Chánh
Kiến và Chánh Tín
Từ
ngàn xưa cho đến ngày nay, sự hiểu biết hay kiến thức của
con người phát triển không ngừng, theo đà tiến hóa của
nhân loại, theo sự phát triển của khoa học. Ðó là sự hiểu
biết hay kiến thức về phương diện khoa học, về phương
diện kỹ thuật, về phương diện vật chất, nhằm thỏa mãn
nhu cầu về sự khám phá những bí mật của vũ trụ, nhằm
thỏa mãn nhu cầu về tiện nghi cho cuộc sống của loài người.
Tuy nhiên, sự hiểu biết hay kiến thức của nhân loại về
phương diện tâm linh, về phương diện huyền bí, vẫn còn
đang ở bước đầu chập chững, vẫn còn nhiều điều chưa
giải thích được, nhiều hiện tượng không thể hiểu nổi,
mặc dầu hiện nay đã có môn khoa học huyền bí. Do đó, con
người vẫn còn nhờ đến, vẫn còn dựa vào sự giải thích
của các tôn giáo trên hoàn cầu, vẫn còn sự hiện diện
của hai chữ "đức tin", nghĩa là con người hãy cứ đặt
niềm tin trọn vẹn, tuyệt đối vào những gì tôn giáo nói,
nhưng không có sự giải thích, hay không thể giải thích được,
hoặc giả được giải thích đó là những điều vượt quá
tầm hiểu biết của con người!
Tuy
chưa hoàn toàn đẩy lui được những niềm tin vô căn cứ,
những mê tín dị đoan đày dẫy trong nhân loại, ở đông
phương cũng như ở tây phương, những khám phá, những phát
minh, những tiến bộ vượt bực của khoa học ngày nay về
phương diện này cũng đã làm cho niềm tin của tín đồ nhiều
tôn giáo bị lung lay tận gốc rễ trước ngưỡng cửa của
thế kỷ mới sắp đến. Thế kỷ 21 sắp đến sẽ là thế
kỷ của khoa học hiện đại, của kỹ thuật tiến bộ. Ðời
sống vật chất của nhân loại sẽ sung túc hơn, tiện nghi
hơn, đầy đủ hơn, văn minh hơn, hiện đại hơn. Thế kỷ
21 sắp đến cũng sẽ là thế kỷ của những tôn giáo có
chánh kiến, có chánh tín. Ðó là những tôn giáo chủ trương
phát triển trí tuệ, phát triển kiến thức và sự hiểu biết
sáng suốt, chân chánh của con người, gọi là "chánh kiến".
Ðó là những tôn giáo đem lại những niềm tin có căn cứ,
những niềm tin chân chánh cho nhân loại, gọi là "chánh tín".
Ðó là những tôn giáo không ép buộc, không hù dọa, không
bắt tín đồ phải nhắm nghiền đôi mắt, giơ đôi tay lên
trời và chấp nhận những "đức tin" không cần giải thích,
không được giải thích, không thể giải thích.
Phật
giáo, thực ra không phải là tôn giáo, chỉ tạm gọi là tôn
giáo, là một tôn giáo hội đủ những yếu tố nêu trên,
đem lại đời sống tâm linh sung túc cho nhân loại trong thế
kỷ 21 sắp đến. Chúng ta đã thấy, đang thấy và sẽ thấy
Phật giáo ngày càng phát triển mạnh mẽ, một cách hòa bình,
một cách từ bi, khởi từ các nước Á châu sang các nước
Âu châu, Úc châu và Mỹ châu bởi các lẽ trên. Phật giáo
phát triển đến đâu, hòa nhập nơi đó, biến thành tôn giáo
địa phương, đáp ứng nhu cầu tâm linh của dân chúng tại
những địa phương đó. Cho nên chúng ta có thể thấy người
Ấn Ðộ thờ tượng Phật giống người Ấn Ðộ, người
Trung Hoa thờ tượng Phật giống người Trung Hoa, người Việt
Nam thờ tượng Phật giống người Việt Nam, người Nhựt
Bổn thờ tượng Phật giống người Nhựt Bổn. Ðức Phật
ở khắp mọi nơi, trong tâm tất cả mọi người, chứ không
phải chỉ có ở Ấn Ðộ.
Chúng
ta cần nên biết rằng: Có hằng hà sa số Ðức Phật, chứ
không phải chỉ có Ðức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Tất
cả mọi chúng sanh đều có thể thành Phật, chứ không phải
chỉ có một vị Phật duy nhất, độc tôn, bắt buộc mọi
người phải thờ lạy và có trọn quyền ban phước giáng
họa. Phật giáo không có những vị giáo chủ đầy uy quyền
với các cận thần, phục sức giống y như những vị hoàng
đế và thuộc hạ, thời quân chủ phong kiến. Phật giáo phát
triển đến đâu, đem lại an lạc và hạnh phúc cho con người
nơi đó, nhờ "tứ vô lượng tâm", tức là bốn tâm địa
rộng lớn. Ðó chính là: "từ, bi, hỷ, xả". Phật giáo phát
triển đến bất cứ nơi nào trên thế gian này, không bao giờ
gieo rắc hận thù, không bao giờ đem theo mọi hình thức chiến
tranh, không bao giờ đem theo mọi hình thức cai trị, một cách
trực tiếp hay gián tiếp, không bao giờ dùng quyền lực chánh
trị hay kinh tế để ép buộc người dân địa phương bỏ
đạo đang theo, không bao giờ dùng lợi lộc hay ân nghĩa để
khuyến dụ lòng người, không bao giờ cấm đoán tín đồ
kết hôn với người khác đạo. Phật giáo hoàn toàn tôn trọng
sự tự do tín ngưỡng của con người. Nhân loại đến với
Phật giáo hoàn toàn do tấm lòng và sự tự nguyện chọn lựa
mà thôi. Ðiểm tuyệt vời của đạo Phật là mời chúng ta
"đến để mà thấy", chứ không phải đến để mà tin. Thực
ra, "đức tin" không cần thiết, một khi con người đã thấy
"đúng như thực", nghĩa là: thấy rõ, biết rõ và hiểu rõ.
Cốt
tủy của Ðạo Phật là giúp con người đạt được "giác
ngộ và giải thoát". Cho nên con người đến với đạo Phật
bằng lý trí, bằng trí tuệ bát nhã, bằng sự hiểu biết
chân chánh, tức là bằng "chánh kiến", để đạt được mục
tiêu "giác ngộ". Cho nên con người đến với đạo Phật bằng
niềm tin chân chánh và sáng suốt, tức là bằng "chánh tín",
để đạt được mục tiêu "giải thoát". Con người đến
với đạo Phật không phải bằng đức tin, hay niềm tin mù
quáng. Con người đến với đạo Phật không phải qua các
nghi lễ, các hình thức cúng kiến, không phải qua các hình
thức mê tín dị đoan. Trong phạm vi của bài này, chúng ta
sẽ học hiểu những giáo pháp Ðức Phật dạy trong tam tạng
kinh điển, để có thể đến với đạo Phật bằng chánh
kiến và đạt được chánh tín, nhằm mục đích tạo dựng
cuộc sống an lạc, hạnh phúc hiện đời và nhằm mục đích
giác ngộ, giải thoát mai sau. Là người Phật Tử chơn chánh,
chúng ta phải tuyệt đối hiểu rõ ràng thế nào là chánh
kiến, thế nào là chánh tín, những gì là tà kiến, những
gì là mê tín, để khỏi lầm đường lạc lối vào tà giáo,
ngoại đạo.
* *
*
Trước
hết, chúng ta cần biết qua những tà kiến và những hình
thức mê tín dị đoan hiện đang lẫn lộn, pha trộn trong sinh
hoạt Phật giáo, xuyên qua quá trình truyền bá, trải suốt
chiều dài lịch sử, hơn hai ngàn năm trăm năm, và xuyên qua
quá trình phát triển, trải suốt chiều rộng địa dư, từ
Ấn Ðộ, sang Trung Hoa, sang Việt Nam, sang Triều Tiên, sang Nhựt
Bổn, sang Tích Lan, sang Thái Lan, sang Miến Ðiện, sang Ai Lao,
sang Cao Miên, và hiện nay đang truyền bá sang các nước Âu,
Mỹ, Úc.
A .
- Tà Kiến và Mê Tín:
Tà
kiến là những kiến thức sai lầm, những sự hiểu biết
vô căn cứ, khiến con người lạc vào tà đạo. Mê tín là
những sự tin tưởng mù quáng, khiến con người mất hết
sức phán đoán và trí thông minh. Tà kiến và mê tín đem lại
những tai hại không thể lường trước được. Tà kiến và
mê tín có thể làm hại trọn cuộc đời con người, có thể
làm tan nát cả gia đình, có thể làm suy sụp chuyện quốc
gia đại sự.
Chẳng
hạn như người vợ ghen bóng ghen gió, đi xem bói xem quẻ.
Ông bà thầy bói nói chồng có nhân tình, bèn tin ngay, không
cần suy xét, không chịu tìm hiểu sự thực thế nào, có phải
gia đình của người vợ mê tín dị đoan này sẽ tan nát hay
không? Chẳng hạn như một vị tướng lãnh hay một nhà cầm
quyền mê tín dị đoan, không có khả năng, không có lòng tự
tin, bèn đi xem bói xem quẻ, trước khi chỉ huy hành quân, đánh
trận hay trước khi thi hành chuyện quốc gia đại sự, có
phải như vậy đã vô tình tiết lộ bí mật quân sự, bí
mật quốc phòng cho đối phương biết hay không, có phải như
vậy làm cho nước mất nhà tan hay không?
Những
hình thức mê tín dị đoan thì quá nhiều, chúng ta chỉ tạm
nêu lên các hình thức phổ biến, thường thấy hiện nay như
là: bói bài bói toán, xem tay xem tướng, xét đoán vận mạng,
chỉ đường tương lai, xin keo lắc xâm, coi ngày tốt xấu,
lên đồng lên cốt, đồng cô bóng cậu, cúng sao giải hạn,
giải trừ tai nạn, xin bùa hộ mạng, xin phép làm ăn, coi tuổi
hôn nhân, van vái bình yên, cầu khẩn như ý, chuyển xấu thành
an, trừ khử xui xấu, đốt tiền vàng bạc, hình nhân thế
mạng, yếm người chết trùng.
