thì khác nào cái đãy sách, cái tủ sách, cái tàng kinh các.
Hành mà không học hiểu, khác nào người đi trong đêm tối,
không có đèn đuốc, đụng đầu lọt hố, bất cứ lúc nào!
Trọng Phật tin Phật mà không nghe Pháp học Pháp, như vậy
chưa phải là đệ tử chơn chánh của Ðức Phật. Vì không
nghe Pháp học Pháp, làm sao thực hành đúng theo lời Phật
dạy được? Do đó, con người sống mãi trong vô minh, mờ
mịt u tối, si mê lầm lạc, bao giờ mới giác ngộ và giải
thoát được, bao giờ mới hết phiền não giảm khổ đau được?
Chư Tổ có dạy: "Tu mà không học là tu mù. Học mà không
tu là đãy sách", chính là nghĩa đó vậy.
Chúng
ta cần phải phát tâm học Phật Pháp, nếu muốn có được
trí tuệ "đúng như thực", còn gọi là "trí tuệ bát nhã".
Ðó chính là "phước báu" tối thượng. Người có trí tuệ
bát nhã, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết
khổ ách. Nghĩa là con người muốn được tự tại, muốn
không sợ hãi, muốn qua mọi khổ ách, thì phải có trí tuệ
bát nhã, thấy tất cả các pháp đều không thực, không tồn
tại vĩnh viễn, không cố định. Cái thân ngũ uẩn của chúng
ta cũng là một trong các pháp trên thế gian, cho nên cũng sẽ
biến hoại sau một thời gian tại thế, không có gì đáng
luyến tiếc, than thở, khổ đau. Chỉ có "con người chân thật
không sanh diệt" mới là cứu kính mà thôi. Ðó là những lời
dạy vô cùng quí báu của Ðức Phật, đó là bản đồ hướng
dẫn chúng ta đạt được cuộc sống an lạc và hạnh phúc,
tiến đến chỗ giải thoát và giác ngộ.
* *
*
Tóm
lại, trong cuộc sống hằng ngày, có rất nhiều cơ hội, có
rất nhiều cách, có rất nhiều phương pháp, để cho con người
làm phước, tạo phước, kiếm phước. Dù là phước hữu
lậu hay vô lậu, đều có công năng giúp con người có cuộc
sống bình yên, ít đau khổ, bớt phiền não, để tiến tới
chỗ giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi. Phước hữu
lậu do những việc làm tạo sự an vui thoải mái, có ích lợi
cho người, giúp đỡ người lúc gặp khó khăn về vật chất
hay tinh thần. Phước hữu lậu có công năng đem lại sự may
mắn, tai qua nạn khỏi, chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ
hóa không, bớt oan trái, giảm nghiệp báo. Người làm phước
với ước mong được hưởng phước về sau, đó là phước
hữu lậu, còn trong vòng sanh tử luân hồi.
Phước
vô lậu do những việc làm có ích lợi cho người, nhưng đồng
thời cũng chuyển hóa được con người chính mình, thí dụ
như bố thí cúng dường, tụng kinh niệm Phật, tư duy thiền
quán, tu tâm dưỡng tánh. Người làm phước với tâm từ bi
hỷ xả, không cầu mong được hưởng phước về sau, chỉ
cố gắng tu học để tiến dần đến chỗ giác ngộ và giải
thoát, đó là phước vô lậu, vượt khỏi vòng sanh tử luân
hồi. Trong lúc thực hiện hành động tạo phước, không nghĩ
rằng mình đang làm phước, giúp đỡ người khác vì tình
thương, do lòng tốt tự nhiên, với tâm bất vụ lợi, vì
người quên mình, đó là hành động tạo phước cao thượng
nhứt, đem lại "phước báu" vô lượng vô biên, không thể
nghĩ bàn.
Phước
hữu lậu ví như tiền tiết kiệm, có khả năng giúp con người
giàu sang, sung sướng, may mắn, bình yên. Hưởng phước này
có ngày cũng cạn, cũng dứt. Khi đó, con người sẽ phải
đền trả những nghiệp báo trước kia. Chúng ta đã từng
thấy các ông vua, các bà hoàng, các hoàng tử, các công chúa,
các nhà giàu có trưởng giả, thế lực quyền quí, cao sang
danh vọng, các lãnh tụ chính trị, các lãnh tụ tôn giáo,
khi hưởng hết phước báo hữu lậu, họ phải chịu nhiều
tai nạn, khổ ách, tán gia bại sản, thân bại danh liệt, thậm
chí có thể mất mạng thê thảm, không chỗ chôn thân! Trong
Kinh A Hàm, Ðức Phật có dạy: "Phước báo con người đang
hưởng ví như mũi tên bắn lên không trung, đến khi hết trớn,
rớt trở xuống đất rất nhanh", chính là nghĩa phước hữu
lậu đó vậy. Bởi vậy cho nên, Ðức Phật dạy chúng ta khi
làm phước, đừng mong cầu hưởng phước báo, mà nên nguyện
được phước duyên, đời đời gặp Chánh Pháp, gặp thầy
lành bạn tốt, giúp đỡ tu tập, cho đến ngày giác ngộ và
giải thoát, mà thôi.
