CHƯƠNG
IV
CÁC NGHI THỨC
KHÓA LỄ
Một
người Phật tử tại gia cần phải thông thuộc các nghi thức
sinh hoạt lễ hội Phật giáo có liên quan đến cư sĩ. Mặc
dù ở các buổi lễ đều có người hướng dẫn (A-cha, ācariya),
nhưng nếu ai cũng hiểu thông nghi thức và thuộc kinh kệ thì
dễ hòa đồng và dễ cho người hướng dẫn; hoặc có khi
chính mình phải hướng dẫn nghi thức trong lễ ấy.
IV-1.
NGHI THỨC TỤNG NIỆM
Có
bốn loại kinh tụng niệm mà người cư sĩ nên lưu ý và học
thuộc lòng:
a)
Kinh lễ bái (đầy đủ và tóm tắt)
b)
Kinh hồi hướng
c)
Kinh phục nguyện
d)
Kinh xưng tán uy lực
Các
loại kinh tụng này đều có trong quyển "Nhật Hành của Cư
sĩ" đã được in và tái bản do giáo hội Phật giáo Nguyên
thủy ấn hành tại trụ sở Chùa Kỳ Viên, số 610, đường
Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3, TP HCM.
Về
nghi thức tụng niệm, tùy mỗi khóa lễ ở chùa hay ở tư
gia; lễ đặc biệt hay buổi công phu sáng chiều.
Có
thể áp dụng nghi thức thứ tự như sau:
- Tụng
kinh lễ bái Tam bảo (đầy đủ hoặc tóm tắt).
-
Tụng xưng tán uy lực hoặc kinh quán tưởng, kinh rải tâm
từ v.v...
-
Tụng kinh hồi hướng phước đến chúng sanh, hoặc hồi hướng
phước đến chư thiên.
-
Tụng kinh phục nguyện để nguyện thành tựu phước.
Khi
tụng kinh nên ngồi xếp bằng hoặc xếp chè-he (một chân
xếp qua bên phải), lưng giữ ngay thẳng, mắt khép lại (nếu
tụng thuộc lòng), tâm thái thư thản không bận rộn lo lắng
việc khác, đọc thầm hoặc nhỏ tiếng. Nếu tụng kinh với
nhiều người thì đọc lớn tiếng nhưng phải giữ hòa giọng
với nhau. Trước khi tụng kinh hoặc sau khi tụng xong, đảnh
lễ ba lạy, có thể quì gối hoặc ngồi, lạy chậm chậm
chánh niệm với lòng thành kính Tam bảo.
Tụng
niệm có ích lợi ở hai phương diện: giúp tâm chánh niệm
vì tập trung vào lời kinh; giúp ôn nhuần kinh pháp đã học.
Người
cư sĩ sơ cơ có thể thực hành thiền tập qua nghi thức tụng
niệm vào lúc chiều tối và sáng sớm yên tĩnh, thời lượng
không nhất định, tùy thích hoặc tùy hoàn cảnh.
IV-2.
NGHI THỨC QUI Y
Những
người nam hoặc nữ cư sĩ muốn tu tập theo Phật giáo đã
có lòng kính tin Tam bảo, phát tâm qui y Phật-Pháp-Tăng. Trường
hợp như vậy có thể áp dụng một trong hai nghi thức qui y.
A-
Tự phát nguyện qui y
Trường
hợp này khi người cư sĩ không có dịp đến chùa gặp chư
Tăng xin qui y mà ở nhà tự phát nguyện. Bằng nghi thức như
sau:
Nên
sắp xếp một nơi trong nhà thờ hình tượng Phật; sau khi
dâng hương đăng trên bàn thờ, quì lạy kim thân Đức Phật
ba lạy, bắt đầu tụng đọc như vầy:
Itipi
so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaranasampanno sugato lokavidū
anuttaro purisadammasārathī satthādevamanussānaṃ buddho bha-gavā’
ti.
Đức
Thế Tôn ấy là bậc Ưng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Svākkhāto
bhagavatā dhammo sa diṭṭhiko akāliko ehipassiko opanayiko paccattaṃ
veditabbo viñ-ñūhī’ ti.
Giáo
pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện
tại, bất luận thời gian, đến để thấy, hiệu năng hướng
thượng, đáng được người trí tự chứng.
Supaṭipanno
bhagavato sāvakasaṅgho ujupatipanno bhagavato sāvakasaṅgho ñāyapaṭipanno
bhagavato sāvakasaṅgho sāmīcipaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho.
Yadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā esa bhagavato
sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhineyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṃ
puññakkhettaṃ lokassā’ ti.
Tăng
đệ tử Thế Tôn là thiện hạnh, Tăng đệ tử Thế Tôn là
trực hạnh, Tăng đệ tử Thế Tôn là như lý hạnh, Tăng đệ
tử Thế Tôn là chân chánh hạnh. Tăng đệ tử Thế Tôn gồm
bốn đôi tám vị đáng nhận lễ phẩm, đáng nhận tặng phẩm,
đáng nhận tế phẩm, đáng được chắp tay lễ bái, là phước
điền vô thượng của thế gian. (lạy một lạy).
Arahaṃ
sammāsambuddho bhagavā buddhaṃ bhagavantaṃ abhivādemi.
Con
kính lạy Đức Phật Thế Tôn là bậc A la hán Chánh Đẳng
Giác. (1 lạy).
Svākkhāto
bhagavatā dhammo dhammaṃ namassāmi.
Con
kính lạy giáo pháp là pháp được khéo thuyết bởi Đức
Thế Tôn. (1 lạy).
Supaṭipanno
bhagavato sāvakasaṅgho saṅghaṃ namāmi.
Con
kính lạy Tăng chúng là Tăng đệ tử Đức Thế Tôn, bậc
thiện hạnh. (1 lạy).
Buddhaṃ
saraṇaṃ gacchāmi
Dhammaṃ
saraṇaṃ gacchāmi
Saṅghaṃ
saraṇaṃ gacchāmi.
Dutiyampi
buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi
Dutiyampi
dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi
Dutiyampi
saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Tatiyampi
buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi
Tatiyampi
dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi
Tatiyampi
saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Con
xin qui y Phật, con xin qui y Pháp, con xin qui y Tăng.
Lần
thứ hai, con xin qui y Phật, con xin qui y Pháp, con xin qui y Tăng.
Lần
thứ ba, con xin qui y Phật, con xin qui y Pháp, con xin qui y Tăng.
(1 lạy).
Natthi
me saraṇaṃ aññaṃ buddho me saraṇaṃ varaṃ. Etena saccavajjena
hotu me jayamaṅgalaṃ.
Natthi
me saraṇaṃ aññaṃ dhammo me saraṇaṃ varaṃ. Etena saccavajjena
hotu me jaya-maṅgalaṃ.
Natthi
me saraṇaṃ aññaṃ saṅgho me saraṇaṃ varaṃ. Etena saccavajjena
hotu me jayamaṅgalaṃ.
Chẳng
có chi khác là chỗ nương cho con, chỉ Đức Phật đối với
con là chỗ nương cao quí. Do lời chân thật này mong cho con
được kiết tường thắng lợi.
Chẳng
có chi khác là chỗ nương cho con, chỉ Giáo pháp đối với
con là chỗ nương cao quí. Do lời chân thật này, mong cho con
được kiết tường thắng lợi.
Chẳng
có chi khác là chỗ nương cho con, chỉ Tăng chúng đối với
con là chỗ nương cao quí. Do lời chân thật này, mong cho con
được kiết tường thắng lợi.-- (lạy 3 lạy).
Từ
khi phát nguyện qui y, đã thành người cận sự trong Phật
giáo, hãy giữ niềm tin Tam bảo và giữ gìn năm giới.
B-
Qui y trực diện Tăng
Người
cư sĩ qui y trực diện Tăng là sau khi đi đến chùa, trực
tiếp xin qui y trước sự chứng minh của một hoặc nhiều
vị sư. Tốt nhất là lễ qui y nên cử hành tại chánh điện.
Phải
làm theo nghi thức sau đây:
Trước
tiên nên sám hối tội lỗi để bắt đầu nhập đạo. Sau
khi đảnh lễ Phật-Pháp-Tăng ba lạy, bắt đầu đọc như
sau:
Accayo
maṃ bhante accagamā yathābālaṃ ya-thāmūḷhaṃ yathā-akusalaṃ.
Yo’haṃ [1] bhante kāyena vā vācāya vā manasā vā buddhassa vā
dhammassa vā saṅghassa vā agāravaṃ akāsiṃ. Tassa [2] me ayyo
[3] accayaṃ accayo paṭiggaṇhātu āyatiṃ saṃvarāya.
Bạch
đại đức [4], vì con là người thiểu trí, lầm lạc, không
minh mẫn nên đã phạm các tội lỗi. Bạch đại đức, sợ
e con đã dể duôi, không có lòng thành kính, do thân khẩu ý
của con bất tịnh mà phạm đến Phật Pháp Tăng. Bạch đại
đức, cầu xin đại đức xá tội lỗi ấy cho con, bởi các
tội lỗi ấy là quấy thật, đặng cho con làm những việc
lành từ nay về sau (1 lạy).
Vị
sư chứng minh, hoặc chư Tăng chứng minh nên xác chứng lời
sám hối bằng tiếng "Sādhu, sādhu, sādhu".
Người
ấy tiếp tục bằng lời thệ nguyện qui y như sau:
Esvāhaṃ
[5] bhante suciraparinibbutampi taṃ bha-gavantaṃ saraṇaṃ gacchāmi
dhammañca bhikkhusaṅ-ghañca upāsakaṃ [6] maṃ ayyo dhāretu [7]
ajjatagge pāṇu-petaṃ saraṇaṅgataṃ.
Bạch
đại đức [8], con cầu xin thọ phép qui y Phật đã níp bàn,
cầu xin thọ phép qui y pháp, cầu xin thọ phép qui y tăng. Xin
đại đức nhận biết cho con là người cận sự nam [9] đã
qui y Tam bảo kể từ nay cho đến trọn đời. (1 lạy).
Khi
ấy vị sư chứng qui y, hoặc một trong những vị Tăng chứng,
hãy truyền qui giới cho người cư sĩ ấy (áp dụng nghi thức
thọ ngũ giới).
Sau
khi người cư sĩ ấy đã thọ trì qui giới và trở thành một
Phật tử, chư Tăng sách tấn bằng một pháp thoại ngắn rồi
phúc chúc an lành đến người Phật tử mới qui y.
Nếu
trong lễ qui y có nhiều thiện nam tín nữ tham dự thì khi chư
Tăng vừa dứt lời chúc phúc, chư thiện tín đồng đọc bài
kệ hoan hỷ có thêm bạn đạo.
Ngưỡng
cầu Đức Phật ban ơn
Độ
người chánh kiến tầm chơn đạo thiền
Ngưỡng
cầu đức pháp vô biên
Độ
người hữu chí cần chuyên đạo hành
Ngưỡng
cầu hai bậc Tăng lành
Độ
người mộ đạo tâm thành qui y
Cầu
xin thiên chúng hộ trì
Giúp
người giới luật luôn khi giữ tròn
Chúc
cho bạn mới lòng son
Tu
hành tinh tấn dạ mong Níp bàn
Thiện
nam, tín nữ lưỡng ban
Xin
cùng đồng chí bạn vàng nhận thâu
Phước
lành đạo tạo bấy lâu
Đồng
xin hồi hướng nguyện cầu quả cao
Đạo
mầu gắng chí dồi trau
Thoát
đường tội lỗi, trần lao dứt lần
Tìm
người trí thức xa gần
Học
người đạo đức ân cần hỏi han
Ngày
đêm tu tập đoan trang
Công
phu hành đạo tìm đàng vô sanh
Dọn
thân khẩu ý trọn lành
Kịp
thời thoát tục thực hành đạo cao
Tìm
đường bát chánh lần vào
Siêu
phàm nhập thánh tiêu dao Níp bàn.
Dứt
nghi thức qui y
IV-
3. NGHI THỨC THỌ NGŨ GIỚI
Người
cư sĩ mới qui y Tam bảo phải thọ ngũ giới, và trong các
cuộc lễ khác như trai tăng, thính pháp v.v... trước khi vào
chính lễ đều có nghi thức thọ ngũ giới. Nghi thức này
áp dụng như sau:
Ngồi
đối diện trước chư tăng, hoặc một hay vài vị tỳ kheo,
sa di, cư sĩ đảnh lễ Tăng và đọc như vầy:
Ukāsa
ahaṃ [10] bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāya tisaranena saha pañca
sīlāni yācāmi [11].
Dutiyampi
ahaṃ bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāya tisaranena saha pañca sīlāni
yācāmi.
Tatiyampi
ahaṃ bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāya tisaranena saha pañca sīlāni
yācāmi.
Bạch
đại đức, con xin thọ trì tam qui và ngũ giới nơi Tam bảo,
để vâng giữ hành theo cho được sự lợi ích.
Bạch
đại đức, con xin thọ trì tam qui và ngũ giới nơi Tam bảo,
để vâng giữ hành theo cho được sự lợi ích lần thứ nhì.
Bạch
đại đức, con xin thọ trì tam qui và ngũ giới nơi Tam bảo,
để vâng giữ hành theo cho được sự lợi ích lần thứ ba.
Tiếp
đó một vị sư đại diện Tăng để truyền qui giới đến
cư sĩ. Bắt đầu kinh lễ Phật.
Namo
tassa bhagavato arahato sammāsambud-dhassa (3 lần).
Con
đem hết lòng thành kính làm lễ đức Phá-gá-va đó, ngài
là bậc Á-rá-hăng cao thượng, được chứng quả chánh biến
tri, do Ngài tự ngộ không thầy chỉ dạy. (3 lần).
Người
cư sĩ cũng đọc kinh lễ bái như vậy. Xong, vị sư sẽ đọc
từng câu truyền thọ tam qui, cư sĩ đọc theo:
Buddhaṃ
saraṇaṃ gacchāmi.
Con
đem hết lòng thành kính xin qui y Phật.
Dhammaṃ
saraṇaṃ gacchāmi.
Con
đem hết lòng thành kính xin qui y Pháp.
Saṅghaṃ
saraṇaṃ gacchāmi.
Con
đem hết lòng thành kính xin qui y Tăng.
Dutiyampi
buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Con
đem hết lòng thành kính xin qui y Phật, lần thứ nhì.
Dutiyampi
dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Con
đem hết lòng thành kính xin qui y Pháp, lần thứ nhì.
Dutiyampi
saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Con
đem hết lòng thành kính xin qui y Tăng, lần thứ nhì.
Tatiyampi
buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Con
đem hết lòng thành kính xin qui y Phật, lần thứ ba.
Tatiyampi
dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Con
đem hết lòng thành kính xin qui y Pháp, lần thứ ba.
Tatiyampi
saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Con
đem hết lòng thành kính xin qui y Tăng, lần thứ ba.
Đọc
xong tam qui, vị sư nói:
Tisaraṇaggahanaṃ
paripuṇṇaṃ
Phép
qui y Tam bảo tròn đủ chỉ có bấy nhiêu.
Người
cư sĩ đáp:
Āma
bhante! Dạ xin vâng!
Tiếp
đến, vị Sư đọc từng điều giới cho người cư sĩ ấy
đọc theo:
Pānātipātā
veramanī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Con
xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự sát sanh.
Adinnādānā
veramanī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Con
xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự trộm cắp.
Kāmesu
micchācārā veramanī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Con
xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự tà dâm.
Musāvādā
veramanī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Con
xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự nói dối.
Surāmerayamajjapamādaṭṭhānā
veramanī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Con
xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự dể duôi uống
rượu và các chất say.
Vị
sư sau khi cho đọc đủ năm giới rồi thì có lời sách tấn:
Imāni
pañca sikkhāpadāni sādhukaṃ katvā appamādena niccakālaṃ sammārakkhitabbaṃ.
Thiện
tín đã thọ trì năm điều học này rồi, phải vâng giữ
hành theo cho chín chắn chớ có dể duôi.
Người
cư sĩ lãnh giáo
Āma
bhante, Dạ xin vâng
Vị
sư tiếp tục khuyến khích
Sīlena
sugatiṃ yanti sīlena bhogasampadā sīlena nibbutiṃ yanti, tasmā
sīlaṃ visodhaye.
Các
chúng sanh, sanh về cõi trời cũng nhờ giữ giới, các chúng
sanh được đầy đủ tài sản cũng nhờ giữ giới, các chúng
sanh được níp bàn cũng nhờ giữ giới. Bởi các cớ ấy,
thiện tín nên trì giới trong sạch đừng để lấm nhơ.
Thiện
tín đồng hoan hỷ
Sādhu
sādhu! Lành thay, lành thay!
Thọ
giới xong thì tiếp tục làm nghi thức khóa lễ khác; nếu
không có thì Phật tử đọc kinh sám hối Tam bảo tóm tắt.
Vị sư tụng kinh phúc chúc ngắn. Cuối cùng thì Phật tử
hồi hướng phước.
IV.
4. NGHI THỨC THỌ BÁT QUAN TRAI GIỚI
Ngày
trai giới (uposathadivasa) là ngày tu tập thanh tịnh của người
cư sĩ.
Ngày
trai giới, người cư sĩ thúc liễm thân tâm, tạm gát bỏ
việc thế tục, chuyên tâm hành thiền, quán tưởng ... để
trau dồi đạo hạnh.
Thời
Đức Phật trụ thế, ngày trai giới được qui định có 4
ngày trong tháng là mồng 8 âl, ngày rằm, ngày 23 và ngày cuối
tháng (29 hoặc 30). Về sau, các vị Axàlê qui định thêm 4
này nữa thành có 8 ngày trai giới trong tháng, tức là ngày
mồng 5, 8, 14, 15, 20, 23 và ngày cuối tháng (29 và 30 hoặc 28
và 29).
Để
hỗ trợ cho việc tu tập ngày trai giới được viên mãn phước
hạnh, người cư sĩ trong ngày trai giới thọ trì tám điều
học, gọi là bát giới hay bát quan trai giới.
Nghi
thức thọ bát quan trai giới như sau:
Từ
lúc sớm mai rạng đông ngày trai giới, người cư sĩ tác ý
thọ trì trai giới, nguyện rằng:
Ajja
uposatho imañca rattiṃ imañca divasaṃ uposathiko [12] bhavissāmi.
Hôm
nay là ngày trai giới, ta sẽ là người thọ trì trai giới
trọn ngày và đêm nay.
Sau
đó người cư sĩ đi đến chùa để thọ bát quan trai giới
do Tăng chứng minh (nếu có điều kiện ở gần chùa thì đến,
bằng không thì ở nhà phát nguyện cũng được).
Khi
đã đến chùa, đảnh lễ chư Tăng hay một vị sư; cư sĩ
tác bạch xin giới như vầy:
Ukāsa
ahaṃ bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāya tisaraṇena saha aṭṭhaṅgasamannāgataṃ
uposathaṃ yācāmi.
Dutiyampi
ahaṃ bhante visuṃ visuṃ rakkha-natthāya tisaraṇena saha aṭṭhaṅgasamannāgataṃ
upo-sathaṃ yācāmi.
Tatiyampi
ahaṃ bhante visuṃ visuṃ rakkha-natthāya tisaraṇena saha aṭṭhaṅgasamannāgataṃ
upo-sathaṃ yācāmi.
Bạch
đại đức, tôi xin thọ trì tam qui và bát quan trai giới nơi
Tam bảo, để vâng giữ hành theo cho được sự lợi ích.
Bạch
đại đức, tôi xin thọ trì tam qui và bát quan trai giới nơi
Tam bảo, để vâng giữ hành theo cho được sự lợi ích lần
thứ nhì.
Bạch
đại đức, tôi xin thọ trì tam qui và bát quan trai giới nơi
Tam bảo, để vâng giữ hành theo cho được sự lợi ích lần
thứ ba.
Vị
sư truyền giới sẽ đọc cho cư sĩ đọc theo phần thọ tam
qui trước. Phần này giống như trong nghi thức thọ ngũ giới.
Tiếp
đến sư truyền tám giới cho cư sĩ đọc theo:
Pāṇātipātā
veramanī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Tôi
xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự sát sanh.
Adinnādānā
veramanī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Tôi
xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự trộm cắp.
Abrahmacariyā
veramanī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Tôi
xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự hành dâm.
Musāvādā
veramanī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Tôi
xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự nói dối.
Surāmerayamajjapamādaṭṭhānā
veramanī sikkhā-padaṃ samādiyāmi.
Tôi
xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự dể duôi uống
rượu và các chất say.
Vikālabhojanā
veramanī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Tôi
xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự ăn sái giờ.
Naccagītavāditavisūkadassanamālāgandhavilepanadhāraṇamaṇḍanavibhūsanaṭṭhānā
veramanī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Tôi
xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự múa hát, thổi
kèn, đờn, xem múa hát, nghe đờn kèn, trang điểm thoa vật
thơm, dồi phấn, đeo tràng hoa.
Uccāsayanamahāsayanā
veramanī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Tôi
xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa chỗ nằm ngồi
quá cao và xinh đẹp.
Tiếp
tục, người cư sĩ xác định thọ trì:
Imaṃ
aṭṭhaṅgasamannāgataṃ buddhappaññattaṃ uposathaṃ imañca
rattiṃ imañca divasaṃ sammadeva abhirakkhituṃ samādiyāmi.
Tôi
xin thọ trì bát quan trai giới, trọn đủ tám điều của Đức
Phật đã giáo truyền, hầu để vâng giữ hành theo cho được
trong sạch trọn ngày nay và đêm nay, mong cầu gieo được giống
lành, để thấy rõ Níp bàn trong ngày vị lai.
Vị
sư sách tấn:
Imāni
aṭṭha sikkhāpadāni uposathasīlavasena imañca rattiṃ imañca divasaṃ
sādhukaṃ katvā appamādena sammā rakkhitabbaṃ.
Thiện
tín đã thọ trì tám điều học này trọn ngày nay và đêm
nay, phải nên vâng giữ hành theo cho chín chắn chớ dể duôi.
Cư
sĩ lãnh giáo
Āma
bhante, Dạ xin vâng.
Vị
sư tiếp tục khuyến khích:
Sīlena
sugatiṃ yanti sīlena bhogasampadā sīlena nibutiṃ yanti. Tasmā sīlaṃ
visodhaye.
Các
chúng sanh sanh về cõi trời cũng nhờ giữ giới;
Các
chúng sanh được đầy đủ tài sản cũng nhờ giữ giới;
Các
chúng sanh được níp bàn cũng nhờ giữ giới.
Bởi
các cớ ấy, nên thiện tín phải trì giới trong sạch đừng
để lấm nhơ.
Cư
sĩ hoan hỷ
Sādhu!
lành thay!
Nếu
sau đó không có khóa lễ khác nữa thì cư sĩ tụng sám hối
Tam bảo. Sư chúc phúc. Cư sĩ hồi hướng phước.
IV.5.
NGHI THỨC SÁM HỐI LỆ KỲ MỖI NỬA THÁNG
Nghi
thức này vẫn thường được sinh hoạt ở các chùa Nam Tông,
dành cho nam nữ cư sĩ vào ngày rằm và 30 âl, hoặc có chùa
thì tổ chức ngày 14 và 29 âl.
Thường
thì ngày sám hối lệ kỳ là ngày pháp hội, sau khi chư Phật
tử tụng kinh sám hối, chư Tăng sẽ thuyết thời pháp sách
tấn cư sĩ tu hành ...
Nghi
thức sám hối này không có trong thời Đức Phật, cũng không
phải là truyền thống phổ thông của các xứ Phật giáo Nam
Tông. Đây chỉ là nghi thức trước bày nay làm thôi, nhưng
cũng thấy là tốt. Người cư sĩ tụng kinh sám hối là để
bày tỏ những lỗi lầm ác nghiệp mà mình đã phạm rồi
có tâm hối cải nguyện chừa bỏ lỗi lầm ấy. Sự sám hối
chỉ là một cách phát lộ chớ không phải tụng như vậy
có thể làm tiêu tan ác nghiệp từ trước; muốn tiêu trừ
ác nghiệp xưa thì phải hành thiện tạo phước, giữ giới
tu thiền.
Nghi
thức sám hối là đến chùa hoặc ở nhà cũng được, đối
diện kim thân Đức Phật, sau khi đảnh lễ ba lạy, bắt đầu
tụng kinh lễ bái Tam bảo, xưng tán ân đức Tam bảo.
Xong
nghi thức lễ bái, thì đọc kinh sám hối như sau:
Cúi
đầu lạy trước Bửu Đài
Con
xin sám hối từ rày ăn năn
Xưa
nay lỡ phạm điều răn
Do
thân khẩu ý bị màng vô minh
Gây
ra nghiệp dữ cho mình
Sát
sanh hại vật chẳng tình xót thương
Giết
ăn hoặc bán không lường
Vì
lòng tham lợi quên đường thiện nhân
Oan
oan tương báo cõi trần
Trầm
luân biển tối chịu phần khổ lao
Xét
ra nhân, vật khác nào
Hại
nhơn, nhơn hại, mắc vào trả vay
Lại
thêm trộm sản cướp tài
Công
người cực nhọc hàng ngày làm ra
Lòng
tham tính bảy lo ba
Mưu
kia kế nọ, lấy mà nuôi thân
Hoặc
nuôi quyến thuộc xa gần
Làm
cho người phải lắm lần than van
Tà
dâm tội nặng muôn ngàn
Liệu
toan chước sách làm đàng chẳng ngay
Vợ
con người phải lầm tai
Mất
trinh thất tiết phải tai tiếng đời
Xấu
cha hổ mẹ nhiều lời
Xa
lìa chồng vợ rã rời lứa đôi
Vọng
ngôn giả dối ngoài môi
Chuyện
không nói có, có rồi nói không
Dùng
lời đâm thọc, hai lòng
Phân
chia quyến thuộc, vợ chồng anh em.
Mắng
nhiếc chửi rủa pha dèm
Xóm
làng cô bác chị em không chừa.
Nói
lời vô ích dây dưa
Phí
giờ quí báu hết trưa đến chiều
Uống
rượu sanh hại rất nhiều
Ham
ăn mê ngủ nói nhiều chẳng kiên
Say
sưa ngã gió đi xiên
Nằm
bờ té bụi như điên khác nào
Loạn
tâm cuồng trí mòn hao
Nhiều
người vì rượu biết bao hư nhà
Xan
tham những của người ta
Mong
sao đoạt được, lòng tà mới ưng
Nết
sân nóng giận không chừng
Toan
làm hại chúng bâng khuâng trong lòng
Si
mê tin chạ chẳng phòng
Nghe
đâu theo đó, không thông chánh tà
Chẳng
tin Phật pháp cao xa
Thậm
thâm vi diệu bao la trên đời
Nếu
con cố ý phạm lời
Hoặc
là vô ý, lỗi thời điều răn
Hoặc
xúi kẻ khác bạo tàn
Hoặc
nghe thấy ác lòng hằng vui theo
Phạm
nhằm ngũ giới thập điều
Vì
nhân thân, khẩu ý, nhiều lần sai;
Lỗi
từ kiếp trước lâu dài
Đến
kiếp hiện tại miệt mài lắm phen
Hoặc
vì tà kiến đã quen
Khinh
khi Tam bảo, lòng bèn chẳng tin
Cho
rằng người chết hết sanh
Phạm
vào đoạn kiến tội tình nặng thay
Hoặc
phạm thường kiến tội dày
Sống
sao, đến thác sanh lai như thường
Tội
nhiều kể cũng không lường
Vì
con ngu dốt không tường phân minh
Dể
duôi Tam bảo, hại mình
Bởi
nhân không thấu vô minh nghiệp tà
Cho
nên tâm tánh mới là
Tối
tăm chẳng rõ sai ngoa khổ sầu
Hóa
nên khờ dại đã lâu
Để
cho hoàn cảnh mặc dầu kéo xoay
Khác
nào bèo bị gió quay
Linh
đinh giữa biển dật dờ bờ sông
Xét
con tội nặng chập chồng
Kiếp
xưa cho đến hiện trong kiếp nầy
Con
xin sám hối từ đây
Nguyện
cầu Tam bảo đức dày độ cho
Tội
xưa chẳng hạn nhỏ to
Con
nguyền dứt bỏ, chẳng cho thêm vào
Tâm
lành dốc chí nâng cao
Cải
tà qui chánh, trú vào Phật ngôn
Nguyện
cho dứt kiếp sinh tồn
Chứng
tri đạo quả chẳng còn tối mê
Thoát
vòng khổ não mọi bề
Hưởng
an tịch tịnh bồ đề thảnh thơi
Ngày
nay dứt bỏ việc đời
Căn
lành gieo giống chẳng rời công phu
Mặc
ai danh lợi bôn xu
Con
nguyền giữ hạnh người tu thoát trần
Trước
là độ lấy bổn thân
Sau
giúp quyến thuộc được phần tiêu diêu
Sám
hối tội lỗi đủ điều
Duyên
lành đều cũng ít nhiều kết xây
Con
xin hồi hướng phuớc nầy
Thấu
đến quyến thuộc nơi đây cho tường
Cùng
là thân thích tha phương
Hoặc
đã quá vãng, hoặc tường hiện nay
Chúng
sanh ba giới bốn loài
Vô
tưởng hữu tưởng chẳng nài đâu đâu
Nghe
lời thành thật thỉnh cầu
Xin
mau tụ hội lảnh thâu quả nầy
Bằng
ai xa cách chưa hay
Cầu
xin thiên chúng mách ngay với cùng
Thảy
đều thọ lãnh hưởng chung
Dứt
trừ tội lỗi, thoát vòng nạn tai
Nguyện
nhiều Tăng chúng đức tài
Đạt
thành thánh quả hoằng khai đạo lành
Nguyện
cho Phật pháp thạnh hành
Năm
ngàn năm đủ, phước lành thế gian.
Sau
khi tụng sám hối xong, nếu ở tại chùa thì các cư sĩ thỉnh
pháp sư thuyết pháp cho hội chúng; nếu ở nhà thì tọa thiền
công phu.
IV.6.
NGHI THỨC THÍNH PHÁP
Thông
thường trong các lễs hội Phật giáo được tổ chức ở
chùa, hay tại tư gia người cư sĩ, như lễ trai tăng, lễ sám
hối, lễ dâng y .v.v... đều có thời thuyết pháp, chư Tăng
sẽ cử ra một vị tỳ kheo hay sa di để thuyết pháp cho các
cư sĩ nghe.
Nói
theo tích xưa khi Đức Thế Tôn vừa đắc quả Phật thì có
vị Phạm thiên tên gọi Sahampati hiện xuống thỉnh cầu Đức
Phật thuyết pháp độ đời, từ đó Phật pháp được hoằng
dương. Bây giờ các cư sĩ muốn nghe pháp cũng thỉnh cầu
pháp sư.
Nghi
thức thỉnh pháp như sau:
Chư
thiện tín tụ họp nơi chánh điện hoặc nơi phòng rộng có
thờ Phật, sửa soạn một chỗ ngồi cao và trang trọng gọi
là pháp tọa. Khởi đầu là nghi thức tụng kinh lễ bái Tam
bảo, sau đó rước pháp sư quang lâm pháp tọa, khi pháp sư
đã an tọa, các cư sĩ xin thọ qui giới; vị pháp sư truyền
giới xong, hội chúng đồng loạt tác bạch thỉnh cầu thuyết
pháp như vầy:
Brahmā
ca lokādhipatī sahampatī
Katañjalī
andhivaraṃ ayācatha
Santī’dha
satāpparajakkhajātikā
Desetu
dhammaṃ anukampimaṃ pajaṃ
Saddhammabheriṃ
vinayañca kāyaṃ
Suttañca
bandhaṃ abhidhammacammaṃ
Ākoṭayanto
catusaccadaṇḍaṃ
Pabodhaneyye
parisāya majjhe
Evaṃ
sahampatī brahmā
Bhagavantaṃ
ayācatha
Tuṇhībhāvena
taṃ buddho
Kāruññen’
ādhivāsaya
Tamhā
vuṭṭhāya pādena
Migadāyaṃ
tato gato
Pañcavagyādayo
neyye
Amaṃ
pāyesi dhammato
Tato
pabhūti sambuddho
Anūnā
dhammadesaṇaṃ
Māghavassāni
desesi
Sattānaṃ
atthasiddhakaṃ
Tena
sādhu ayyo bhante
Desetu
dhammadesanaṃ
Sabbāyidha
parisāya
Anukampampi
kātave.
Thuở
Phật mới đạt thành quả vị
Có
Xá-hăm-bá-tí phạm thiên
Cả
trong thế giới các miền
Thanh
cao quán chúng cần chuyên đạo mầu
Hiện
trước Phật đê đầu đảnh lễ
Bạch
xin Ngài tế thế độ nhơn
Chúng
sanh trong khắp cõi trần
Tối
mê điên đảo không phân tội tình
Cầu
Phật tổ cao minh ái truất
Hiển
oai linh tỉnh thức dắt dìu
Hoằng
khai giáo pháp cao siêu
Tu
hành theo đặng kết nhiều thiện duyên
Thế-Tôn
được mãn viên đạo quí
Con
hết lòng hoan hỷ tán dương
Nhưng
vì hoàn cảnh đáng thương
Không
đành bỏ mặt lạc đường làm thinh
Chúng
sanh vốn đa tình lắm bậc
Không
hiểu đâu chơn thật giả tà
Chấp
thường, chấp lạc, chấp ta
Ngày
nay sơ ngộ thiết tha nhờ Ngài
Xin
mở lượng cao dày răn dạy
Chuyển
pháp luân diễn giải diệu ngôn
Chúng
sanh nghe đặng pháp môn
Thoát
vòng khổ não dập dồn bấy lâu
Giải
thoát những nguồn sầu câu thúc
Diệt
tham lam ái dục bao vòng
Tối
tăm sẽ được sáng trong
Phát
sanh trí tuệ hiểu thông tinh tường
Thông
thấu lẽ vô thường biến đổi
Chúng
sanh trong ba cõi mỏng manh
Vô
minh nhân của quả hành
Cội
căn dắt dẫn chúng sanh luân hồi
Biển
trần khổ nỗi trôi chìm đắm
Bị
ngũ ma dày xéo chuyển di
Vậy
nên cầu đấng từ-bi
đưa
thuyền bát-nhã trải di vớt người
Đưa
qua chốn tốt tươi yên tịnh
Bờ
Níp bàn chẳng dính trần ai
Như
đèn rọi suốt trong ngoài
Chiếu
tia sáng khắp các loài hân hoan
Pháp
như trống khải hoàn rầm rộ
Luật
ví như đại cổ hoằng dương
Kinh
như giây buộc trên rương
Luận
như mặt trống phá tường vô minh
Tứ
diệu đế ấy hình dùi trống
Gióng
khua tan giấc mộng trần gian
Chúng
sanh tất cả bốn hàng
Như
sen trong nước minh quang luống chờ
Trời
lố mọc đặng nhờ ánh sáng
Trải
hoa lành rải tản mùi hương
Pháp
mầu ánh sáng phi thường
Chiếu
khắp ba cõi rõ đường an vui
Phạm
thiên vẫn ngậm ngùi khẩn khoản
Phật
nhận lời nhưng chẳng dỉ hơi
Quyết
lòng mở đạo dạy đời
Nhắm
vườn Lộc-giả, ngài dời chân sang
Thuyết
pháp độ các hàng đệ tử
Có
năm thầy thính dự pháp từ
Đó
là nhóm Kiều Trần-Như
Được
nếm hương vị hữu dư Níp bàn
Rồi
từ đó mở mang giáo pháp
Bốn
mươi lăm hạ giáp vẹn toàn
Một
lòng chẳng thối, không mòn
Những
điều lợi ích hằng còn lâu năm
Cả
tam giới thừa ân phổ cập
Đám
mưa lành rưới khắp thế gian;
Bởi
nhân cớ tích rõ ràng
Thỉnh
Ngài thuyết pháp noi đàng từ bi.
Chúng
sanh ngồi khắp chốn ni
Tối
mê cầu đặng trí tri vẹn toàn. -- (lạy)
Tiếp
đến là vị pháp sư bắt đầu thuyết pháp; các cư sĩ ngồi
yên lặng chú tâm nghe pháp. Khi pháp sư kết thúc thời pháp;
hội chúng đảnh lễ và tụng sám hối Tam bảo, sau đó vị
pháp sư phúc chúc phước cho hội chúng.
Các
cư sĩ tỏ sự hoan hỷ bằng cách đồng thanh: Sādhu sādhu,
lành thay!
Cuối
cùng các cư sĩ tụng hồi hướng pháp thí như sau:
Yā
devatā santi vihāravāsinī thūpe ghare bodhighare tahiṃ tahiṃ tā
dhammadānena bhavantu pūjitā sotthiṃ karonte’ dha vihāramaṇḍale
therā ca majjhā navakā ca bhikkhavo sārāmikā dānapatī upā-sakā
gāmā ca desā nigamā ca issarā sappāṇabhūtā sukhitā bhavantu
te jalābujā ye pi ca aṇḍasambhavā saṃsedajātā athav’ opapātikā
niyyānikaṃ dhammavaraṃ paṭicca te sabbe pi dukkhassa karontu saṅkhayaṃ
ṭhātu ciraṃ sataṃ dhammo dhammadharā ca puggalā saṅgho hotu
samaggo va atthāya ca hitāya ca amhe rakkhatu saddhammo sabbepi dham-macārino
vuḍḍhiṃ sampāpuṇeyyāma dhammāriyappavedite.
Ngưỡng
cầu các đấng chư thiên
Trong
vòng tịnh xá ngự yên hàng ngày
Ngự
nơi đền tháp xưa nay
Những
nơi biệt thất, nơi cây bồ đề
Chúng
tôi xin hội họp về
Sẽ
dùng pháp thí tiện bề cúng dâng
Rồi
xin hộ độ chư Tăng
Cửa
từ ẩn náu phước hằng hà sa
Tỳ
khưu chẳng luận trẻ già
Cao
hạ, trung hạ hoặc là mới tu
Thiện
nam, tín nữ công phu
Đều
là thí chủ đồng phù trợ nhân
Những
người trong khắp thôn lân
Kiều
cư châu quận được phần an khương
Chúng
sanh bốn loại thông thường
Noãn,
thai, thấp, hóa khi nương pháp lành
Giải
thoát pháp bảo nên hành
Đặng
mà dứt khổ truyền quanh đọa đày
Cầu
cho hưng thạnh lâu dài
Pháp
thiện trí thức các Ngài mở mang
Bậc
tu xin được bình an
Cầu
cho Tăng chúng các hàng hòa nhau
Lại
thêm phẩm hạnh thanh cao
Những
quả lợi ích kết mau kịp thì
Cầu
xin pháp bảo hộ trì
Cho
người tu đã qui y Phật rồi
Xin
cho cả thảy chúng tôi
Tiến
hoá trong pháp Phật roi giáo truyền.
Đến
đây hoàn mãn buổi thuyết pháp
IV.7.
NGHI THỨC LỄ CẦU AN
Thuở
Đức Phật hiện tiền, có một lúc ở xứ Vajjī thành Vesāli
xảy ra nạn đói, người chết nhiều, ô nhiễm sanh ra dịch
bệnh. Vương tộc Licchavī đã sang Sāvatthī để cung thỉnh
Đức Phật ngự về thành Vesāli, mong nhờ uy lực của Đức
Phật giải trừ thiên tai. Đức Phật cùng chư Tăng ngự về
thành Vesāli, Đức Phật dạy đại đức Ānanda đi ba vòng
thành tụng kinh Pāritta xưng tán ân đức Tam bảo, nhờ oai
lực kinh Pāritta mà quốc độ Vajjī được thoát tai ách.
Theo
tích ấy mới có nghi thức thỉnh chư Tăng tụng kinh an lành,
kinh gia trì, thường gọi là kinh cầu an. Nghi thức tụng kinh
cầu an được cử hành trong nhiều trường hợp lễ trai tăng,
lễ chúc thọ, lễ cưới hỏi, lễ khánh thành, lễ khởi công,
lễ khai trương ... ở tại những xứ Phật giáo bất kỳ lễ
hội nào người ta cũng thỉnh chư Tăng tụng kinh Pāritta, để
mong nhờ oai lực Tam bảo thành tựu mọi sự an lành, tránh
khỏi những tai ương tật bệnh. Tất nhiên không phải luôn
luôn tụng kinh an lành là được thành tựu hạnh phúc; còn
tùy thuộc niềm tin và nghiệp lành mà người ấy đã làm.
Nghi
thức lễ cầu an có thể cử hành tại chùa, hoặc ở tư gia,
hay ở nơi công cộng hội trường.
Thường
thấy lễ cầu an có nghi thức như sau:
Người
cư sĩ đối diện trước chư tăng, đảnh lễ Tam bảo rồi
xin thọ trì ngũ giới hay bát quan trai giới; xong tác bạch
thỉnh chư Tăng tụng kinh cầu an.
Cư
sĩ đọc:
Vipattippatibāhāya
sabbasampattisiddhiyā sabbadukkhavināsāya parittaṃ brūtha maṅgalaṃ.
Vipattippatibāhāya
sabbasampattisiddhiyā sabbabhayavinasāya parittaṃ brūtha maṅgalaṃ.
Vipattippatibāhāya
sabbasampattisiddhiyā sabbarogavināsāya parittam brūtha maṅgalaṃ.
Bạch
đại đức tăng, cầu xin các ngài tụng kinh an lành, để ngăn
ngừa tránh khỏi các điều rủi ro tai hại, cho đặng thành
tựu những hạnh phúc, khiến cho tất cả sự khổ não, kinh
sợ và bệnh hoạn đều tiêu tan. Lần thứ nhì. Lần thứ
ba.
Kế
đến chư Tăng bắt đầu tụng các bài kinh an lành Pāritta,
thời gian và nội dung nhiều ít tùy theo vị trưởng lão xướng
kinh, có thể có nghi thức rảy nước nếu các cư sĩ có đặt
sẵn bát tịnh thủy với nhánh hoa trước mặt chư Tăng, sự
rảy nước tượng trưng sự ban rải phước, ban rảy uy lực
kinh Pāritta. Vị trưởng lão sẽ thực hiện nghi thức này,
hoặc một vị sư nào do vị trưởng lão chỉ định. Vừa
tụng kinh vừa rảy nước.
Sau
khi chấm dứt thời kinh, các cư sĩ đồng thanh Sādhu Lành thay.
Rồi tụng kinh sám hối Tam bảo; chư Tăng chúc phúc ngắn;
cuối cùng các cư sĩ tụng kinh hồi hướng công đức bài
"Phước căn tôi đã tạo thành ...", hoặc bài "Chư thiên ngự
trên hư không ..." v.v...
Đến
đây hoàn mãn khóa lễ cầu an.
IV.8.
NGHI THỨC LỄ CẦU SIÊU
Phật
giáo nguyên thủy từ thời Đức Phật không có nghi thức tụng
kinh cầu siêu cho người chết; khi có người cư sĩ qua đời,
thân nhân thỉnh chư Tăng về tư gia để làm phước cúng dường
thực phẩm, rồi hồi hướng phước ấy đến người quá
vãng. Hoặc giả các tỳ kheo có tụng kinh thì chỉ là tụng
quán tưởng sự chết hay kinh giải về tướng vô thường,
khổ, vô ngã v.v... tụng như vậy là nhằm mục đích thức
tỉnh mọi người tu tập thiện nghiệp vì hiểu được bản
chất của cuộc sống. Việc cúng dường đến Tăng trong các
dịp lễ tang, lễ giỗ ... nhằm mục đích là để tạo phước
hồi hướng cho người quá cố, hy vọng nhờ đó mà người
đã chết sanh ở đâu cũng được an vui hoặc vơi bớt nỗi
khổ đau. Hình thức này được gọi nôm na là cầu siêu, theo
dân gian thường gọi.
Nghi
thức cầu siêu được áp dụng trong lễ tang, lễ giỗ, và
bất cứ trường hợp nào người cư sĩ muốn hồi hướng
phước đến thân nhân quá cố.
Nghi
thức cầu siêu được thấy áp dụng thông lệ như sau:
Gia
đình thỉnh mời chư Tăng đến, sau khi đọc kinh lễ bái Tam
bảo tóm tắt, mọi người sẽ xin thọ qui giới. Sau đó, theo
sự hướng dẫn của vị cư sĩ A-cha (trường hợp người
trong gia đình không rành nghi thức), mọi người đọc theo
(vì nghi thức cầu siêu trong Phật giáo Nam tông chỉ là mượn
phương tiện để cảnh tỉnh, nên không có Pāli truyền thống):
Bạch
đại đức tăng, xin thỉnh chư Tăng tụng kinh cầu siêu để
trợ tiến giác linh của Ông ... (hay Bà ...) được an vui trong
cảnh giới tái sanh, thoát ly khổ cảnh. Lần thứ nhì. Lần
thứ ba.
Sau
lời thỉnh cầu của cư sĩ, chư Tăng bắt đầu tụng kinh
về những đầu đề Vi Diệu Pháp, những bài kệ động tâm
... dứt thời kinh, các cư sