I
. Trong suốt bề dày lịch sử hình thành và phát triển đất
nước, từ hàng nhiều ngàn năm qua, ông cha ta đã biết học
hỏi, thâu góp, lượm lặt những tinh hoa văn-hóa lâu đời
của phương Bắc, rồi chắt lọc, phát huy và xây dựng cho
riêng mình một bản sắc đậm đà dân tộc, thuần tuý Việt-nam,
có tính nhân bản và đạo đức cao. Cũng nhờ thế mà ngày
nay chúng ta được kế thừa một truyền thống văn hóa tốt
đẹp, lấy con người làm gốc chuẩn mực, đồng thời coi
việc sửa thân, trị nhà (tu thân, tề gia) như là nền
tảng giáo dục đạo đức làm người .
Tu,
Tề mặc nhiên được cả cộng đồng ngầm hiểu, ngầm công
nhận như là một đạo lý làm người căn bản, một bài học
rèn luyện nhân cách và đạo đức mà kẻ nam giới, cũng là
rường cột của gia đình vã xã hội trong tương lai, phải
vượt qua, hầu tự lột xác để trở thành những con người
mẫu mực, những trượng phu đúng nghĩa, những chánh nhân
quân tử tài đức vẹn toàn, trong có thể yên trị gia
đình, ngoài có thể sẵn sàng đảm đương công việc chăn
dân, trị nước một khi được tín nhiệm, trao phó.
Cổ
đức dạy : Dục tu kỳ gia giả, tiên tu kỳ thân. Có nghĩa
là, muốn cho gia đình được nề nếp, an ổn, trật tự thì
phải biết tập rèn lấy bản thân mình cho thẳng ngay,
trong sáng, chỉnh tề, gương mẫu trước đã.
Những
lời giáo huấn đó tuy mộc mạc, bình dị nhưng lại rất
gần gũi với cuộc sống thực tế của từng mỗi con người,
trong từng mỗi gia đình, là nền tảng vững chắc để xây
đắp hạnh phúc thực sự cho tự thân, gia đình và xã hội,
đã khiến chúng ta hiểu rõ hơn vì sao ông cha mình xưa nay
lại coi trọng đạo lý tu thân, tề gia đến như thế?
Bỡi
vì kết quả mong đợi của việc điều tâm, sửa thân cũng
chính là sự thành tựu cái vốn quí căn bản là "thành nhân
- thành người", cũng tức là để "biết sống sao cho đúng
nghĩa một con người", có ích cho tự thân, gia đình và xã
hội.
Bài
học căn bản "biết làm một con người đúng nghĩa" mà ông
cha ta thường yêu cầu đối với cháu con mình, gần như là
một điều kiện bắt buộc. Nghĩa là ngoài năng lực chuyên
môn, chuyên nghiệp mà mình phải có trong một lãnh vực nào
đó để có thể dùng nó nuôi sống bản thân và gia đình
mình, còn nói rộng hơn thì có thể góp phần xây dựng xã
hội, thì tài năng ấy phải luôn luôn song hành cùng với phẩm
hạnh và đạo đức làm người, thì cái tài ấy mới khả
dĩ đắc dụng cho tự thân, gia đình và xã hội. Bằng có
tài mà thiếu cái vốn cơ bản để làm người, nghĩa là không
có đủ nhân cách, phẩm hạnh và đạo đức, thì đó thường
là người tàn nhẫn, ích kỷ, hiếu thắng, cao ngạo, việc
gì cũng có thể làm được, dù biết có hại cho người khác
đi nữa cũng không từ, miễn là thấy có lợi cho mình. Con
cháu có tài mà thiếu đức, theo quan niệm của ông cha mình,
chẳng những không phải là niềm vinh hạnh mà còn là điều
sỉ nhục, làm hoen ố thanh danh ông bà, tổ tiên vậy.
Cho
nên, đối với những kẻ đã biết làm người đúng nghĩa,
thì khi có điều kiện gánh vác, biết dùng cái vốn tài-đức
căn bản ấy mà nhân rộng ra để giúp dân giúp nước, đem
lại ấm no hạnh phúc cho người. Bằng trong đời không có
dịp để thi thố tài năng, thì cũng là người công dân tốt
của xã hội, là rường cột của gia đình, biết tuỳ duyên
tuỳ phận mà tri túc tri nhàn, tự tại hiu nhiên, an bần lạc
đạo, biết đường dạy bảo cháu con, biết sắp đặt cữa
nhà bình ổn, trật tự.
Nói
ngược lại, nếu tự thân của người đàn ông trụ cột
trong gia đình làm điều bất nghĩa, bất nhân, dối gian, tà
vạy, không biết thế nào là lễ nghĩa, liêm sỉ (thượng
bất chánh) mà lại dạy bảo vợ con, em cháu trong nhà
phải thẳng ngay, liêm khiết, trinh tiết, hiếu đễ, thì ai
mà nghe theo (hạ tắc loạn) . Cho nên, một việc dễ là sửa
mình và trị nhà mà còn làm chẳng được, tự thân thì phóng
túng theo sở dục, gia pháp thì không nghiêm minh, dưới trên
chẳng có kỷ cương trật tự, cha chẳng ra cha, con chẳng ra
con, vợ chẳng ra vợ, chồng chẳng ra chồng, thì thử hỏi
tài năng và đạo đức ở đâu mà người kia có thể đem
ra gánh vác việc ngoài xã hội cho tốt được.
Nếu
thân tâm của mình đen tối, tà vạy mà không biết tự chỉnh
sửa lại cho thẳng ngay, liêm khiết; gia đình dưới trên lộn
xộn, sanh điều bất đạo phi pháp mà không biết dạy dỗ,
chỉnh đốn cho an ổn trật tự được; ấy thế mà mình lại
ra ngoài dạy dân, trị nước, bắt dân chúng phải thẳng ngay
đúng phép như thế này, như thế nọ; hóa ra điều ấy đối
với đạo lý chẳng phải là nghịch lắm ư, đối với lương
tâm mình chẳng phải là đáng hổ thẹn lắm ư, đối với
miệng đời chẳng phải là mình làm trò cười cho nhân thế
mỉa mai, biếm nhẽ đó ư?
Bỡi
thế cổ nhân mới dạy: "Dục tu kỳ quốc giả, tiên tề kỳ
gia - Muốn dạy dỗ nhân dân, sủa trị đất nước cho tốt,
thì phải biết sắp đặt gia đình của mình cho trật tự,
chỉnh tề, an ổn trước đã" .
Cái
đạo lý ấy, cũng là khuôn phép học làm người để mưu
cầu hạnh phúc cho tự thân, gia đình và xã hội, xem
ra rất bình thường, giản dị, mộc mạc và cũng có thể
nói là xưa như trái đất. Thế nhưng nó chưa bao giờ bị
coi là vô ích hay lỗi thời cả. Bỡi vì, giả như một con
người mà không biết thế nào là lễ, nghĩa, liêm, sỉ, không
biết thế nào là nhân, hiếu, tín, thành, làm điều tà vạy
mà không biết xấu hổ với người, không biết thẹn thuồng
với lòng khi chỉ có một mình, thì có thể nào gọi đó là
một con người đúng nghĩa được và làm sao người đó có
thể cư xử một cách nồng nàn, êm thấm, thuận thảo với
gia đình, hay có thể tạo dựng một mối quan hệ tốt đẹp
với xã hội được?.