Ðiều
dĩ nhiên ai ai cũng có thể hiểu được là: tất cả những
hành động nào, những lời nói nào, những ý nghĩ nào, ngược
lại với việc tạo "phước báu", chính là hành động, lời
nói, ý nghĩ, tạo tội lỗi, tạo nghiệp báo xấu vậy! Tội
lỗi là do hành động, lời nói hay ý nghĩ làm cho mình, cho
người khác đau khổ trong hiện tại và vị lai, dù vô tình
hay cố ý. Trong Kinh A Hàm, Ðức Phật có dạy: "Chỉ có phước
báo mới có thể giảm thiểu nghiệp báo mà thôi". Con người
tạo tội nghiệp từ trước, đến lúc phải đền trả quả
báo, nhẹ thì bị chửi mắng, đau yếu, nặng thì gặp tai
nạn, thậm chí mất mạng.
Tội
nghiệp do con người tạo tác, sanh ra tội báo nghiệp báo,
được ví như một nắm muối. Nếu phải bị nuốt nắm muối
đó, thì con người sẽ đau khổ biết là dường nào. Nhưng
nếu có thể bỏ nắm muối đó vào trong một tô nước rồi
uống, thì có lẽ sẽ dễ chịu hơn một chút. Nếu có thể
bỏ nắm muối đó vào trong một lu nước rồi uống, thì chắc
sẽ dễ chịu hơn một chút nữa. Nếu bỏ nắm muối đó vào
trong một hồ nước lớn, rồi từ từ uống, thì chuyện sẽ
không còn thành vấn đề. Tô nước, lu nước, hồ nước tượng
trưng cho "phước báu", do chính chúng ta tạo được ít hay
nhiều, sẽ giúp chúng ta tai qua nạn khỏi, chịu đựng được
quả báo, do tội nghiệp đã tạo trước đây. Chuyện lớn
sẽ hóa nhỏ, chuyện nhỏ sẽ hóa không, chuyện khó sẽ hóa
dễ. Chứ không phải chúng ta tạo tội nghiệp đầy dẫy trong
cuộc đời, gây đau khổ cho không biết bao nhiêu người thân
kẻ thù, dù cho nhân danh công lý lẽ phải, trả thù báo oán,
gì gì đi nữa, rồi đến lúc giựt mình thức tỉnh, bèn đem
tất cả tội lỗi đã tạo, giao cho Trời Phật gánh giùm,
chịu tội thế cho mình, bằng cách đi chùa cúng kiến, đi
nhà thờ xưng tội, "thì mà là" tất cả tội lỗi đó tiêu
tan hết đâu? Con người thường có thói quen "quịt nợ", cho
nên mới có ý nghĩ như vậy!
Luật
nhân quả không bao giờ sai chạy, dù cho con người tu hành
đắc thánh quả, vẫn phải chịu quả báo do những tội nghiệp
đã gây nên, từ nhiều đời nhiều kiếp trước kia. "Chỉ
có phước báo mới có thể giảm thiểu nghiệp báo mà thôi".
Chúng ta nên ghi nhớ lời Ðức Phật đã dạy. Ðọc lịch
sử, chúng ta cũng đã nhận thấy, ngay cuộc đời của Ðức
Phật, cũng như các vị giáo chủ khác, vẫn bị người đời
gièm pha, vu khống, mạ lỵ, chửi bới, ám sát, xét xử, giam
cầm, giết hại. Nếu là bậc "phước tuệ lưỡng toàn" như
Ðức Phật, nghĩa là phước báu và trí tuệ đầy đủ, thì
mọi chuyện trở ngại trên thế gian này rồi cũng qua, cuộc
đời kết thúc một cách êm đềm, bình an, tự tại. Nếu
không có đủ phước báo thì, dù là bất cứ ai, cũng sẽ
bị xử chết một cách thê thảm!
Khi
Ðức Phật còn tại thế, có người ngoại đạo đến hỏi
Ðức Phật: Ngài có kinh điển nào đem đọc tụng, có thể
giúp cho đệ tử của Ngài vãng sanh niết bàn được không?
Ðức Phật trả lời rõ ràng: Không! Tại sao vậy? Bởi vì
con người hiền thiện, biết tu tâm dưỡng tánh khi còn sinh
thời, tâm tư thanh thản, nhẹ nhàng, thì nhứt định kiếp
sau sẽ sinh ở cõi lành. Con người hung ác, luôn luôn làm việc
lợi mình hại người, bất chấp thủ đoạn, bất kể sự
phiền não khổ đau của tất cả mọi người, thì nhứt định
kiếp sau sẽ sinh vào tam đồ ác đạo, gồm có: địa ngục,
ngạ quỷ và súc sinh. Thí dụ như dầu nhẹ hơn nước thì
nổi trên mặt nước, đá nặng hơn nước thì chìm dưới
đáy nước, không nghi ngờ gì cả, không thể nào khác hơn
được. Ðó là chân lý công bằng tuyệt đối vậy.
Cuối
cùng, vấn đề sau hết là phân biệt "phước báu" và "phước
báo". Phước báu là từ ngữ chỉ những hành động, lời
nói và ý nghĩ, thiện lành quí báu, tạo phước trong hiện
tại, ví như chúng ta làm việc, kiếm tiền sinh sống, có dư
dả thì để dành về sau. Phước báo là từ ngữ chỉ kết
quả, còn gọi là quả báo lành, do những hành động, lời
nói, hay ý nghĩ thiện lành, từ nhiều đời trước cũng như
đời này, đến với chúng ta qua các dạng: thới hên, may mắn,
bình yên, an ổn, đẹp đẽ, vui vẻ, hạnh phúc, giàu sang,
sung sướng, nhàn nhã, trong cuộc đời hiện tại, ví như tiền
tiết kiệm chúng ta dành dụm được từ trước đến nay,
bây giờ đem ra xử dụng khi cần thiết.