1)
Bói bài bói toán, xem tay xem tướng, xét đoán vận mạng, coi
đường tương lai: là vấn nạn không phải chỉ có trong Phật
giáo, không phải chỉ có trong số người Việt chúng ta, mà
hầu như có khắp nơi, từ đông sang tây, từ bất cứ dân
tộc nào, từ bất cứ người theo tôn giáo nào trên khắp
thế giới. Tại sao chúng ta lại có thể tin tưởng chuyện
bói toán, xem tướng, đoán vận mạng, coi tương lai từ những
người hành nghề hoặc là những người mù, những người
dốt, những người thất nghiệp, hoặc là những người không
biết làm cách nào khác để sinh nhai ngoài tài nói dóc gạt
gẫm những người nhẹ dạ, yếu lòng, không có niềm tin vững
chắc, đang gặp sự khó khăn, đang trong cơn bối rối? Chúng
ta cần biết tương lai vận mạng để làm gì, để sắp đặt
công ăn việc làm cho được tốt đẹp chăng? Tại sao chúng
ta không tin tưởng nơi tài năng của chính mình, lại tin tưởng
nơi những ông bà thầy bói, là những người thực sự không
biết chính xác tương lai, vận mạng của chính họ, làm sao
họ có thể biết được tương lai, vận mạng của chúng ta?
Tục ngữ có câu: "Coi bói ra ma, quét nhà ra rác!" chính là
nghĩa đó vậy.
Chúng
ta thử suy gẫm câu chuyện sau đây: Có một anh chàng tuổi
độ 28 bị quỉ sứ bắt đem về trình diện diêm vương. Diêm
vương sai phán quan coi sổ bộ đời người, xem anh ta có tội
gì để mà trừng phạt. Lúc đó, phán quan mới phát giác ra
rằng anh ta bị bắt lầm, chưa đến số phải chết, cho nên
bảo anh ta mau mau trở về dương thế, kẻo trể người nhà
đem chôn hay đem thiêu cái xác, thì anh ta không còn cơ hội
sống lại được nữa. Anh chàng tức giận về chuyện bắt
lầm này, cho nên chỉ chịu trở về, nếu như diêm vương
cho biết cuộc đời còn lại của mình ra sao. Diêm vương đồng
ý cho phán quan tiết lộ cho anh ta biết như sau: Năm 28 tuổi,
anh ta bị quỉ sứ bắt lầm. Năm 30 tuổi, thất nghiệp thất
tình, vợ bỏ ra đi, tài sản tiêu tan, sự nghiệp tan tành,
ngán ngẩm nhân tình, thất thểu lang thang, xe đụng gảy giò,
ăn xin độ nhựt. Năm 40 tuổi, gây gổ kịch kiệt, bị chém
đứt tay, trúng gió á khẩu, thân tàn ma dại. Từ đó, anh
ta phải sống, cuộc đời còn lại, hết sức cơ cực. Ðến
năm 82 tuổi, bị sét đánh chết, té lọt xuống sông, là mãn
cuộc đời! Nghe xong vận mạng, biết chuyện tương lai, choáng
váng mặt mày, té xỉu một hồi, lâu lắm mới tỉnh. Anh ta
ấp úng, xin phép diêm vương, ở dưới đó luôn, không muốn
trở lại, trần gian dương thế. Nếu chúng ta là anh chàng
này, thì chúng ta sẽ nghĩ gì và làm gì? Diêm vương phán thì
chắc đúng hơn mấy ông bà thầy bói trên trần đời. Cũng
vậy, chúng ta đi xem bói bài, bói toán, có ông bà thầy bói
nào dám cam đoan là nói trúng trăm phần trăm hay không?
Nếu
ông bà thầy bói nói: mọi sự tốt đẹp, chúng ta hoan hỷ,
thưởng thêm tiền bạc, nhưng rồi sau đó, thất vọng tràn
trề, đau khổ vô cùng, khi gặp những điều, không gì tốt
đẹp. Nếu ông bà thầy bói nói: sáu tháng sắp tới, gặp
tai gặp nạn, có phải chúng ta, sẽ bất an ngay, bận tâm lo
lắng, suốt sáu tháng trời, một cách tai hại, một cách vô
ích, hay không? Lo lắng như vậy, có thay đổi được gì chăng,
hay chỉ tổn hại cho sức khỏe mà thôi? Nếu quá ưu tư, lo
lắng như vậy, chúng ta có thể, còn bị gạt gẫm, hao tài
tốn của, cho những việc lập đàn cúng kiến, cầu xin an
lành, tiêu tai giải nạn, một cách vô lý, một cách vô căn
cứ, do những ông bà thầy bói bày đặt ra, để làm tiền
những người mê tín dị đoan. Các nhà sư nào, kiêm nghề
thầy bói, thực hết chỗ nói!
Các
ông bà thầy bói có khả năng gì, có tài cán gì, mà có thể
sai khiến thần linh để giải tai giải nạn cho chúng ta? Chính
bản thân các ông bà thầy bói có hết tai khỏi nạn chưa,
làm sao có thể cầu giải tai giải nạn cho chúng ta? Chúng
ta cũng cần nên biết một sự thực là: Các ông bà thầy
bói cũng đi chùa, cúng kiến lễ lạy, van vái cầu xin, điều
này điều nọ, nhứt là họ hết sức thành khẩn, cầu xin
Trời Phật, tha cho cái tội dối trá, gạt gẫm người đời,
bằng cách cúng chùa hậu hỉ hơn mọi người! Sách có câu:
"Tay cầm tiền của bo bo. Ði coi thầy bói mang lo vào người".
2)
Lên đồng lên cốt: là hình thức mê tín dị đoan nặng nề.
Ðồng cô bóng cậu là những trò bịp bợm, làm tiền trắng
trợn, chỉ gạt được những người ngu si, yếu bóng vía.
Một ông ngớ nga ngớ ngẩn, hay một bà son phấn lòe loẹt,
ăn mặc diêm dúa, cử chỉ quái dị, múa may quay cuồng, ngồi
lắc lư lắc lư, ợ ợ ngáp ngáp một hồi, rồi lè nhè tự
xưng là cô ba cậu tư, là tề thiên đại thánh, là lê sơn
thánh mẫu, là bà chúa chổm, là ngọc hoàng thượng đế,
là ông này bà nọ, toàn là mạo xưng những nhân vật tưởng
tượng trong các truyện tàu, hay trong các tiểu thuyết tây
mà thôi. Thậm chí có khi họ mạo xưng là Phật, là chư Bồ
Tát, là Thánh là Tiên, là Vua là Chúa, là Trời là Ðất, là
đức Thánh Trần, là Quan Tướng Quân! Có nhiều người lợi
dụng giáo pháp nhà Phật, lợi dụng hình tướng tu sĩ đạo
Phật, trong các chuyện đồng bóng mê tín dị đoan này, để
gạt gẫm những người nhẹ dạ dễ tin!
Làm
sao ai biết được thế lực ma quái hay quỉ thần nào nhập
vào thân xác họ, để làm thơ làm kệ, dạy việc này bảo
việc khác? Thần thánh linh thiêng mà phải mượn xác phàm,
nói chuyện tầm xàm, ợ ợ ngáp ngáp, có gì hay ho đâu, mà
chúng ta phải tin, phải lễ lạy, phải nghe theo? Có người
nghịch ngợm lén để vật nhọn trên ghế, cho mấy người
đồng cốt ngồi lên, để xem thử họ có phải do thần thánh
nhập, bất khả xâm phạm, mình đồng da sắt, như họ mạo
xưng hay không, thì lập tức thấy ngay, họ la hét oai oái,
um trời um đất, văng tục chửi thề, như mọi người hạ
tiện khác thôi.
Ở
tại hải ngoại, lại cầu thần linh, ở núi tà lơn, núi sam
núi sập, qua đây nhập vào, đồng cô bóng cậu, thì quả
thực là, mê tín dị đoan, quá sức tưởng tượng. Thần linh
đó có, xin giấy xuất cảnh, cùng giấy nhập cảnh, hay là
xuất cảnh, và nhập cảnh lậu? Ở tại hải ngoại, lại
lập bàn thiên, cho thỉnh nước thánh, lấy từ năm non, bảy
núi gì đó, có thể chữa bệnh, giúp chuyện tình duyên, giải
quyết gia đạo, thì quả thực là, mê tín dị đoan, quá sức
tưởng tượng. Vậy mà vẫn có, người đăng quảng cáo, trên
báo lá cải, thu hút những kẻ, nhẹ dạ dễ tin, trong đó
nhiều người, kỹ sư bác sĩ, chuyên gia chuyên viên, cũng nhắm
mắt tin, nghe theo chí tử. Thực đáng thương xót lắm thay!
3)
Coi ngày tốt xấu cho việc quan hôn tang tế: là một hủ tục
của dân tộc ta cần phải được bài trừ mạnh mẽ. Căn
cứ vào đâu để định ngày này tốt, ngày kia xấu? Hằng
năm, các nhà làm lịch đặt thêm phần coi ngày tốt xấu này
vào, bởi vì họ muốn cho lịch được bán chạy, muốn kiếm
thêm nhiều tiền. Họ tùy tiện suy nghĩ, đặt ra ngày này
nên làm việc này, ngày kia không nên làm việc nọ, rồi những
người si mê tin theo. Thí dụ như người cha có đứa con bị
bệnh, xem lịch thấy ngày này không nên chữa bệnh, không
nên ra đường, bèn đợi mấy ngày sau, chờ xem lịch kiếm
ngày tốt, mới mang con đi bác sĩ khám bệnh hay đi bệnh viện,
thì ôi thôi, việc đã quá muộn màng, làm sao cứu chữa cho
kịp nữa. Cho nên, chúng ta mới thấy mê tín dị đoan gây
nên tai hại biết là bao nhiêu.
Ở
hải ngoại, người Tây phương kị con số 13, nhứt là "Thứ
Sáu 13", lâu lâu mới có một ngày như vậy trong năm. Nhiều
cao ốc ở tây phương, không có từng lầu mang số 13, không
có phòng mang số 13! Như vậy, dân Việt chúng ta không còn
giữ "độc quyền" chuyện mê tín dị đoan nữa rồi. Trước
đây, khi còn ở quê nhà, những người không mê tín dị đoan,
cứ chọn những ngày "mùng năm, mười bốn, hăm ba", để đi
làm giấy tờ, lo công việc. Họ gặp được nhiều thuận
lợi hơn, nhanh chóng hơn, dễ dàng hơn, bởi vì trong những
ngày đó, không có những người mê tín dị đoan ra đường,
đi làm giấy tờ! Có những người làm tan nát, đổ vỡ tình
duyên của con cái, chỉ vì mê tín dị đoan, tin nơi mấy ông
bà thầy bói, trong việc chọn tuổi tác hạp hay không hạp,
coi ngày tốt xấu để cưới gả. Bởi vậy, ca dao có câu:
Cọp
vật mấy ông thầy bói
Sói
tha mấy mụ coi ngày
Ai
xui họ khéo đặt bày
Mình
thương nhau thiệt trời rày tính cho.
Trong
việc tang chế, có người mê tín dị đoan đi coi ngày tốt
để chôn hay thiêu thân nhân quá vãng, nhằm mục đích giúp
con cháu làm ăn được phát tài, giàu có. Nếu ông bà thầy
bói nói thân nhân mình chết "ngày trùng", bèn xin bùa xin chú
để yểm trấn, ếm đối người chết không được trở về,
bắt con cháu đi theo. Nếu ông bà thầy bói nói tuổi người
này không hạp, tuổi người kia không hạp, bèn không cho đi
theo đám tang sợ xui xẻo. Những chuyện như vậy chỉ đem
lại xích mích, xáo trộn, bất hòa, bực bội trong gia đình
mà thôi. Những chuyện mê tín dị đoan như vậy phát xuất
từ lòng tham lam, ích kỷ, hẹp hòi của con người, chỉ biết
nghĩ đến bản thân mình, không nghĩ gì đến người thân
đã qua đời, phát xuất từ lòng ngu si tin theo mấy ông bà
thầy bói!
Những
người Tây phương đâu cần coi ngày tốt xấu để khai trương
cửa hàng, nhưng họ vẫn ăn nên làm ra, phát đạt còn hơn
mình nữa là khác. Họ đâu có thờ thần tài, thờ ông địa,
hay quan thánh đế quân gì đâu, nhưng họ vẫn làm ăn buôn
bán, phát tài như thường. Họ chỉ tính toán ngày giờ theo
dự án, theo kế hoạch làm việc, theo khả năng chuyên môn
nghề nghiệp. Những bệnh nhân cần, điều trị khẩn cấp,
làm ngay tức thì, không cần xem bói, không coi ngày giờ, tốt
xấu gì cả. Còn chúng ta đi coi, ngày lành tháng tốt, khai
trương cửa tiệm, một cách rầm rộ, thờ cúng thần tài,
đủ thứ xôi chè, thuốc thơm thượng hạng, cúng rượu ngoại
quốc, nhưng do không khéo, điều hành thương mại, sập tiệm
như thường. Lúc đó, ông thần tài cùng mấy ông bà thầy
bói có giúp được gì đâu?
4)
Coi tay xem tướng, xét đoán vận mạng, chỉ đường tương
lai: cũng là những hình thức mê tín dị đoan từ lâu đời,
từ đông sang tây, từ Á sang Âu. Ðâu có phải người nào
có tướng hiền lành, đàng hoàng, cũng thực sự có tâm hiền
lành, đàng hoàng hết đâu. Ðâu có phải người nào có tướng
phúc hậu, cũng thực sự được yên lành hết đâu. Ðâu có
phải người nào có tướng to lớn cũng thực sự được an
nhàn, sung sướng, giàu sang hết đâu, có khi còn lao động
cực khổ hơn gấp bội là khác. Ðâu phải người nào có
tướng học thức, trưởng giả, thuộc giới thượng lưu trong
xã hội, đều có tâm quảng đại, trượng phu quân tử hết
đâu. Sách có câu: "Dò sông dò biển dễ dò. Ðố ai lấy thước
mà đo lòng người", chính là nghĩa đó vậy.
Sách
cũng có câu: "Họa hổ họa bì nan họa cốt. Tri nhân tri diện
bất tri tâm". Nghĩa là chúng ta chỉ có thể vẽ con cọp qua
hình thức, qua tướng mạo bên ngoài, chứ khó mà vẽ được
xương cốt bên trong vì không nhìn thấy được. Còn đối
với con người, chúng ta chỉ có thể biết mặt mày, diện
mạo, nhưng không thể biết được lòng dạ của người đó.
Sách coi tay xem tướng ngày xưa đâu có điều khoản nào nói
đến chuyện vượt biên, xuất ngoại. Vậy mà sau năm 1975,
mấy ông bà thầy bói ở quê nhà hốt bạc, nhờ vào chuyện
xem tướng mạo xuất ngoại, hay xem đường chỉ tay vượt
biên của mấy người khách khờ khạo, muốn biết trước
số mạng của mình ra sao, trước khi xuống tàu ra khơi. Cần
biết rằng, chính cái tướng mạo của mấy ông bà thầy bói,
mới quả thực đáng nghi là bịp bợm!
Chúng
ta cần nên biết rằng:
Hữu
tâm vô tướng, tướng tự tâm sanh.
Hữu
tướng vô tâm, tướng tùng tâm diệt.
Nghĩa
là người nào có tâm địa tốt đẹp, hiền lành, biết tu
tâm dưỡng tánh, thì tướng mạo, mặt mũi do tâm cảm ứng
sanh ra, cũng được cảm nhận hiền lành tốt đẹp như vậy.
Trái lại, người nào dù có tướng mạo bẩm sinh tốt đẹp,
nhưng tâm địa xấu xa, ích kỷ, tham lam, sân hận, si mê, dối
trá, gian ác, chuyện gì cũng hăm he đưa người khác ra tòa,
thì tướng mạo tốt đẹp kia cũng theo tâm xấu ác mà diệt
mất, mặt mũi dần dần trở nên khó coi, nhăn nhó, cau có,
quạu quọ, bặm trợn.
Chúng
ta thử suy gẫm câu chuyện sau đây: Có một ông cụ và một
chàng thanh niên, hai người cùng sống trong một chung cư. Ông
cụ ở từng dưới, ngày nào cũng giựt mình vì tiếng đôi
giày liệng trên sàn nhà ở từng lầu trên, mỗi khi chàng
thanh niên đi làm về khuya. Ngày nọ, ông cụ bèn lên gặp
chàng thanh niên, để khẩn cầu anh chàng đặt đôi giày xuống
sàn, một cách nhẹ nhàng trong đêm khuya, bởi vì ông cụ yếu
tim, có thể nín thở bất cứ lúc nào. Chàng thanh niên biết
chuyện, nên ngỏ lời xin lỗi ông cụ và hứa sẽ không gây
tiếng động trong đêm khuya như vậy nữa. Khuya hôm sau, đi
làm về mệt, theo thói quen hằng ngày, chàng thanh niên cởi
chiếc giày thứ nhứt, quăng đùng trên sàn nhà. Chợt nhớ
tới lời đã hứa với ông cụ hôm trước, chàng thanh niên
bèn khe khẻ đặt chiếc giày thứ hai, một cách hết sức
nhẹ nhàng trên sàn nhà, không gây tiếng động nhỏ nào. Lát
sau, khi sắp lên giường ngủ, chàng thanh niên nghe tiếng gỏ
cửa một cách gấp rút. Mở cửa ra, chàng thanh niên thấy
ông cụ đứng thở hổn hển, một tay ôm ngực, một tay vịn
khung cửa, thều thào thốt không ra lời: Cậu trẻ ơi! Cậu
làm ơn quăng luôn chiếc giày thứ hai xuống sàn đi, kẻo lão
đợi nãy giờ, lão muốn đứng tim rồi đó.
Qua
câu chuyện trên, chúng ta thấy rằng trong lòng mong đợi hay
lo lắng bất cứ việc gì sẽ xảy ra trong tương lai, dù gần
hay xa, cũng đều không ích lợi gì cả. Trong cuộc sống, chúng
ta hay lo lắng quá nhiều chuyện, do trí tưởng tượng mà ra.
Chẳng hạn như, chúng ta thường hay lo lắng viễn vông về
tương lai, về chuyện tận thế năm 2000 sắp tới chẳng hạn.
Trong
Kinh Kim Cang, Ðức Phật có dạy: "Quá khứ tâm bất khả đắc.
Hiện tại tâm bất khả đắc. Vị lai tâm bất khả đắc".
Nghĩa là: Chuyện quá khứ đã qua rồi, nhớ nhung, xót xa, tiếc
nuối, chẳng ích lợi gì. Chuyện hiện tại thấy đó rồi
cũng qua mau, luyến tiếc, luyến lưu, chẳng ích lợi gì. Chuyện
vị lai chưa tới, lo lắng, ưu tư, chẳng ích lợi gì. Như
vậy, chỉ chuốc khổ vào thân, nhức óc, mệt tim, như ông
cụ trong câu chuyện trên đây mà thôi. Sách có câu: "Chuyện
gì phải đến sẽ đến". Nghĩa là cho dù chúng ta có mong đợi
hay không mong đợi cũng vậy thôi, chúng ta đã tạo tác nghiệp
nhân, khi nghiệp quả phải đến, thì nhứt định sẽ đến.
Chạy đàng trời không khỏi nắng! Lưới trời lồng lộng,
tuy thưa mà khó lọt!
Chúng
ta cần nên biết rằng: "Không ai có thể cứu mình được,
trừ phi chính mình đã tạo tác thực nhiều phước báu". Khi
nghiệp báo đến, Ðức Phật cũng không tránh khỏi, các đại
đệ tử thời Ðức Phật cũng vẫn phải trả nghiệp báo,
do các Ngài đã tạo tác từ nhiều đời trước kia, khi chưa
biết tu hành. Chỉ có điều khác là: "Người có ít phước
báo thì trả đủ, người có nhiều phước báo thì trả nhẹ
hơn" vậy thôi. Trong Kinh Pháp Cú, Ðức Phật có dạy: "Dù
lên non, xuống biển, vào hang, nghiệp báo vẫn theo con người
như hình với bóng, không ai có thể tránh được", chính là
nghĩa đó vậy. Ngày nay, có người lại đi cầu nguyện van
xin Ðức Phật cứu khổ, không chịu tu tâm dưỡng tánh, không
chịu dừng các nghiệp bất thiện, không chịu thực hành theo
giáo pháp Ðức Phật dạy, để tự cứu mình, thì quả thực
là vô ích vậy. Kinh sách có câu: "Chúng con khổ nguyện xin
tự độ". Như vậy, đó mới là người có chánh kiến và
chánh tín.
Ðức
Phật là nhân vật có thực trong lịch sử, đã tu hành và
đắc đạo, đã giác ngộ và giải thoát, mà còn không thể
cứu chúng ta được, huống là những thượng đế, thần thánh,
do chúng ta tưởng tượng ra, rồi van xin và khấn vái, rồi
cầu nguyện và nguyện cầu, thì làm sao chúng ta được cứu
rổi?! Hơn nữa, chúng ta cần nên nhớ các vị giáo chủ trên
thế gian này cũng trải qua bốn giai đoạn của cuộc đời
là "sanh, già, bệnh, chết", cũng bị khổ nạn khi quả báo
đến. Có vị chưa đến tuổi già, chưa kịp lâm bệnh thì
đã bị giết chết một cách thê thảm! Không ai không thể
cứu chúng ta được, nếu chúng ta không biết tự cứu chính
mình!
5)
Xin xăm, gieo quẻ: là việc mà ai ai cũng hiểu là không đúng,
nhưng cũng vẫn có người tin. Tại sao lại là không đúng?
Bởi vì, chỉ có một tủ lá xăm, một lon cây xăm, với hơn
trăm tờ, trăm cây, mà ứng với cả mấy chục ngàn người
tới cầu xin hay sao? Vã lại, xin được xăm tốt, gieo được
quẻ thuận, chính mình có tin là mọi việc sẽ tốt đẹp
và thuận lợi hết hay không? Và trên thực tế, mọi việc
đều tốt đẹp và thuận lợi hết hay không? Chắc chắn là
không vậy. Trái lại, xin nhằm xăm xấu, gieo nhằm quẻ nghịch,
chính mình không cam chịu như vậy, bèn tiếp tục xin xăm khác,
gieo quẻ khác, cho đến khi nào, xin được xăm tốt, gieo được
quẻ thuận, mới được hài lòng, và mới chịu ngưng. Như
vậy, có nghĩa là vạn sự trên đời đều tốt đẹp, đều
tùy thuận, đều như ý mình hết sao? Chắc chắn là không
vậy.
6)
Cúng sao giải hạn, xem hướng nhà cửa: là các việc thực
là lạc hậu, vô căn cứ, kém văn minh. Nếu những chuyện
này có thực, thì bất cứ ông bà nào biết cúng sao giải
hạn, xem hướng nhà cửa, thảy đều được bình yên, đều
được sung sướng, đều được giàu có, đều được vui
vẻ. Họ đâu còn thì giờ lo cúng sao giải hạn, xem hướng
nhà cửa cho thân chủ, đâu còn thì giờ gạt gẫm người
đời, từ năm này sang năm khác, đâu phải tất bật chạy
lo quảng cáo láo là linh thiêng ứng nghiệm như thần! Thần
dóc, tổ láo thì có! Thử xét trong các tai nạn có nhiều người
tử vong, trên một chuyến bay, trên một chuyến tàu, hay trên
một chuyến xe, có phải hết thảy nạn nhân cùng "tuổi 31
bước qua, 33 bước lại", cùng "tuổi tam tai đại hạn", hay
là họ thuộc đủ các hạng tuổi? Ở ngoài nghĩa địa, có
phải chỉ có những hạng tuổi gặp vì sao xấu? Hay là có
tất cả mọi người, từ trẻ sơ sinh chưa có vì sao nào chiếu
mệnh, cho đến các người tuổi già?
Chúng
ta tin tuổi chẳn tốt hay tuổi lẻ tốt? Nếu tuổi tây chẳn
thì tuổi ta lẻ và ngược lại. Hơn nữa, chúng ta đang ở
trên đất tây, vậy nên tính theo tuổi ta hay tuổi tây? Vào
những năm có sao hạn tốt, có chắc chắn chúng ta được
hoàn toàn bình yên, mọi sự như ý suốt năm? Vào những năm
có sao hạn xấu, có chắc chúng ta gặp toàn chuyện bất bình,
bất như ý? Hay là năm nào cũng có chuyện này chuyện khác,
chuyện tốt chuyện xấu, chuyện vui chuyện buồn lẫn lộn?
Tại sao vậy? Bởi vì, trong cuộc đời, chúng ta vừa tạo
tác nghiệp nhân lành, đồng thời cũng tạo tác nghiệp nhân
chẳng lành. Dù những năm gặp sao hạn tốt, nếu chúng ta
làm việc quấy thì cũng gặp rắc rối như thường, nếu chúng
ta không chịu làm việc thì cũng đói nhăn răng như thường,
trừ phi trúng mánh hay trúng số, bằng không chỉ là trúng
gió! Cho nên, cúng sao giải hạn có nghĩa lý gì đâu, tiền
mất tật mang, thêm lo vào người, tất cả đều do nghiệp
lành hay nghiệp chẳng lành, chính chúng ta đã tạo tác mà
thôi.
Trong
gia đạo, sự bất hòa xảy ra do bản tánh chấp chặt, chấp
nê quá đáng của những người trong nhà. Chúng ta không chịu
sửa đổi, để vui vẻ, cởi mở, hòa thuận, cùng chung sống
với nhau cho được an lạc và hạnh phúc. Trái lại, khi có
chuyện lục đục trong nhà, những người dại dột lại đi
nghe lời mấy ông bà thầy bói, bảo thay cái cửa, sửa cái
nhà, phá vách tường, đổi cái giường, xoay cái bếp, xáo
trộn lung tung thêm trong nhà trong cửa. Họ chỉ bảo chúng
ta phải làm toàn những chuyện tào lao tốn tiền, gây thêm
rắc rối trong gia đạo mà thôi.
7)
Ðốt giấy tiền vàng mã, xe hơi nhà lầu hình nhơn bằng giấy:
là chuyện hết sức phi lý, không hiểu tại sao đến ngày
giờ này, thế giới đang ở ngưỡng cửa của thế kỷ thứ
21, vẫn có người còn tin được. Chúng ta thử nghĩ xem, tiền
giấy đô la của "Mỹ", lại được in ở bên "Tàu", mạo ghi
là "Made in Hell", đem "sell in here", tức là đem qua các xứ phương
"Tây" để bán, dân "Ta" bèn tin bừa, và mua đem về đốt cho
thân nhân ở "Ðịa ngục" xài! Làm như vậy, vô tình chúng
ta đã hại thân nhân ở dưới đó, họ đã tiêu xài tiền
giả, nên bị gánh thêm tội lỗi! Những điều này phát xuất
từ tâm chấp ngã, tâm tham lam, tâm ích kỷ, tâm phân biệt.
Lúc sống, quen thói tranh đua, giành giựt, muốn lợi phần
mình hay người thân mình. Lúc chết đi, cũng muốn được
sung sướng, nhàn hạ với nhà lầu, xe hơi, kẻ hầu người
hạ bằng giấy! Thực ra, sau khi qua đời, thân nhân của chúng
ta đã đi thọ sanh, đầu thai nơi cảnh giới khác, trong vòng
sanh tử luân hồi, theo nghiệp đã tạo tác lúc còn sanh tiền.
8)
Hậu quả của tà kiến và mê tín dị đoan: Những người
có tà kiến và mê tín dị đoan là những người tin bướng
tin càng, mù quáng quàng xiên, mê mờ khờ khạo, tiêu mất
lý trí, không còn sáng suốt, đâm ra khiếp nhược, không biết
chân lý, mất lòng tự tin nơi khả năng của mình. Cuộc sống
của họ luôn luôn bất an, lo âu sợ hãi, phập phồng thấp
thỏm. Tại sao vậy? Bởi vì, họ luôn luôn dựa vào thế lực
bên ngoài, dù không biết thế lực đó từ đâu tới, thiện
hay ác, chính hay tà cũng không hay biết. Tâm của họ luôn
luôn ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến mình, phân biệt, kỳ thị.
Cuộc đời của họ đầy sự khổ đau, trói buộc, lo lắng,
ưu tư, sợ hãi. Họ sống trong sự tối tăm, ai nói gì cũng
nghe, ai nói gì cũng tin, ai bảo gì cũng làm, không biết đâu
là phải, là trái, đâu là chánh, là tà, đâu là đúng, là
sai! Thực đáng tội nghiệp lắm thay!
Ngày
xưa, còn ở quê nhà, khi có một buồng chuối trổ muộn, một
gò mối lạ, một cục đất, một cục đá, hơi tượng hình
người, những người mê tín dị đoan liền cho đó là Phật
hiện thân, Bồ Tát giáng trần, xúm nhau tìm tới, lạy lấy
lạy để, cầu xin van vái, đủ thứ mọi chuyện. Thực ra
có ai được gì đâu, tiền mất tật mang. Chỉ có mấy ông
xe đò, mấy bác tắc xi, mấy chú xích lô, mấy bà buôn gánh
bán bưng xung quanh nơi đó là vui vẻ, mỉm cười vì trúng
mánh. Ngày nay, ở khắp thế giới, ngay tại các quốc gia gọi
là văn minh tiên tiến, cũng không thiếu gì các tin đồn thần
thánh hiện nơi này, hiện nơi kia, trên bức tranh, trên vách
tường, trên ngọn cây, trên đám mây, trên nóc nhà, lại được
các tổ chức tín ngưỡng tối cao, xác nhận là có thực,
chẳng biết căn cứ vào đâu? Ít lâu sau chính quyền địa
phương phát giác là giả mạo ngụy tạo, bèn truy tố kẻ
lợi dụng đức tin của mọi người để thủ lợi, lúc đó
họ ẳm một số tiền không nhỏ, do bá tánh đóng góp, trốn
biệt tăm biệt tích một cách tài tình! Như vậy mới biết
là dân ta không hề giữ độc quyền về chuyện mê tín dị
đoan như vậy, bởi vì có quá nhiều cạnh tranh trên khắp
thế giới!
* *
*
Trên
đây, chúng ta đã nghiên cứu qua về những điểm gọi là
tà kiến và mê tín theo quan điểm của Phật giáo. Tức nhiên,
những người theo đạo Phật và những người đang muốn tìm
hiểu giáo lý của đạo Phật, một cách nghiêm túc, tâm trí
minh mẫn, trí tuệ sáng suốt, với tâm bình thường, tâm chính
trực, tâm bất tùy phân biệt, không thành kiến, không thị
phi, không tranh chấp, không hơn thua, không loạn động, không
kỳ thị, đều hoan hỷ tiếp nhận. Phần trên chỉ mới nêu
lên những thí dụ điển hình nhứt về tà kiến và mê tín.
Phạm vi của bài viết không đủ kích thước, không đủ tầm
vóc, để tìm hiểu hết tất cả những tà kiến và mê tín
trên thế gian này. Tại sao vậy? Bởi vì theo lời Ðức Phật
dạy, con người do "vô minh phiền não" từ lâu đời, từ vô
thủy, cho nên rất khó lãnh hội lý lẽ, rất khó nhận chân
sự thực, rất khó giác ngộ chân lý, một cách nhanh chóng
và dễ dàng được. Cần có thời gian và sự quyết tâm.
Sau
đây, chúng ta sẽ tìm hiểu những điều hợp với chân lý,
hợp với lẽ thực, hợp với trí tuệ, đúng với Chánh Pháp,
để áp dụng trong cuộc sống hằng ngày, hầu xây dựng cuộc
sống an lạc và hạnh phúc hiện đời. Trong Kinh A Hàm, Ðức
Phật có dạy: "Không nên tin ngay tất cả những gì người
xưa nói, tất cả những gì người có thế lực đạo cũng
như đời nói, tất cả những gì người bề trên nói, tất
cả những gì có nhiều người tin theo, có ghi trong sách vở.
Chỉ nên tin những gì có thể kiểm nghiệm được, đúng với
chân lý, đúng với lẽ thực, thông qua trí tuệ sáng suốt,
thấy có ích lợi cho bản thân và cho mọi người".
Trước
khi Ðức Phật ra đời, ở xứ Ấn Ðộ, có hằng trăm đạo
giáo khác nhau. Có đạo thờ thần lửa, thờ thần sấm sét,
có đạo thờ rắn, có đạo thờ bò. Có đạo chủ trương,
hành hạ xác thân, cực kỳ đau đớn, như là lấy roi, tự
đánh vào thân, đi trên lửa hồng, đứng ngoài nắng cháy,
như thiêu như đốt , nằm trên bàn chông, ngủ ngồi quanh năm,
treo ngược hai chân, ăn uống đồ hẩm. Bởi vì họ quan niệm
rằng thân xác của con người chính là nguyên nhân gây nên
tất cả tội lỗi. Trong các thư viện tại thành phố Toronto,
xứ Canada hiện nay, nhiều sách nghiên cứu về các tôn giáo
ở Ấn Ðộ có ghi lại những hình ảnh vừa kể. Những người
có quyền thế, trong đạo cũng như ngoài đời, thời bấy
giờ, cũng như bất cứ thời nào, trên trái đất này, đều
cố tình tạo ra những sự kiện linh thiêng huyền bí, để
dễ bề mê hoặc lòng người, để củng cố địa vị ăn
trên ngồi trước, vinh thân phì da của họ, không làm mà có
ăn, khoác bên ngoài lớp vỏ tín ngưỡng tôn giáo.
Khi
Ðức Phật đi khắp bốn phương để giảng giải chân lý,
truyền bá Chánh Pháp, nghĩa là đem ánh sáng trí tuệ khai mở
tâm trí mờ tối của con người. Vô số người ngưỡng mộ,
qui y, bỏ con đường mê tín sai lầm, trở về với chân lý.
Ðiều này làm cho giáo chủ các đạo khác mất dần tín đồ,
niềm tin suy sụp, không còn uy tín, đem lòng căm giận, lấy
làm tức tối, gây nhiều rắc rối, tạo lắm chướng nạn,
trở ngại bước đường hoằng pháp của Ðức Phật, qua các
hình thức phỉ báng mạ lị, vu khống xuyên tạc, vu oan giá
họa.
Con
người vì vô minh cho nên rất dễ tin theo những gì có vẻ
linh thiêng huyền bí, những gì có vẻ khó hiểu mơ màng, cứ
nghe nhiều người loan truyền là tin theo ngay, không cần suy
nghĩ, không cần tìm hiểu, hư thực ra sao? Có khi chúng ta tin
theo những gì người đời trước tin, làm theo những gì người
đời trước làm, hoặc nhắm mắt tin theo những gì mà các
tổ chức tín ngưỡng rao truyền, xác nhận là thực, một
cách ngây thơ, không cần suy xét, không cần chiêm nghiệm,
không dùng lý trí, không thể kiểm chứng, không cần biết
những điều đó là đúng hay sai, sự thực như thế nào? Ngày
xưa bên Tàu, có một thiền sư, trước khi ngồi thiền, bảo
người đệ tử, bắt nhốt con mèo, hay chạy tứ tung, ngao
ngao om sòm. Người thuộc đời sau, không hiểu lý do, tưởng
rằng việc đó, ích lợi thiêng liêng, cho việc ngồi thiền,
bèn kiếm cho được, vài ba con mèo, bắt nhốt xong rồi, mới
ngồi ngay ngắn, ở trên bồ đoàn, lim dim tọa thiền!
Vì
không chịu học, tìm hiểu giáo lý, biết bao nhiêu người,
gọi là Phật Tử, tại gia xuất gia, tin theo đạo Phật, khác
gì ngoại đạo. Ngoại đạo ở đây, nghĩa là vẫn thờ, tượng
Phật tại gia, hay là tại chùa, nhưng vẫn thường làm, "ngoài
tâm cầu đạo", chỉ biết lo chuyện, cúng kiến lễ nghi, cầu
nguyện khấn vái, cầu khẩn van xin, đủ thứ mọi điều,
không hiểu không biết, Phật ở nơi đâu. Tại sao lạ vậy?
Bởi vì chư Tổ, có dạy rõ ràng:"Phật Tức Là Tâm, Tâm Tức
Là Phật". Ngoài Tâm không Phật, cầu đạo ngoài Tâm, là nghĩa
lý gì? Phật không ở chùa, không ở trong tượng, bằng đồng
hay cây, không ở trên mây, trên non trên núi, không ở dưới
suối, dưới sông dưới biển. Chúng ta không cần, phải đi
đến xứ, Ấn Ðộ xa xôi, bất cứ nơi đâu, mới thấy được
Phật. Vậy chúng ta đi, tìm Phật ở đâu? Xin được trả
lời: Phật đang ở ngay, trong tâm chúng ta. Hay nói cách khác:
Phật chính là Tâm, của chúng ta vậy. Chúng ta làm việc, lợi
mình hại người, Tâm Phật ẩn mất. Chúng ta làm việc, lợi
mình lợi người, Tâm Phật hiển hiện. Thực là đơn giản!
Trong
Phật giáo, có ba môn học giúp con người phát sinh trí tuệ
bát nhã, gọi là "Tam Huệ Học", gồm có: văn huệ, tư huệ
và tu huệ, nói gọn là "Văn-Tư-Tu". Nghĩa là muốn phát triển
trí tuệ sáng suốt, trên bước đường tu học, chúng ta cần
phải lắng nghe, phải học hỏi, xong rồi phải tư duy, phải
quán tưởng, phải suy nghĩ, một cách chín chắn, một cách
tường tận. Khi nhận thấy có ích lợi cho bản thân và cho
mọi người, mới đem ứng dụng tu hành, mới đem áp dụng
vào cuộc sống hằng ngày. Không phải nghe thấy bất cứ điều
gì, cũng tin theo ngay, cũng làm theo ngay, không cần nghĩ suy,
không cần kiểm chứng, không cần tìm hiểu gì cả, dù điều
đó được ghi là lời Phật dạy cũng vậy, được chép trong
các sách gọi là kinh điển cũng vậy thôi!
* *
*
B .
- Chánh Kiến và Chánh Tín:
Chánh
kiến là kiến thức chân chánh, hay sự hiểu biết sáng suốt,
đúng lẽ thực, đúng chân lý. Chánh tín là niềm tin chân
chánh, niềm tin có căn cứ, thông qua trí tuệ sáng suốt của
con người. Nói tóm gọn là: Thấy "đúng như thực" và tin
"đúng như thực" gọi là chánh kiến và chánh tín. Chánh kiến
là bước thứ nhứt trong "bát chánh đạo", gồm có: chánh
kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh
tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Chánh kiến là điều kiện
thiết yếu hàng đầu, để giúp con người có chánh tín, để
giúp con người có thể phán đoán, nhận xét và nhìn thấy
vạn hữu sự vật đúng với bản chất của nó, đúng với
chân thật tướng, không tự dối, không trốn tránh sự thực
và không trốn tránh cuộc đời. Ðạo Phật là đạo xuất
thế gian nhưng không xa rời thế gian. Ðạo Phật vào đời
để giác ngộ và giải thoát người đời, khỏi phiền não
và khổ đau, khỏi sanh tử luân hồi, nhưng không bị vẩn
đục vì đời, ví như hoa sen mọc từ bùn nhơ nhưng không
nhơ vì bùn, mà vẫn tỏa hương thơm ngát. Ðạo Phật cứu
độ nhân loại đang còn ở thế gian này được giác ngộ
và giải thoát, chứ không phải đợi đến khi con người chết
mới độ về Tây phương cực lạc!
Trong
phạm vi bài này, chúng ta chỉ tìm hiểu bốn chánh kiến quan
trọng sau đây: Một là "Lý Nhân Quả", còn gọi là "Lý Nhân
Duyên". Hai là "Lý Vô Thường". Ba là "Lý Trùng Trùng Duyên
Khởi". Bốn là "Thập Như Thị".
1)
Lý nhân quả: Ngày nay, nhờ kiến thức khoa học, chúng ta đã
hiểu rõ, nếu gieo hạt cam xuống đất, cộng thêm những "trợ
duyên" như nước tưới, ánh sáng, phân bón, công chăm sóc,
thời gian sau, chúng ta có thể gặt được quả cam. Nói gọn
là: "Nhân nào quả nấy". Ðôi khi có nhân nhưng thiếu trợ
duyên, cũng không gặt được quả. Cho nên được gọi lý
nhân quả hay lý nhân duyên, chính là nghĩa đó vậy. Lý nhân
quả ứng dụng trong ba thời: quá khứ, hiện tại và vị lai.
Nghĩa là: Có những nghiệp nhân tạo tác trong quá khứ, chúng
ta nhận nghiệp quả trong hiện tại. Có những nghiệp nhân
tạo tác trong hiện tại, chúng ta sẽ nhận nghiệp quả trong
vị lai. Cũng như có những hạt giống trồng được quả sớm,
có những hạt giống trồng được quả sau một thời gian
nào đó, ngắn hay dài.
Cho
nên chúng ta đừng ngạc nhiên, khi thấy có những kẻ đang
gây nghiệp nhân xấu xa, tức là họ đang làm các việc xấu
ác, các việc bất thiện, nhưng vẫn được sung sướng, bình
yên. Tại sao vậy? Bởi vì họ đang hưởng nghiệp quả tốt,
từ nghiệp nhân lành tạo tác từ nhiều kiếp trước, trong
kinh sách gọi đó là "phước báo". Tức là họ đang hưởng
phước báo đã gieo từ nhiều kiếp trước. Ðến khi hưởng
hết phước báo đó, thì họ sẽ bắt đầu gặt "quả báo"
từ những việc xấu ác, những việc bất thiện, do chính
họ đang gây ra. Ðến khi đó, nhẹ thì tán gia bại sản, tiêu
tan sự nghiệp, nặng thì vong mạng thảm tử, chết chẳng
toàn thây. Trong Kinh A Hàm, Ðức Phật có dạy:"Con người khi
đang hưởng phước báo, cũng như mủi tên bắn lên không trung.
Mủi tên bay lên rất nhanh, rất mạnh, cũng như con người
gặp mọi sự may mắn, tốt đẹp, như ý. Ðến khi phước
báo hết, con người bắt đầu đền trả nghiệp báo, cũng
như mủi tên hết trớn thì rơi xuống đất vậy".
Do
đó, chúng ta đừng ngạc nhiên khi đã làm hay đang làm không
biết bao nhiêu việc lành, việc thiện, việc tốt, giúp người,
giúp đời, bố thí, cúng dường, đi chùa, tụng kinh, niệm
Phật, nhưng vẫn gặp khốn nạn, khổ sở, điêu đứng, kiện
thưa, đói rách, nạn tai liên miên. Tại sao vậy? Bởi vì những
nghiệp nhân thiện lành chúng ta đã làm hay đang làm hiện
đời chưa tới lúc có kết quả. Trái lại, chúng ta đang thọ
lãnh nghiệp báo xấu, là hậu quả từ những nghiệp nhân
chẳng lành, do chính chúng ta đã tạo tác trong quá khứ trước
kia. Hiểu được như vậy, chúng ta mới có thể vẫn tinh tấn,
tiếp tục làm việc thiện, việc tốt, không mệt mỏi, không
ngừng nghỉ, để tạo tác thêm phước báu, trong khi vẫn đang
chịu nghịch cảnh, khổ nạn. Ðó là chánh tinh tấn trong bát
chánh đạo vừa kể trên.
Chúng
ta đừng vội cho là "ở hiền không gặp lành", đừng vội
nghĩ làm ác sướng hơn, đừng vội tin thủ đoạn nhiều thì
lợi lộc nhiều. Tại sao vậy? Bởi vì, không thể nào gieo
hạt cam ngọt lại gặt quả chanh chua được, hoặc ngược
lại. Nhân nào thì quả nấy, có lửa thì có khói, gieo gió
thì gặt bão, sinh sự thì sự sinh, làm thiện thì gặp lành,
làm ác thì gặp ác, chạy trời sao khỏi nắng! Cũng có những
trường hợp quả báo nhãn tiền. Quả báo có nghĩa là nghiệp
quả hay nghiệp báo phải nhận, từ nghiệp nhân đã tạo tác.
Quả báo nhãn tiền tức là gieo nhân nào thì gặt ngay "kết
quả tốt", hay nhận ngay "hậu quả xấu" hiện đời. Thí dụ
như chăm chỉ thì học giỏi, cần mẫn thì sung túc, tiết
kiệm thì có dư, điều độ thì sống lâu, có ăn thì no bụng,
thể dục thì khỏe thân. Thí dụ như ngậm máu phun người
liền dơ miệng mình, nghiện ngập thì khổ thân, lười biếng
thì nghèo nàn, cờ bạc thì nợ nần, hoang phí thì đói rách,
trộm cướp thì ở tù, hại người thì người hại, gậy
ông lại đập lưng ông, viết thư nặc danh thì xanh xao hao
sức, chẳng ích lợi gì cho thân và tâm của tác giả.
Tuy
nhiên, dù nghiệp nhân đã lỡ tạo tác rồi, từ nhiều kiếp
trước, hay ngay kiếp này, nhưng nếu chúng ta "biết dừng nghiệp,
biết chuyển nghiệp", tức là biết ăn năn sám hối, biết
quày đầu hướng thiện, biết tu tâm dưỡng tánh, biết tu
nhơn tích đức, thì khi nghiệp quả hay nghiệp báo, nói chung
là "quả báo" có đến, cũng sẽ nhẹ bớt đi nhờ có "phước
báo" do chính mình tạo tác được, che chở cho mình. Chuyện
lớn sẽ hóa nhỏ, chuyện nhỏ sẽ hóa không. Bằng như không
biết dừng nghiệp, không biết chuyển nghiệp, thì khi nghiệp
quả hay nghiệp báo, nói chung là quả báo có đến, chúng ta
sẽ lãnh đủ. Thí dụ như chúng ta có biết tiết kiệm, biết
dành dụm thì sẽ có khả năng trả bớt, trả dứt nợ nần
xưa vậy. Tiền tiết kiệm dụ cho phước báo, nợ nần xưa
dụ cho quả báo.
Trong
Kinh A Hàm, Ðức Phật có dạy thí dụ như sau: Một người
bị bắt buộc phải nuốt một nắm muối thì quả thực là
khổ sở vô cùng. Nếu người đó có thể bỏ nắm muối vào
một tô nước rồi uống thì sẽ đỡ khổ hơn một chút.
Nếu người đó có thể bỏ nắm muối vào một lu nước rồi
uống thì sẽ đỡ khổ nhiều hơn chút nữa. Nếu người đó
có thể bỏ nắm muối vào một hồ nước lớn rồi uống
thì sẽ không thấy khổ sở bao nhiêu, hoặc không có thấy
khổ gì cả. Nắm muối tượng trưng cho "quả báo" phải thọ
nhận, từ nghiệp nhân xấu ác, bất thiện đã tạo tác. Tô
nước, lu nước hay hồ nước lớn tượng trưng cho "phước
báo" ít hay nhiều, từ nghiệp nhân thiện lành, tích lũy được
từ nhiều kiếp cho đến ngày nay vậy.
Hiểu
được lý nhân quả một cách tường tận như thế, chúng
ta sẽ bớt phiền não và khổ đau rất nhiều. Chẳng hạn
như mới gặp người nào đó, nhưng họ ghét chúng ta cay đắng,
thì phải quán: chuyện đó không phải là tự nhiên, không
phải là tự dưng họ ghét mình. Nhứt định chúng ta đã có
gây oán hờn, từ đời trước với họ, có khi ngay đời này,
tại chúng ta không biết, không để ý đó thôi. Hiểu được
như vậy, chúng ta không bực bội, không phiền não, không trách
cứ người đó, chỉ biết trách mình và càng thận trọng
hơn trong cách cư xử, trong hành động, trong lời nói, ngay
cả trong tư tưởng, để không tạo thêm nghiệp nhân mới,
giảm bớt oán hờn xưa. Chẳng hạn như có người đem bụi
dơ ném vào chúng ta. Chúng ta hiểu ngay là nghiệp quả hay nghiệp
báo, nói chung là quả báo, đang đến. Chúng ta chỉ nên tự
lo trong sạch thân và tâm của mình, không ném trả bụi dơ
lại người đó. Bằng không cả hai đều lấm dơ lem luốc!
Sách
có câu: "Trách người một, trách ta mười. Bởi ta tệ trước
nên người bạc sau". Nghĩa là chúng ta có bị người đời
đối xử bạc bẽo cũng do chúng ta đã đối xử tàn tệ với
họ trước. Chúng ta hãy can đảm nhận lỗi, qui tội về mình,
đừng đổ lỗi cho người, đừng than phiền, đừng trách
móc ai cả. Chúng ta cần nên biết rằng: "Không bao giờ có
quả mà không có nhân". Nghĩa là không bao giờ có chuyện gì
xảy ra mà không có nguyên nhân xa và nguyên nhân gần, chỉ
tại chúng ta không chịu quán chiếu, không chịu tìm hiểu
đó thôi.
Hiểu
được lý nhân quả một cách tường tận như thế, chúng
ta sẽ thấy phiền não và khổ đau hay an lạc và hạnh phúc
đều do chính chúng ta chủ động tạo tác, không do thượng
đế, hay bất cứ thần linh nào, ban phước hay giáng họa cả.
Chúng ta có làm bất cứ điều gì, thì phải có can đảm chịu,
can đảm nhận. Nói gọn là: "Dám làm thì dám chịu". Cũng
như sách có câu: "Tự tác hoàn tự thọ" chính là nghĩa đó
vậy. Chẳng hạn như khi có chuyện bất hòa, tranh chấp trong
gia đình, chúng ta phải cố gắng tìm hiểu nguyên nhân nào
gây ra, có phải do tâm ích kỷ, do lòng tham lam, do sự cố
chấp, do những người trong nhà chấp chặt ý kiến cá nhân
hay không. Tìm được nguyên nhân rồi chúng ta tích cực sửa
đổi, tích cực chuyển hóa tâm hồn của chính chúng ta. Như
vậy, chúng ta mới có khả năng xây dựng một mái ấm gia
đình an lạc và hạnh phúc.
Trong
Kinh Hoa Nghiêm, Ðức Phật có dạy: "Vũ trụ vạn vật đều
do nhơn duyên sinh". Nghĩa là vũ trụ vạn vật đều do nhơn
và do duyên sinh ra, chứ không do một vị thượng đế, một
đấng tạo hóa toàn năng nào sinh ra, tạo ra cả. Có người
thắc mắc: Thế nào là nhơn duyên sinh? Câu trả lời: "Thử
hữu cố bỉ hữu. Thử sinh cố bỉ sinh". Nghĩa là: "Do cái
này có nên cái kia có, do cái này sinh nên cái kia sinh". Chẳng
hạn như có chọc chó nên mới bị chó cắn. Muốn không bị
chó cắn thì đừng chọc chó! Thực vậy, thời nay chúng ta
hiễu rõ, có lửa mới có khói, có ăn mới có no, có tu mới
có chứng, có học mới có hiểu, có mây mới có mưa, có gieo
trồng nhân mới có gặt hái quả. Không có ông trời nào làm
ra mưa cả, mặc dù chúng ta quen gọi trời mưa hay trời nắng!
Không có thiên lôi nào làm ra sấm sét để hù dọa con người
cả. Chỉ tại con người, lạc hậu kém cỏi, ít học giáo
lý, mê tín dị đoan, tưởng tượng có trời, tin có thượng
đế, quyền năng tuyệt đối, có thể ban phước, có thể
giáng họa, rồi tự hoảng sợ, giống như con nít, hay sợ
bóng ma, sợ luôn ông kẹ, chỉ vậy mà thôi, không có gì khác.
Khi
trong gia đình, có chuyện bất hòa, chúng ta hiểu ngay, là chính
mình đã, "làm việc gì đó", mới khiến người khác, phản
ứng như vậy. Chúng ta phải tự xét lại mình, trước khi
mở lời trách người khác. Chắc chắn do mình đã làm "chuyện
đó", nên mới có "chuyện này" xảy ra, nên người ta mới
làm "chuyện kia" đáp ứng vậy đó thôi. Nghĩa là:"Có chuyện
này xảy ra nên chuyện kia mới xảy ra". Chẳng hạn như mình
có kỳ cục, người khác mới bực bội. Chẳng hạn như mình
có nói khó nghe mới bị chúng chửi! Nếu mình dễ tính, dễ
thương thì được yêu mến, quí trọng. Thấy người khác
tỏ vẽ bực bội, nếu chúng ta chỉ biết trách cứ, chỉ
biết đối đáp, chỉ biết trả đủa, thì càng làm chuyện
lớn thêm mà thôi. Tây phương có câu: "Do not sweat the small
stuff, it is all small stuff". Chuyện nhỏ bỏ đi, đừng thêm to
chuyện. Chiêm nghiệm suy xét kỹ lưỡng như vậy, chúng ta
tạo được gia đình hạnh phúc không khó. Chúng ta cần nên
biết rằng: "Không việc gì trên đời tự nhiên sinh ra cả".
Không thể tự nhiên có cái cây mọc lên, mà không có hạt
giống ở trong đất. Không thể tự nhiên có người đến
mắng chửi khơi khơi, hoặc không thể tự nhiên có người
ghét, mà không do chính chúng ta đã làm điều sái quấy, dù
vô tình hay cố ý. Không thể tự nhiên mình gặp tai nạn chết
người, mà không có quả báo từ trước, do chính mình tạo
tác. Không thể tự nhiên con cái ngỗ nghịch mà chúng ta không
có lỗi gì cả. Sách có câu: "Nhân chi sơ tánh bổn thiện".
Con cái có mất dạy là do chúng ta không biết dạy đó thôi,
đừng trách tuổi trẻ, hãy trách chính mình. Hiểu được
như vậy, còn gì đáng ngạc nhiên, đáng bực bội nữa đâu?
Muốn
trị thân bệnh, tức là trị dứt bệnh tật của thân thể,
chúng ta phải đi khám bác sĩ, phải uống thuốc, phải ăn
uống điều độ, phải giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh chung,
phải tập thể dục. Chứ không phải chỉ biết cầu xin thượng
đế, van vái Trời Phật, tìm uống nước sông nước suối,
cho là nước tiên nước thánh, mà hết bệnh được. Nếu
sự thực có như vậy, các vị giáo chủ đã đến đó lấy
nước về uống trị bệnh, không cần bác sĩ, không cần bệnh
viện! Càng tệ hơn nữa là đi gặp mấy ông bà thầy bói,
mấy ông bà đồng cốt, để thỉnh bùa chú, thỉnh kính chiếu
yêu, dán đầy nhà cửa, trừ tà trừ ma, hay đem đốt uống!
Muốn trị tâm bệnh, tức là muốn giảm bớt cái quả phiền
não và khổ đau, chúng ta phải biết rõ nguyên nhân nào gây
ra những phiền não và khổ đau đó, rồi tích cực tu sửa,
chứ không than trời trách đất gì cả. Cảnh giới thiên đàng
hay địa ngục tùy thuộc nơi chúng ta tạo tác, chứ không
từ bất cứ nơi nào tới, không do trời thần quỉ vật nào
quyết định cả. Ðó là chánh kiến quan trọng mà tất cả
chúng ta cần phải có, phải hiểu, phải biết, để cuộc
sống có ý nghĩa hơn.
2)
Lý vô thường: Trong Kinh Kim Cang, Ðức Phật có dạy: "Phàm
sở hữu tướng giai thị hư vọng". Nghĩa là bất cứ những
gì có hình, có tướng trên thế gian này đều là hư vọng,
giả dối, không tồn tại vĩnh viễn. Mọi sự sự vật vật
trong thế giới này đều trải qua bốn giai đoạn: "sinh, trụ,
dị, diệt" hoặc "thành, trụ, hoại, không". Từ những vật
nhỏ như cái bàn, cái ghế, cái nhà, cái cửa, kể cả cái
xác thân tứ đại của chúng ta, đến những thứ to lớn như
núi non, quả địa cầu, thảy đều được sinh ra, được
hình thành, tồn tại trụ thế một thời gian nào đó, rồi
cũng bị biến dị, hư hoại, cho đến ngày nào đó, bị tiêu
diệt, hủy diệt, thành ra không có còn nữa. Chúng ta ai ai
cũng biết rằng: "Có sinh ắt có diệt".
Cũng
trong Kinh Kim Cang, Ðức Phật có dạy:
Nhứt
thiết hữu vi pháp
Như
mộng huyển bào ảnh
Như
lộ diệc như điển
Ưng
quán như thị tác.
Nghĩa
là tất cả mọi pháp, mọi sự sự vật vật trên cõi đời,
đều như là giấc mộng không thực, như là huyễn hóa, ảo
thuật giả tạo, như là bào bọt, bóng nước mong manh, như
là ảo ảnh mơ màng, như là giọt sương dễ tan, như là điện
chớp thấy đó mất đó, không có gì tồn tại vĩnh viễn
cả. Hiểu được lý vô thường một cách tường tận, một
cách sâu sắc, chúng ta sẽ không phiền não và khổ đau nhiều,
như khi có chiếc xe bị hư hoại, khi có một vật quí bị
mất mát hay rớt bể, thậm chí khi người thân có mệnh hệ
nào hoặc chính chúng ta đến ngày phải bỏ lại xác thân
tứ đại và ra đi. Hoặc khi con cái lỡ tay đập bể đồ
đạc gì, dù quí giá đến đâu, nhưng nhờ hiểu được lý
vô thường một cách thấu đáo, chúng ta sẽ không vì tiếc
của, la rầy, mắng nhiếc con cái. Gia đình nhờ đó được
an lạc và hạnh phúc.
Hiểu
được lý vô thường một cách mạnh mẽ, chúng ta không ngạc
nhiên khi thấy một người thân thiết biến thành kẻ thù
không đội trời chung, một người tốt biến thành kẻ xấu
hay ngược lại, một người ơn biến thành kẻ oán, một kẻ
si mê biến thành người giác ngộ. Tại sao vậy? Bởi vì:
Tâm của con người cũng như thân của con người, không phải
bất biến, không phải vĩnh cửu, không phải cố định, mà
chỉ là một dòng năng lực chuyển biến không ngừng, tùy
duyên mà có, tùy duyên mà thành, và cũng tùy duyên mà diệt.
Cũng vậy, con người tùy theo lợi lộc mà tâng bốc tán dương,
khen ngợi ca tụng, bốc thơm xum xoe. Con người cũng tùy theo
lợi lộc mà hạ nhục phỉ báng, chỉ trích bới móc, bôi
tro trét trấu, ném đá giấu tay, viết thư nặc danh, hăm he
hù dọa, vu oan giá họa, lôi nhau ra tòa, kiện cho sạt nghiệp!
Thực chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả! Mọi sự thăng trầm
của thể chất hay những hiện tượng của tâm linh, giống
như một dòng nước, luôn luôn trôi chảy, luôn luôn biến
đổi, không bao giờ ngừng nghỉ, dù trong một phút giây. Một
thành phố với bao nhiêu nhà cửa, cầu cống, đường xá,
xa lộ, đồ sộ nguy nga, vĩ đại huy hoàng, nhưng chỉ qua một
đêm có trận động đất, chỉ còn là một đống gạch vụn
khổng lồ mà thôi. Thường xuyên quán chiếu lý vô thường
như vậy, chúng ta sẽ giảm bớt phiền não và khổ đau rất
nhiều.
3)
Lý trùng trùng duyên khởi: Trong Kinh Hoa Nghiêm, Ðức Phật
giảng dạy rõ ràng lý trùng trùng duyên khởi. Chúng ta cần
phải biết rằng trên cuộc đời này, mọi sự vật không
bao giờ bình yên trôi chảy, không bao giờ an ổn như ý chúng
ta mong muốn. Việc này vừa xong thì việc khác xảy đến.
Chuyện này chưa dứt thì chuyện khác đã tới, liên tục và
liên tục không bao giờ ngừng, cũng như gió ngoài biển khơi
vậy. Tây phương có câu: "Que sera sera! " hay "What will be will
be! ". Tạm dịch: "Chuyện gì phải đến sẽ đến!". Không
tránh được chuyện đời, chúng ta hãy chấp nhận một cách
bình thản vậy. Không thể cầu được bình yên khi chúng ta
không có phước báo.
Sách
có câu: "Có phước thì hưởng phước". Chúng ta không thể
hưởng phước, trong khi không chịu làm phước, chỉ biết
van xin, cầu nguyện, làm sao có phước được mà hưởng? Cũng
như muốn xài tiền, thì phải làm việc kiếm ra tiền, phải
có tiền, vậy thôi, đi xin tiền thì ai cho? Ðó là sự thực
hiển nhiên. Chúng ta nhận thức được như vậy, thì sẽ không
ngạc nhiên, không đau khổ khi phải đối đầu với những
cảnh ngộ phiền não, liên tiếp xảy ra trên cuộc đời này,
trong cuộc đời của chúng ta. Người nào chịu đựng được
bát phong, tức là tám ngọn gió thế gian, luôn luôn thổi tới
tấp, người đó được gọi là "bát phong xuy bất động",
đó chính là bậc đại nhân. Bát phong đó chính là: "lợi,
suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc", tức là lợi lộc, suy
sụp, hủy báng, khen tặng, tán thán, chỉ trích, khổ nạn,
sung sướng. Sách có câu: "Phước bất trùng lai, họa vô đơn
chí" nghĩa là các điều phước, các việc may, thường không
đến hai lần, trái lại, tai họa thì tới liên miên, hết
chuyện này đến chuyện khác xảy ra dồn dập.
4)
Thập như thị: Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thường gọi là
Kinh Pháp Hoa, Ðức Phật có dạy mười điều đương nhiên
đúng như thế, còn gọi là "thập như thị". Ðó là: như thị
tánh, như thị tướng, như thị thể, như thị lực, như thị
tác, như thị nhơn, như thị duyên, như thị quả, như thị
báo, như thị bản mạt cứu cánh. Nghĩa là: Do tâm tánh của
con người như vậy, cho nên hình tướng của con người là
như vậy. Do bản thể của con người như vậy, cho nên nghiệp
lực của con người là như vậy. Do tạo tác của con người
như vậy, gây ra nghiệp nhơn như vậy, cộng thêm nghiệp duyên
như vậy, cho nên nghiệp quả của con người là như vậy.
Vì nghiệp báo của con người như vậy, cho nên từ xưa đến
giờ cứu cánh của con người cũng chỉ là như vậy.
Thí
dụ như khi người ta đưa lửa tới đốt, chúng ta đưa bổi
ra đón, lửa có điều kiện cháy lớn hơn. Nếu chúng ta không
đón ngọn lửa do người ta đem tới, thì ngọn lửa đó chỉ
đốt hư không mà thôi. Không ai có thể đốt cháy hư không
được. Một lát ngọn lửa cũng sẽ tắt queo, không gây thiệt
hại gì! Cũng vậy, khi bị người khác công kích, chỉ trích,
mạ lị, miệt thị, chúng ta "không chấp" vào đó, coi chuyện
đó là những chuyện "đương nhiên phải có" ở thế gian đầy
tranh chấp, ganh tị, đố kỵ, chúng ta sẽ an ổn, không ai
xâm phạm được, không ai đốt được khi tâm của chúng ta
bình thản, trống rỗng như hư không.
Thí
dụ như giới chủ nhân thì muốn công nhân làm việc nhiều,
năng xuất cao, nghiệp vụ tốt nhưng lãnh lương thấp. Trái
lại, giới công nhân thì muốn lè phè, chọn việc nhẹ, nghỉ
nhiều, làm ít, nhưng lãnh lương cao! Cuộc đời là như thế,
là "như thị". Thí dụ như hai con gà ghét nhau vì tiếng gáy,
hai con người ghét nhau vì tiếng nói, hai cô ca sĩ có bao giờ
thương nhau. Cuộc đời là như thế, là "như thị". Thí dụ
như chúng ta đem lợi lộc đến thì người ta yêu mến, còn
đem phiền toái tới thì người ta chửi bới. Ðem quà tới
thì được, đem họa tới thì không. Khi đến các nơi công
cộng, có tiền thì hậu đãi, không tiền thì bạc đãi. Cuộc
đời là như thế, là "như thị". Thí dụ như con người vốn
tánh tham lam và lười biếng, tu thì không muốn, hoặc chỉ
hành ít ít, chút chút thôi, nhưng lại thích được lên thiên
đàng, hay vãng sinh tây phương cực lạc, hưởng sự sung sướng,
hoặc đợi đến khi chết, bà con đăng báo cầu chúc tiêu
diêu nơi miền cực lạc! Cuộc đời là như thế, là "như
thị".
Hiểu
được đủ mười điều đương nhiên, "thập như thị", như
thế, như vậy, tức là chúng ta đã thấy tột chơn tướng
của mọi pháp trên thế gian này. Ðược như vậy, được
như thế, được như thị, tức là chúng ta đã qua cơn mê,
hết mơ toàn chuyện trên mây, chúng ta sẽ sống đời an lạc
và hạnh phúc. Tại sao vậy? Bởi vì chúng ta đã giác ngộ
và giải thoát. Giác ngộ tức là qua cơn mê, hết nằm mơ.
Giải thoát tức là an lành tự tại thong dong.
* *
*
Tóm
lại, để chuẩn bị bước sang thế kỷ mới, thiên niên kỷ
2000, để có một cuộc sống tâm linh sung mãn, vững vàng,
mạnh mẽ, để có một cuộc sống an lạc và hạnh phúc ngay
hiện đời, chúng ta hãy phát tâm cầu học và áp dụng Phật
Pháp ngay trong cuộc sống, một cách tích cực, một cách mãnh
liệt, một cách tinh tấn, không bao giờ thoái chuyển. Trong
kinh sách, Ðức Phật có dạy: chúng ta được thân làm người
như hiện nay rất là khó. Bởi vì do nghiệp lực dắt dẫn,
chúng ta đã từng trôi lăn nhiều đời nhiều kiếp trong sáu
nẽo luân hồi. Ðó là: thiên, nhơn, a tu la, địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh. Chúng ta đã từng chịu đựng khổ đau không
biết cơ man nào mà kể cho xiết qua các cảnh giới trong ba
đường khổ. Bây giờ chúng ta hãy lắng lòng, phát nguyện
tu tâm dưỡng tánh, phát triển trí tuệ bát nhã sáng suốt
vi diệu, để phá tan màn vô minh che phủ tâm trí của chúng
ta tự bấy lâu nay. Cho đến một ngày nào đó, gần hay xa
tùy theo công phu tu tập, chúng ta sẽ được giác ngộ và giải
thoát, sẽ được thoát ly sanh tử luân hồi, sẽ được hưởng
cảnh giới cực lạc, cảnh giới Niết bàn.
Màn
vô minh u tối đã che lấp trí tuệ sáng suốt của chúng ta
không biết bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp rồi, cũng như những
đám mây đen dầy đặc che khuất ánh sáng của mặt trăng,
cũng như bóng tối bao phủ căn phòng đã ngàn năm qua. Nhưng
chỉ cần học hiểu, thực hành giáo lý của Ðức Phật ngay
trong cuộc sống hiện tại, có ngày chúng ta bổng dưng bừng
sáng, giác ngộ, thấu hiểu chân lý, ngay trong phút giây. Cũng
như chỉ cần một cơn gió mạnh đủ thổi sạch những đám
mây đen kia, để mặt trăng trở lại sáng, cũng như chỉ cần
bật ngọn đèn lên thì căn phòng sáng lên lập tức, không
cần phải đợi ngàn năm sau mới sáng tỏ được.
Trong
Kinh Kim Cang, Ðức Phật có dạy: "Người có chánh tín là người
đã gieo trồng căn lành nơi vô lượng ngàn muôn Ðức Phật.
Người có chánh tín được vô lượng phước đức. Người
có chánh tín không còn chấp tướng ngã, tướng nhân, tướng
chúng sanh, tướng thọ giả, tức là không còn chấp ngã, không
còn chấp pháp". Chư Tổ có dạy: "Tu mà không học là tu mù.
Học mà không tu là đãy sách". Dù là Phật Tử tại gia hay
xuất gia, đã phát tâm tu theo Phật, thì phải học hiểu giáo
pháp, để có chánh kiến và chánh tín, bằng không chỉ là
tu mù, dễ lầm đường lạc lối, mê tín dị đoan. Còn nếu
chỉ đọc kinh sách và tìm hiểu cho biết, không chịu tu tâm
dưỡng tánh, thì cũng như cái đãy, cái bị đựng sách mà
thôi.
Vừa
học đạo lý vừa tu tâm dưỡng tánh, vừa tu tâm dưỡng tánh
vừa học đạo lý, nhứt định có ngày chúng ta sẽ hoát nhiên
đại ngộ, tâm trí chúng ta sẽ bừng sáng. Như vậy, cuộc
đời của chúng ta bước sang kiếp mới, bước ra khỏi vòng
u mê tăm tối ngàn năm, kể từ phút giây giác ngộ đó vậy.
Sau khi qua cơn mê, xa cuộc đời trầm luân, hết mơ chuyện
huyễn hoặc, ta sẽ ươm thật nhiều, trái yêu thương ngọt
ngào, hái đem cho mọi người. Rồi đây sau cơn mê, trí tuệ
được khai thông, sông cạn lại thành ròng, qua đến bờ bên
kia, phiền não thành an lạc, khổ đau thành hạnh phúc, đấu
tranh thành hòa bình, hận thù thành yêu thương, cay đắng thành
ngọt ngào, nghi ngờ thành cảm thông, ta bà khổ thành cực
lạc quốc, thế gian thành thiên đàng, mọi người thành nhất
thể. Thật là hạnh phúc thay! Thật là vi diệu thay! Thật
là nhiệm mầu thay!