Cho
nên, nếu không nhờ cái khuôn phép học làm người để chỉnh
sửa con người, thì mầm loạn thú tính theo sở dục trong
từng mỗi con người ắc nẩy sinh, con người sẽ không còn
biết đến điều lễ nghĩa liêm sỉ, nhân tâm ắc suy đồi
điên đảo, khiến gia đình sẽ không thể nào nề nếp, kỷ
cương, xã hội sẽ không thể nào trật tự, ổn định được.
Lại
nói thêm một chút để tránh hiểu lầm mà cho rằng người
viết nệ cổ, hay có tư tưởng lạc hậu. Khuôn phép học
làm người mà lúc khởi thuỷ cổ đức đem ra giáo huấn,
thì hoàn toàn sáng trong, bình đẳng, nghĩa là không ra ngoài
cái lẽ "Trung" của đạo thường. Trung có nghĩa là không thiên
lệch, không ngã về một phía nào, không tư vị một riêng
ai, mà luôn luôn chan hòa, bình đẳng, bất biến, tự nhiên
như nhiên. Thế nhưng càng về sau, sự tiến bộ của loài
người đã làm cho nhân tâm ngày một trí trá, cơ xảo, tham
ác hơn, nên người ta mới thêm thắc, nhào nặn vào đấy
những tư tưởng vị kỷ, nhỏ nhen, cực đoan, thiên lệch
để không ngoài mục đích phục vụ cho quyền lợi riêng tư
của các thế lực cầm quyền phong kiến ngày trước, khiến
cái đạo "Trung" chơn-chất bị bóp méo, lệch lạc, mất đi
tính trong sáng tự nhiên của thuở ban đầu.
Chẳng
hạn như bên cạnh thuyết "Chính-Danh" của người xưa, nghĩa
là người nào cũng phải lo làm tròn chức phận của người
nấy, như làm tôi phải trung, làm vị quốc trưởng phải nhân,
làm con phải hiếu, làm cha phải từ, vv…..đều là những
lẽ phải, là đạo lý nên làm cả. Thế nhưng, để bảo vệ
cho lợi quyền phong kiến, người ta đã cố tình gán ghép,
cột buộc vào đó những ý tưởng mưu đồ đen tối, những
cái nút thắt áp đặt nghiệt ngã, phản lại tính nhân bản
và đạo đức làm người, như "Quân sử thần tử thần bất
tử bất trung. Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu -Vua
khiến bề tôi phải chết mà bề tôi không chịu chết là
tôi bất trung. Cha khiến con phải chết mà con không chịu chết,
là con bất hiếu" chẳng hạn. Đó chẳng khác những hạt sạn,
những tạp chất nguy hại lẫn lộn trong nồi cơm ngon vậy.
Cho
nên, nếu chúng ta biết dùng cái tâm trong sáng và không thiên
lệch để suy xét, biện biệt tư tưởng giáo dục của người
xưa, nghĩa là biết gạn đục khơi trong để có thể dùng
cái triết lý sống muôn đời ấy một cách đắc dụng cho
tự thân, gia đình và xã hội, thì có thể nói cái khuôn phép
học làm người là "sửa thân, trị nhà" tuy xưa cũ thiệt,
nhưng nó chưa bao giờ bị lỗi thời hay bị coi là vô ích
cả. Cũng như vấn-đề "giáo dục con cái" chẳng hạn,
có thể nói đó là đề tài xưa như trái đất, gần như ai
ai cũng biết, là cái món "biết rồi, khổ lắm, nói mãi",
thế nhưng đối với thực tế cuộc sống của từng mỗi
gia đình có trẻ thơ, có con cháu trong lứa tuổi mới lớn,
thì theo chúng tôi, sự quan tâm của chúng ta đối với bầy
trẻ sẽ không bao giờ được gọi là thừa, là lỗi thời
hay vô ích cả.
Theo
thói quen dung nạp của cơ thể và khẩu vị của người Việt-nam,
thì thức ăn chính trong các bữa "cơm" không thể thiếu cái
món cơm, hay những món ăn được làm từ chất gạo. Một
thùng gạo lúc mới xay giã thì sạch sẽ, tinh nguyên; đem nấu
lên thành cơm thì thơm tho, bổ dưỡng, mang lại sức sống
cho con người; thế nhưng nếu để lâu ngày, chuột bọ côn
trùng cũng rất có thể gây ra những tạp chất nguy hại cho
con người. Cho nên, nếu biết nhặt bỏ các tạp chất trong
thùng gạo ra thì chúng ta sẽ có được những bữa cơm ngon
lành, hợp khẩu vị, no nê, bổ dưỡng.
Đạo
lý sửa thân, trị nhà của ông cha ta, từ lâu đã thấm đượm
trong máu thịt, tim óc của người Việt, đã trở thành một
nhu cầu thiết yếu cho những ai muốn mưu cầu hạnh phúc thực
sự cho tự thân, gia đình và xã hội, chẳng khác gì hằng
ngày cơ thể chúng ta cần có được những bữa ăn no nê,
bổ dưỡng và ngon miệng, mà cơm là thức ăn chính không thể
thiếu hay những món được làm từ chất gạo. Bữa cơm của
người Việt, dù là dân thường hay tầng lớp cao sang, mà
không có cái món "cơm" thì quả là một thiếu sót lớn.
Cho
nên, nếu mỗi người trong chúng ta biết chắt lọc để rút
tỉa những cái hay, cái đẹp, cái tinh ba nguyên thuỷ từ những
bài học làm người căn bản kia mà dùng để điều tâm, sửa
thân, an trị gia đình và làm gương cho lớp trẻ noi theo, thì
có thể nói, nó luôn luôn hữu ích, cũng như không bao giờ
bị coi là lỗi thời.
Trước
mắt chúng ta, văn minh khoa học đã làm cho thế giới tiến
bộ, đổi thay từng ngày, từng giờ một, khiến nhân loại
được hưởng thụ nhiều tiện nghi vật chất hơn. Thế nhưng,
bên cạnh những lợi ích mà nó đem lại, không ai trong chúng
ta có thể phủ nhận một sự thật rằng, cái nền văn minh
vật chất kia cũng chính thiệt là con dao hai lưỡi, là thủ
phạm gây ra những cám dỗ vật dục bệnh hoạn, làm tha hóa
nhân tâm, băng hoại đạo đức và cũng làm cho con người
dễ rơi vào khổ đau hơn. Bằng chứng là hằng ngày trên mặt
báo đã có không biết bao nhiêu người tự dẫn mình vào vòng
tội tù lao lý, gia đình ly tan đổ nát, chồng một nơi, vợ
một ngả, con cái hút hít, sa đọa truỵ lạc, sống dở chết
dở, chỉ vì lúc ban sơ người ta đã quên nghĩ tới hay chưa
một lần nghĩ tới những giá trị đạo đức cơ bản hay
khuôn phép học làm người, như sửa thân trị nhà, mà chỉ
biết nhắm mắt chạy theo sự cám dỗ của vật dục. Đến
khi bừng tỉnh thì mọi chuyện đã trở thành quá khứ muộn
màng, có hối cũng không còn kịp nữa.
Chẳng
phải chỉ có những người thất học hay nghèo khổ vì không
biết hay vì sự khốn khó về vật chất nên mới rơi vào
hoàn cảnh như trên, mà ngày nay, không ít những gia đình dư
giả, sung túc cũng phải bị hệ lụy, khổ đau, tan nát chỉ
vì những người chủ của gia đình ít để ý tới sự
giáo dục đạo đức làm người, cũng là không coi trọng việc
tự chỉnh sửa thân mình để làm gương cho lớp trẻ noi theo,
buông thả việc dạy dỗ, cũng như nuông chìu con cháu quá
đáng.
Vì
tiên liệu những điều tệ hại, bất hạnh, khổ đau có thể
xảy ra cho con cháu, mà ông cha ta lúc nào cũng coi việc tự
chỉnh sửa thân tâm, trị yên nhà cữa như là một đạo lý
làm người bắt buộc, dành cho những người chủ gia đình
trong tương lai.
Đối
với người Việt-nam hiền lành, hòa hiếu và ưa chuộng đạo
đức, thì bài học khuôn mẫu của đạo làm người, mà cơ
bản là sửa thân, trị nhà có lẽ đã ăn sâu vào tận tim
óc, máu thịt của chúng ta từ hàng nhiều ngàn năm qua rồi.
Cho nên, dù muốn công nhận hay không, một cách bất thành
văn, vai trò của người ông, người cha, người huynh trưởng
trải qua bao đời nay, luôn luôn được các thành viên trong
gia đình tôn trọng, quí kính, coi như là cây cột cái của
ngôi nhà, là cái đầu tàu, cái bánh lái của con thuyền, là
chất keo của sự gắn bó, đoàn kết, là chỗ nương tựa
vững chắc nhất của mọi người, cả về tinh thần lẫn
thể chất. Cũng bỡi lý do ấy mà trách nhiệm tất yếu của
người chủ gia đình cũng thật nặng nề, nếu không muốn
nói là vô cùng khó khăn và quan-trọng.
Cương
vị của người đàn ông trụ cột ấy, theo phong hóa và mỹ
tục của người Việt còn chịu ảnh hưởng một cách âm
ỉ của lễ giáo Á-Đông, thì họ vừa là người chủ, vừa
là người ông, người chồng, người cha, người thầy, người
huynh trưởng đáng kính, đáng tin cậy và hết mực thân thương
của cả gia đình. Vai trò, trách nhiệm và sự đóng góp công
sức cũng như trí tuệ của người đầu tàu ấy quyết định
sự hưng suy, thành bại của một gia đình, một gia tộc, hay
tương lai của cả giòng họ trong nhiều thế hệ.
Một
gia đình có được cuộc sống ấm no, an ổn và chan hoà hạnh
phúc hay không, tuỳ thuộc rất nhiều vào thái độ tích cực
hay thờ ơ, chễnh-mãng trong việc góp phần dựng xây và vun
đắp cho gia đình mà người đầu tàu đã thể hiện ở cả
hai mặt vật chất lẫn tinh thần.
Ở
đây chúng tôi không đề cập tới hai chữ "vinh-hoa, phú quí"
hay một cuộc sống sung-túc dư thừa về vật chất, mà
chỉ nhấn mạnh đến sự chan hoà, đầm ấm, an lạc,
một tinh thần "hạnh phúc" đúng nghĩa của nó, vì đó mới
chính thiệt là cái đích mà những người tu Phật tại gia
như chúng ta đang theo đuổi. Hơn nữa, người xưa có câu "Hoà
khí tất sanh tài". Nghĩa là ở đâu có cái không khí gắn
bó, chan hòa, thân ái, đầm ấm, hạnh phúc, trật tự thì
ở đó dễ có tài lộc nẩy sinh, kiết tường tụ hội.
Cho nên một gia đình vốn sẵn kỷ cương nề nếp, có tôn
ti trật tự, lễ nghĩa hiếu thảo, trên thuận dưới hòa,
biết giao tế thân thiện, biết tương thân tương ái, ai ai
cũng biết lo làm tròn phận sự của riêng mình, biết tiết
kiệm thành quả lao động của mình và của cả gia đình mình,
thì gia đình ấy lo gì trong đời không có lúc được hưởng
những tiện nghi vật chất hơn người mà không hề mất đi
ý nghĩa hạnh phúc thật sự mà cuộc đời đã đem lại.
Nghĩa
là cuộc sống của những người vừa nói, hoàn toàn khác
với sự vinh hoa, phú quí của những người suốt đời chỉ
biết lo tạo dựng cho mình và gia đình mình một sự giàu
có, sung túc bằng vật chất để thoã mãn tư dục mà không
biết nghĩ tới hay quên nghĩ tới những giá trị tinh thần
khác, cũng là nhân tố tất yếu quyết định sự hạnh phúc
một cách đúng nghĩa, ngay trong cuộc sống này.
Từng
mỗi con người trong gia đình là nhân tố tất yếu để hình
thành nên một quốc gia và chính cái nhân tố này, tức con
người chứ không là gì khác, quyết định sự hưng thịnh
hay suy tàn của đất nước, của dân tộc. Cho nên, nếu mỗi
cá nhân trong từng mỗi gia đình, ai ai cũng đều được thừa
hưởng một nền giáo dục truyền thống cơ bản tốt đẹp,
được rèn luyện đạo đức và tính nhân bản từ thuở nhỏ,
lại biết thường xuyên phát huy nếp sống lành mạnh cả
về thể chất lẫn tinh thần, biết yêu gia đình, yêu tổ
quốc, yêu đồng bào, biết sống thân thiện, chan hòa, bình
đẳng cùng đồng loại, thì dân tộc ấy ắc phải có được
một cuộc sống tràn trề hạnh phúc, quốc gia ấy ắc phải
được an hưởng thái-bình, phú cường, hưng thịnh. Đó là
lẽ tất nhiên, khó ai có thể phủ nhận.
Thế
thì, một người là thân cận nam của nhà Phật, tức một
cư sĩ "tu Phật tại gia", có nghĩa là tuy thân người ấy
còn ở nhà, còn là thành viên của gia đình nhưng tâm đã
xuất gia theo Phật, có vai trò như thế nào đối với chính
gia đình mà mình đang sinh sống và tu hành, đặc biệt là
có nghĩa vụ và trách nhiệm ra sao đối với những đứa con
của mình còn đang trong lứa tuổi cần phải được dạy dỗ
cho nên người?
II.
Tại sao vấn đề này lại được nêu ra với các bạn đạo
của chúng ta?
Số
là trong chỗ tai nghe mắt thấy mà thường ngày chúng tôi ghi
nhận được từ các bạn hữu thân thiết và gia đình của
họ, thì có không ít những người tu Phật tại gia, do chưa
thấu suốt cái lẽ tất nhiên "đời đạo tương ưng, đạo
đời bất khả chia lìa", cũng là chân lý bất biến"không
thể lìa đời mà có thể đạt đạo", cũng là "không thể
lìa bỏ, trốn chạy, hay quay lưng lại với các pháp tướng
sanh diệt (diệu dụng của tánh) mà mong có thể ngộ tánh
(chơn thể vô sanh) được", nên không ít người đã bị lầm
lạc, tự dẫn mình đi vào ngõ cụt không lối thoát ngay
trong cuộc sống này.
Có
những bạn đạo quen biết, đang theo đuổi tông Thiền, thường
bộc bạch một cách chân thành rằng, nay tuổi đời đã lớn
(thường từ trên bốn mươi trở lên) chán ngán hồng trần,
muốn gát bỏ mọi việc để dành hết thời gian tu học một
cách khẩn trương và triệt để, hầu sớm được giải thoát.
Lòng
nhiệt tình, hăm hở đến với đạo pháp trong buổi đầu
sơ phát tâm đã khiến cho họ quên mất thực tại, quên mất
chân lý giải thoát của Thế tôn là "Phật pháp bất ly thế
gian", quên mất cái đạo lý hiển nhiên trước mắt là chưa
làm tròn một con người đúng nghĩa thì làm sao có thể làmThánh,
làm Phật được, cũng như quên mất đằng sau lưng mình còn
có cả một gia đình mà mình phải có bổn phận chung cùng
gánh vác để đem lại hạnh phúc cho mọi người, cũng là
nghĩa vụ và đạo lý làm người muôn thuở.
Vì
không sáng tỏ lý giải thoát vi diệu của Phật đạo, là
không lìa thế gian mà vẫn hiện tiền giải thoát, cho nên,
dù chung sống với những người thân yêu, ruột thịt dưới
cùng một mái nhà, nhưng họ đã không ngần ngại cắt đứt
tất cả những mối tương quan, tương tác với gia đình, tự
coi như người độc lập, để mặc vợ con làm gì thì làm
miễn là không ai đụng chạm tới mình, miễn là mình được
tự do làm theo sở ý để lo cho cái phần hồn của mình trước
đã.
Phần
đông những người như thế, thường trao gánh nặng gia đình
lại cho vợ, hay những đứa con lớn, còn mình thì tự đi
tìm sự an ổn cho riêng bản thân mình.
Họ
thờ ơ với tất cả mọi người, bình thản với bất cứ
chuyện gì xảy ra trong gia đình, dù là tốt hay xấu. Họ chẳng
quan tâm tới việc dạy dỗ con cái, để mặc chúng muốn làm
gì thì làm, xem như cây mọc ngoài thiên nhiên, ngay cũng tốt
mà cong cũng chẳng sao, nên cũng phải mà hư hỏng cũng xong.
Nói chung, họ tự coi mình như người ngoài cuộc, không chỗ
dính dấp với gia đình. Trăm công ngàn việc trong ngoài, phó
thác hết cho vợ con, tự coi mình như cái bóng, thẫn thờ
đi tìm lý thiền, lý đạo bên ngoài cuộc sống hiện tại.
Ngoài
việc ngày đêm chúi đầu vào sách vở, kinh điển để tầm
chương trích cú như con mọt sách, học thuộc lòng một số
thiền ngữ như vẹt học nói tiếng người, khiến bộ dạng
bơ phờ, đờ đẫng như người không còn hồn vía, thì họ
chẳng còn biết làm một việc gì khác để có thể gánh vác,
giúp đỡ người thân, hay dạy dỗ con cái, làm chút lợi ích
cho đời, trừ mỗi ngày ba bữa cơm cháo không thiếu không
thừa.
Có
ai động tới thì liền moi kinh này điển nọ ra đối đáp
với một giọng điệu y hệt các thiền ngữ của những bậc
đắc pháp của tông Thiền, như là "cần phải biết sống
với cái tâm bình thường, nghĩa là đói thì ăn, khát thì
uống, mệt thì đi nằm , đó là sống đạo vậy". Hoặc "phải
biết nhàn cư, vô sự, vô tâm, bằng cách không làm thiện
cũng chẳng làm ác, là vượt trên đối đãi nhơn quả nhị
nguyên để giải thoát khỏi sự trói buộc của nhị nguyên
nhơn quả".
Đây
là một sự hiểu lầm nghiêm trọng đối với Giáo-lý giải
thoát của đức Phật, một sự xuyên tạc (mặc dù vô tình
vì thiếu hiểu biết) đối với tông Thiền, một sự bắt
chước sáo rỗng, ngô nghê, ngớ ngẩn như vẹt học nói, nói
mà không biết ai nói, khiến chúng ta phải cười ra nước
mắt !
Đứng
về cả hai mặt Đạo và Đời mà xét, thì, do chưa phải là
người đã thực sự ly gia cát ái trọn vẹn trăm phần, nên
trong chỗ thật tế trước mắt, người cư-sĩ (tu Phật tại
gia) đương nhiên vẫn còn là một thành viên gắn bó và chịu
ảnh hưởng trực tiếp đối với gia đình mà mình đang sinh
sống. Dù tâm đã xuất gia theo Phật, nhưng bản thân người
ấy mặc nhiên vẫn còn là người chủ, người thầy, người
ông, người cha, người huynh trưởng, là người trực tiếp
quyết định sự thành bại, an nguy, vui sướng hay khổ đau
cho cả gia đình mình ở tương lai, phía trước. Đặc biệt
là đối với sự giáo dục, uốn nắn con cái để chúng thành
người hữu ích cho gia đình và xã hội mai sau, thì đó là
bổn phận và trách nhiệm to lớn mà người Phật-tử tại
gia phải làm tròn.
Đề
cập tới vai trò của một người tu Phật tại gia đối với
chính gia-đình mà mình đang sinh hoạt và chịu ảnh hưởng,
thì đó là một vấn đề hết sức rộng lớn và khó lòng
có thể bộc bạch hết trong vài ba quyển sách, huống là trong
khuôn khổ hạn hẹp của một bài viết ngắn. Cho nên, ở
đây chúng tôi chỉ xin đề cập tới một phần nhỏ của
một chủ đề lớn, ấy là bàn về trách nhiệm của người
cư sĩ đôùi với việc dạy dỗ con cái trong gia đình. Hơn
thế nữa, nếu vấn đề nhỏ này được khai thông sáng tỏ,
thì những mắc mứu còn lại trong cuộc sống trước mắt,
một bên là gia đình và một bên là đạo pháp, tức mối
tương quan giữa đạo và đời, ắc cũng sẽ được người
cư sĩ "ngộ ra" mà giải quyết một cách minh bạch, hầu tự
mở cho mình một hướng đi đúng pháp, vừa tốt đời vừa
đẹp đạo, trọn vẹn cả đôi đường.
III.
Chân lý giải thoát của Phật đạo, thể hiện rõ nét và
cũng rất dễ nhận ra, đặc biệt là ở tông Thiền, cũng
là Chánh-pháp Nhãn-tạng của Như-lai, là không phải giải
thoát ở đâu xa, không phải đợi đến sau khi chết rồi mới
giải thoát, mà giải thoát ngay trong cuộc sống này, giữa
cuộc đời này, tự thân chứng nghiệm hiện tiền giải thoát,
cũng là thực tế giải thoát khỏi sự trói buộc của cái
tâm chấp ngã, chấp pháp vậy.
Nghĩa
là sao? Nghĩa là tự vượt thoát khỏi bản ngã, vượt
thoát khỏi các khái niệm sanh diệt xung đối ràng buộc, trói
cột trong tâm như giàu nghèo, phải trái, hơn thua, lành dữ,
thánh phàm, được mất, có không, cao thấp, sang hèn, sướng
khổ . . . do phân biệt vì chấp ngã. "Chấp" cũng có nghĩa
là tự trói buộc vào các pháp tướng hư vọng, huyễn hóa,
sanh diệt kia để cùng chúng đi vào nhơn quả sanh diệt. Bằng
vô chấp thì cũng có nghĩa là tự tâm rổng rang không trói
buộc với bất cứ một pháp tướng nào, kể cả cái pháp
tướng vi tế mà mình "vô chấp" kia, thì ngay đó ắc hốt
nhiên nhận ra thể tánh chơn thật của bổn tâm, cũng là tánh
biết sáng suốt tuyệt đối hiển lộ, không lầm nhơn quả,
cũng là biết như thật vạn pháp tự "như" trước mắt, không
chi dính dấp, là vô ngã tự tại, là hiện tiền giải
thoát vậy.
Đạo
Phật là đạo của sự thật, là chân lý hiển hiện tự nhiên
như nhiên rõ ràng trước mắt, nghĩa là vạn sự vạn vật
xảy sanh trong từng mỗi sát-na, trong từng mỗi hoạt dụng,
từ thô đến tế không chi không phải từ đạo mầu diệu
xuất. Người tu Phật chân chính có thể tự chứng ngộ Phật
tâm không sanh không diệt trước mắt, không lầm nhơn quả
trước mắt, vô ngã tự tại trước mắt. Đặc biệt đối
với những người phước đức cao dày, căn trí linh lợi,
tu học theo tông Thiền, có bậc thầy đắc pháp trực tiếp
dẫn dắt thì hoàn toàn có thể thật chứng Phật tâm ngay
trong đời này.
Trở
lại với người cư sĩ trên kia. Chỉ vì sự thiếu hiểu biết
ban đầu đối với chân-lý giải thoát của đức Phật, đã
kéo theo hàng loạt những sai lầm khác trong ý tưởng và hình
thức tu tập, khiến người cư sĩ trên kia tự dẫn mình đi
vào ngõ hẹp không lối thoát, lại phải mang tiếng là yếm
thế, tiêu cực, tư kỷ, trốn đời. Bỡi vì suy nghĩ và hình
thức tu tập như vừa nêu, chẳng phải là hành động của
một Phật tử tại gia sáng suốt mà là sự ngớ ngẩn, thiểu
trí, nông nổi nhứt thời, do chấp ngã, chấp pháp vì thiếu
hiểu biết, không được dẫn dắt trực tiếp bỡi các bậc
thiện tri thức.
Có
một số không ít các bạn đạo ham thích và theo đuổi Tông
Thiền, nhưng do căn trí kém linh lợi, cũng như không có được
các bậc thiện tri-thức tức những vị thầy đắc pháp của
tông môn này trực tiếp hướng dẫn, nên thay vì biết trên
lời, vựơt ý mà hiểu để tự thể nhập Trung-đạo, thì
họ lại dùng tri thức sanh diệt để biện biệt, lý giải
ngôn ngữ và hành động siêu vượt phàm tình của các Thiền-sư
trong sách vở, khiến họ càng xa lìa tánh thấy biết, cũng
là tự trói buộc chặt hơn vào mớ tri thức của vọng nghiệp
sanh tử.
Do
vậy mà không ít người đã không ngần ngại mượn lời người
khác để lý luận hoặc chống chế khi bạn bè hoặc những
người thân phàn nàn họ về việc không chịu giúp đỡ gia
đình hay dạy dỗ con cái. Họ nói:
-
"Chư Tổ dạy không làm thiện cũng không làm ác, vì thiện
ác đều là lẽ tương đối, là hai đầu trói buộc của nhơn
quả sanh diệt. Tôi là người tu Thiền, nên trước mắt mọi
việc cứ như như, không chỗ nào dính dấp tới".
-
Có thiệt là thân tâm bạn đã thật sự tự "như như" đối
với các pháp xảy sanh trước mắt chưa ?
Tuy
hỏi như thế nhưng cũng vẫn trả lời giùm bạn:
-"Ngàn
lần chưa "như" được ! Chẳng "như" được một chút nào
cả".
Bỡi
cớ sao? - Chỉ bỡi một sự thật mà thôi. Nghĩa là ngôn
ngữ mà bạn vừa dùng ở trên, chẳng phải như là thứ ngôn
ngữ vượt cách, được áp dụng cho từng mỗi tình huống
mà các bậc không tâm, đắc pháp của tông Thiền đã dùng
để khai thị cho người, mà là thứ ngôn ngữ của khái niệm
được vay mượn để giải thích sự việc nhơn quả, nghĩa
là cũng chẳng qua lấy tướng trói buộc này để giải thích
tứơng trói buộc kia mà thôi. Lời đáp ấy chẳng dính dấp,
họ hàng gì với ngôn ngữ của những bậc đã thành tựu
cái tâm "như" không dính dấp trói buộc với vạn pháp, nghĩa
là đã sáng tỏ tánh "biết" tuyệt đối, không lầm nhơn quả.
Cho
nên, bạn nói trước mắt vạn pháp cứ như như không chỗ
dính dấp tới bạn, ấy là bạn chỉ tưởng tượng ra như
thế mà thôi. Bỡi cớ sao? Bỡi vì một khi đã tự "như" đối
với tất thảy pháp, thì dẫu nói sao cũng đều là ngôn ngữ
trung đạo, từ cảnh giới chơn như thật chứng tuông chảy,
siêu vượt phàm tình, không chỗ can hệ vướng mắc, chứ
chẳng phải như bạn đã dùng khái niệm nhơn quả để cột
buộc với khái niệm nhơn quả đó.
Vì
thế có thể khẳng định, chỗ mà bạn cho là mọi việc trước
mắt cứ "như như" không dính dấp tới thân tâm bạn, thật
ra đó chỉ là việc mượn vải thưa để che mắt thánh, chẳng
khác tự bưng mắt mình để không nhìn thấy người, rồi
cứ tưởng người cũng không nhìn thấy mình. Điều ấy có
nghĩa là bạn đã cố tình che dấu cái tâm sống động có
ý thức của mình để nó trở thành như vô thức, như ngủ
quên, như vô ký, tức cố tình giả bộ như không thấy, không
nghe, không hay, không biết bất cứ một việc gì xảy ra chung
quanh mình, cũng là cách tự dối mình, đánh lừa người, mang
ý nghĩa trốn đời, tư kỷ, lười nhác, giũ bỏ trách nhiệm.
Nói chính xác hơn, bạn đã cố tình muốn quên đi tất cả
mọi việc xảy sanh trong tâm cũng như trước mắt mình, hầu
có thể lẫn tránh những gì có liên quan, mắc mứu tới mình
mà thôi.
Thế
nhưng sự cố tình vận dụng cái tâm ý thức để quên, để
như là không thấy, nghe, hay, biết thì sự cố tình ấy lại
là sợi giây trói buộc chính mình, vì càng dụng tâm để
quên đi thì cũng có nghĩa là cái tâm ý thức vẫn luôn luôn
nhớ, tức nhớ những gì đã bắt cái tâm phải quên, và cũng
chính mình chứ không ai khác vào đây, tự trói buộc tâm ý
của mình vào chỗ "cố mong quên ấy", chỉ vì một lẽ chấp
ngã mà thôi. Chỗ mà bạn cố tình đè nén, bắt cái tâm có
ý thức để thành như vô thức, để như không thấy, nghe,
hay, biết kia hoàn toàn chẳng giống cái tâm "như" thường
nghe, vô phân biệt mà tự nó vẫn biệt biệt rõ ràng, chơn
thường, sáng suốt, vô ngã, vô biên, vô hạn lượng, không
lầm nhơn quả, nhơn quả chẳng thể trói buộc, là tâm "như"
của những bậc đã sáng tỏ tánh Phật chúng sanh.
Tóm
lại, hoặc là vì chính bạn "không tự biết như thật" thế
nào là một tâm "như" do chưa thật chứng bổn tâm, nên mới
ngộ nhận tâm "như"; hoặc là cố tình bắt cái tâm có ý
thức phải quên để trở thành như vô ký, hoặc chính bạn
phải miễn cưỡng lẩn tránh tất thảy những gì mà bạn
không muốn bắt gặp trong tâm ý thức đó, để phủ nhận
trách nhiệm ngoài thân; hoặc là cố tình tự lừa mình và
dối người khi cho rằng tâm mình đã tự như như, cũng tức
là đã sáng tánh "biết" tuyệt đối, đã không lầm nhơn quả,
đã tự tại đến đi; thế nhưng qua việc làm không khế hợp
với lý giải thoát "Phật pháp bất ly thế gian" cũng như ngôn
ngữ trói buộc trong khái niệm nhơn quả mà bạn đã thể
hiện, thì có thể nói, sự tu hành của tự thân bạn cũng
chưa là gì cả, tâm bạn cũng chưa "như" được một chút
nào cả.
Tâm
bạn có tự "như như", tức không vướng mắc trói buộc với
các pháp xảy sanh trước mắt hay không, tự nó thể hiện
lên thân, khẩu, ý một cách rõ nét, dù mình có muốn dấu
che cũng chẳng thể được nào. Nghĩa là, chỉ cần một câu
nói, một hành động bất chợt, thì mọi việc phô bày cách
rõ ràng: hoặc là nó thể hiện sự trói buộc với các khái
niệm nhị nguyên nhơn quả do vọng tâm phân biệt vì chấp
ngã như câu nói của bạn ở trên; hoặc là đã tự vượt
thoát bản ngã, là "đang-là" trong nhứt niệm, đương niệm,
cũng là nói, là làm trong tánh "biết" sáng suốt tuyệt đối,
thông lưu vô ngại, siêu vượt khái niệm nhơn quả phàm tình.
Sẽ
chỉ tự "như" một cách chân thật đối với vạn pháp trước
mắt, khi nào tự tâm bạn bùng vỡ, cũng là chợt bừng sáng
tánh thấy biết bổn lai, cũng là bổn thể chơn thường, cũng
là Phật tánh hiển lộ. Cũng tức ngay đó, tự thấy biết
chơn thật, không lầm nhơn quả, nghĩa là vạn pháp biến hiện,
mất còn trước mắt mà không chổ dính dấp tới tánh thấy
biết tuyệt đối, sáng suốt, chơn thường, không một vật
mà tạm gọi ngay ấy, trong ấy, hiện ấy, tại ấy bạn tự
"đang-là", là một, tuyệt đối, bất khả thuyết, bất khả
tư nghì.
Chợt
sáng tánh biết thì liền đó "biết" như thật, bản thể sáng
trong, thường hằng, linh diệu, tuyệt vô đối đãi, là bổn
lai diện mục cùng cái tướng động tay, múa chân, nghiêng
đầu, hả miệng, trợn mắt, chau mày của bạn, luôn tự viên
dung, thông lưu, xuyên suốt, chẳng phải hai cũng không phải
khác, như lửa đã sẵn có tự trong củi, như sóng đã tự
sẵn trong nước vậy; lửa trong củi, sóng trong nước thiệt
chẳng phải một, chẳng phải hai cũng không phải khác, nếu
không tự vọng niệm phân biệt. Có nghĩa là tánh biết "biết"
như thật, cũng là thật chứng bổn tâm, thể tánh chơn
thường và tướng này dung thông, chẳng ngại nhau, chẳng phải
hai cũng không phải khác, cũng tức là bổn thể chơn như phi
sanh diệt và diệu dụng của chính nó tự một, thông lưu,
xuyên suốt, bao trùm, vô ngại, nhờ "tánh" linh diệu của bổn
thể mà được như thế. Khi ấy không có gì là có "hai bên,
hai phía" tức lưỡng nguyên đối đãi có thể hiện hữu
trong bạn nữa, bỡi ngay đó bạn tự một, đồng một, cũng
chính là một pháp duy nhất, độc diệu, sáng suốt, vô hạn
lượng, bất khả thuyết, bất khả tư nghì.
Một
khi sáng tỏ tánh thấy biết, thì (tánh thấy biết, cũng là
chơn tâm, chơn ngã) liền tự "như" đối với tất thảy pháp,
không gì dính dấp tới dẫu trời có sập trên mình bạn,
vì ngay đó tánh biết "biết" như thật thảy thảy vạn pháp
đều là hoa đóm trong không. Ngay đó, bạn (cùng tánh biết
dung thông, là một, tuyệt đối) tự rõ như thật, không còn
cần phải bỏ thân, trốn đời, hay cố tình cắt đứt cuộc
đời cũng là tự cắt đứt chính bạn ra làm trăm, ngàn mảnh
như bây giờ, cũng tức là bạn không cần phải tự làm ma
thuật để dối lừa chính bạn nữa. Bỡi vì mọi hoạt dụng
xảy sanh trước mắt bạn, đều là đạo, từ đạo xuất
sanh chứ không là gì khác, kể cả cái thân tướng sanh diệt,
huyễn vọng mà một sát na trước tự chấp là "ta", cũng chỉ
là dụng của tánh biết tuyệt đối, như trăng trong nước,
như cái bóng trong gương mà thôi.
Đến
khi đó bạn tự biết như thật, chỉ có từ thế gian, trong
thế gian, từ nhơn quả sanh diệt, trong nhơn quả sanh diệt,
từ các pháp huyễn vọng, trong các pháp huyễn vọng, từ trong
vọng thức vô minh, nhờ vọng thức vô minh….từ chính các
hoạt dụng xảy sanh trước mắt mà chúng sanh mới có thể
tự ngộ tánh thấy biết sáng suốt tuyệt đối, cũng là mặt
mũi chơn thật vốn tự sẵn có, thường hằng, phi sanh diệt,
cũng là tánh Phật chúng sanh mà thôi.
Đến
khi đó thì bạn tự ồ lên kinh ngạc vì vỡ lẽ: thì ra tánh
thật vô minh là Phật tánh, thật tánh sanh tử chẳng ngoài
Niết-bàn tịch tịnh vô sanh.
Bằng
ngược lại, nếu không từ trong nhơn quả vô minh, không từ
chính trong cuộc đời này, không từ chính trong thân tâm hư
vọng này, không từ chính trong mọi hoạt dụng hằng ngày,
không từ chính trong từng cá thể sanh diệt và các pháp tướng
sanh diệt tương quan tương tác ngay giữa thế gian này mà có
thể khám phá và ngộ nhập lý mầu của Phật đạo để giải
thoát vô minh sanh tử là điều chưa từng có, chưa từng xảy
ra vậy. Muốn tìm đạo, muốn thể nhập đạo, muốn "một"
với đạo mà tự quay lưng, trốn tránh, rời lìa các hoạt
dụng nhiệm mầu trước mắt mà lúc nào đạo cũng tự sẵn
dung chứa, thông lưu, thì biết chừng nào mới thành tựu được
sở nguyện. Thí như muốn có lửa để sưởi ấm mà không
dùng củi để tự nhen nhúm, thì làm sao ấm được?.
Bỡi
muôn pháp hư vọng trước mắt, mà trong đó có chính cái thân
tâm này, được tạm gọi là "Ta", tức cũng là một pháp hư
vọng, đều từ một pháp chơn thường duy nhất mà ra, tức
bổn thể chơn như, thường hằng, tự tại, bất biến, mà
thường tuỳ duyên khéo sanh các pháp. Nếu lìa cái dụng "rất
diệu" của thể tánh chơn thường mà có thể khám phá bổn
thể linh diệu chơn thường, thì chỉ đợi khi nào thỏ có
sừng, rùa mọc lông thì họa chăng mới thành sự thật.
Không
thể lìa thế gian mà có thể chứng ngộ Phật đạo, không
thể lìa cảnh giới sanh tử mà có thể sáng lẽ Bồ-đề
giải thoát, chứng nhập cảnh giới Niết-bàn, tịch tĩnh,
vô sanh. Đó là lẽ thật trăm phần, là chân lý bất biến.
Thí như muốn thấy biết cái mặt thật của mình tròn méo
ra sao mà không cần nhờ tới cái ảnh ảo của mình trong gương
thì khó mà biết được. Cũng có nghĩa là không biết nương
cái ảnh ảo trong gương thì khó bề nhận ra cái mặt thật
của mình.
"Phật
pháp bất ly thế gian", đó là chân lý bất biến, một
sự thật hiển nhiên, tất yếu, là lẽ tự nhiên như nhiên,
như một cộng với một là hai vậy.
Nghĩa
là sao ? Nghĩa là từng mỗi chúng sanh biết tuỳ duyên nhờ
vào một trong hằng vạn pháp phương tiện thiện xảo mà đức
Phật đã chỉ bày để đem áp dụng trực tiếp vào chính
cái thân này, cái tâm này, cái cảnh này, cái tri thức huyễn
vọng này, cái cuộc sống hiện tại trước mắt này, để
có thể ngộ ra mặt mũi chơn thật vốn tự sẵn có xưa nay
chưa từng hư mất của mình. Bổn thể uyên nguyên, tạm mượn
từ ngữ gọi là một pháp duy nhất, tự tại, chơn thường,
bất biến mà vẫn thường tuỳ duyên khéo sanh muôn pháp, mà
thân tâm này cũng là một pháp trong muôn vạn pháp xuất sanh
từ một pháp duy nhất đó, hễ chợt ngộ ra thì cũng liền
tự biết như thật, mình cũng là một pháp duy nhất bất biến,
chơn thường, mà nói không thể tới.
Vẫn
biết rằng cái con người đi đứng, nằm, ngồi cùng vật,
cảnh lay động trong gương là ảo ảnh. Thế nhưng, muốn tìm
ra cái con người thật trong gương, thì chỉ một phép là phải
biết nhìn dội ngược, chiếu theo bóng hình, ảo ảnh kia mà
tìm thì mới mong khám phá ra người thật được.
Tạm
lấy một thí dụ. Như từng mỗi bóng trăng trên sóng nước,
một khi ngộ ra lẽ thật, liền biết như thật chính nó là
một huyễn pháp sanh diệt, tự nó không có thật thể. Nó
biết như thật, sở dĩ có muôn vàn bóng trăng như nó và cùng
nó tương quan, tương tác, biến hiện, mất còn trên sóng nước,
chỉ là do ánh sáng của mặt trăng thật chiếu soi trên nước
mà thành, tức biết như thật cái tướng trăng huyễn giả
của nó trên nước là do thể sáng của mặt trăng tuỳ duyên
chiếu soi mà hiện ảnh; tánh sáng của ảnh hiện đồng một
cùng tánh sáng của ánh trăng luôn bất động, tự tại, như
như, bình đẳng, thường hằng. Ngay đó tự khám phá, chính
nó (ảnh hiện) là một huyễn tướng, huyễn sanh huyễn diệt,
một pháp tướng hữu hạn sanh diệt trên sóng nước, mà cũng
là một vô hạn lượng, thường hằng, sáng trong, phi sanh diệt,
đồng một, là một, và cũng chính là tánh sáng của
mặt trăng thật vậy.
Nghĩa
là, nếu không trăng thật tuỳ duyên chiếu soi trên sóng nước,
thì cũng sẽ không có những bóng trăng huyễn và các tương
tác sanh diệt như nó được. Ngược lại, từng mỗi mỗi
bóng trăng đang thoắt ẩn, thoắt hiện trên sóng nước cùng
thâu nhiếp vào một mặt trăng thật, tự chúng đồng một,
là một với mặt trăng thật.
Đang
trói buộc trong cảnh giới nhơn quả sanh diệt vì lầm biết
do chấp có thật ngã thật pháp, hốt nhiên bừng sáng tánh
biết bổn lai, tánh biết tuyệt đối, thì liền vượt qua
bờ kia, không lầm nhơn quả, nhơn quả chẳng thể trói buộc,
là tự tại giải thoát.
Chúng
sanh trong cảnh giới nhơn quả cũng như thế, chỉ có thể
ngộ ra thật tánh, thật tướng của mình bỡi chính từ cái
thân tâm huyễn vọng, nay còn mai mất mà mình đang đeo mang,
trong cảnh giới nhơn quả này mà thôi.
Bằng
lìa cái thân tâm này, quay lưng nhắm mắt lại với cái cảnh
giới hư huyễn này, trốn chạy các pháp tương quan, tương
tác ngay trong cuộc sống này mà có thể giác ngộ tánh biết
chơn thật, tánh biết không lầm nhơn quả hầu vượt thoát
nhơn quả, có khác nào cái bóng trăng trên nước tự rời
lìa chính cái bóng sáng hình trăng của nó trên nước thì
lấy cái gì để mà nó có thể ngộ ra thể tánh chơn thật
của chính nó, cũng là mặt trăng đang tỏa sáng và lặng lẽ
chiếu soi kia?
Với
bạn cũng vậy, một khi tánh thấy biết chơn thật hiển lộ,
thì liền biết như thật, mọi hoạt dụng xảy sanh trước
mắt, tất thảy đều tương ưng, tương hợp với đạo pháp,
trong tình thương bao la, bình đẳng của tánh Phật. Nghĩa là
bạn làm tất thảy việc để giúp đỡ mọi người sao cho
đều được trở nên toàn hảo, mà trong đó có những thành
viên của gia đình bạn, bằng với một tâm như, nghĩa là
tự nhiên như nhiên, làm mà không thấy làm, vì biết như thật,
đó chỉ là cái tướng huyễn từ diệu tánh đang trổ thần
thông để tuỳ duyên hành Bồ-tát đạo, làm tất thảy việc
với cái tâm "vô" bình đẳng, vô phân biệt .
Đến
lúc đó bạn mới biết một cách như thật, thế nào là ý
nghĩa câu nói của chư Tổ, "đói ăn, khát uống, mệt đi ngủ",
hay "không làm thiện không làm ác", tức là làm bằng cái tâm
"không, vô tướng, vô tác" tự nhiên như nhiên, bình đẳng
của đạo mầu, chứ chẳng phải bằng sự hiểu biết ngô
nghê, ngớ ngẩn vì vô minh trói buộc.
IV.
Còn bây giờ, đối với biển pháp mênh mông không ngằn mé
ở phía trước, bạn chỉ là người sơ cơ cầu Phật. Cũng
có nghĩa, trong khi chờ đợi một cơ duyên hy hữu xảy đến
với bạn ở tương lai, cũng là thành tựu đại công đức
"khám phá tánh thấy biết chơn thật để không lầm nhơn quả",
vượt thoát nhơn quả, tự do tự tại, thì song song với việc
tham thiền tu học, bạn hãy nên biết áp dụng một cách thực
tiễn giáo lý giải thoát của đức Phật vào ngay trong cuộc
sống này để tự làm một phật tử tại gia đúng nghĩa trước
đã.
Nghĩa
là trước hết bạn phải biết y theo những lời dạy của
đức Phật mà tu hành một cách chân chính: không một việc
thiện nào mà không làm, cũng như không một việc bất thiện
nào mà làm, mà nghĩ tới. Có làm được như thế, cũng tức
là để trước hết vun trồng căn lành, phước nghiệp cho
mình, đến lúc đầy đủ công đức, tròn duyên tròn phước,
thời cơ chín mùi, thì tự khắc có chỗ khai mở, tự khắc
thật chứng bổn thể vô sanh.
Vả
lại bạn là người đang theo đuổi tông Thiền. Mà với tông
Thiền cũng là chánh pháp Nhãn-tạng của Như-lai, thì, đạo
mầu phô bày trong từng mỗi hoạt dụng hằng ngày, dù nhỏ
nhặt nhất, không lìa thế gian, chưa từng che dấu và bí quyết
của sự chứng ngộ là ở ngay trước mắt. Đối với
tông môn này, đạo chưa từng lìa mình một giây một khắc
nào, nó thực tế đến nỗi đi đứng nằm ngồi uống ăn
ngủ nghỉ đều là đạo, từ đạo, trong đạo, cho đến việc
một ngày không làm là một ngày không ăn, cũng là đạo lý
đó bạn ạ. Nếu không phải thế thì Thiền Tổ Bá-Trượng
đã không buộc phải chép cái điều lệ bất hủ "nhứt nhựt
bất tác, nhứt nhựt bất trác" này vào Thanh-qui của mình
đâu !
Một
Phật tử tại gia đúng nghĩa, thông sáng lý đạo, thì hiểu
rằng không thể lìa thế gian mà có thể chứng ngộ tâm giải
thoát. Lại nữa, do chưa phải là người thực sự ly gia, cát
ái trăm phần, nên người cư sĩ ắc phải biết y theo những
lời dạy của đức Phật mà hành trì, nghĩa là tu và hành
không ra ngoài tam-qui, ngũ giới, cũng như không quên ba đức
lớn Bi-Trí-Dũng mà người Phật tử phải biết luôn luôn
phát huy, củng cố và giữ gìn, mà trong đó cái tâm từ bi
khiến mình không quên nghĩa vụ chăm lo giúp đỡ gia đình,
mà trách nhiệm giáo dục con cái nên người là việc quan trọng
hàng đầu.
Một
Phật tử tại gia đúng nghĩa, song song với việc như pháp
hành trì, phải biết vun đắp cái vốn đạo đức căn bản
làm người trước đã, sau đó biết đem cái vốn tu học sở
đắc của mình ra để trực tiếp giúp đỡ những người
gần gũi thân cận, hầu xây dựng cho gia đình mình, tức cái
nôi, cái tổ mà trong đó mình cũng là một thành viên, có
được một cuộc sống bình ổn, an lạc, chan hòa, hạnh phúc,
cũng có nghĩa là tu và hành như thế nào để vừa tốt đời,
vừa đẹp đạo vậy.
Làm
tròn được nghĩa vụ này là người cư sĩ đã góp phần không
nhỏ vào việc đem lại hạnh phúc cho những người thân yêu,
nhờ đó có thể cảm hóa được mọi người trong gia đình
cùng hoan hỉ đến với đạo pháp bằng tất cả con tim và
tấm lòng của họ, nhất là tự tạo dựng cho chính mình có
được một môi trường lý tưởng để tu hành và giáo hoá,
cũng là tuỳ thuận nhơn duyên hành Bồ-tát đạo ngay trong
đời này. Đến chừng đó, chỉ cần bước một bước là
vào ngay cảnh giới "Trung" của các bậc thánh, tánh biết hốt
nhiên bừng sáng, biết như thật vạn pháp trước mắt "tự
như", nói nín tuỳ duyên làm lợi ích cho người mà không chi
dính dấp, tự tại an nhiên, đến đi vô ngại, chứ chẳng
cần phải mượn lời người khác nói ngớ ngẩn như con vẹt,
nói mà không biết ai đang nói, hay thẫn thờ, đờ đẫng,
tỉnh tỉnh, mê mê như con mọt sách trong hiện tại.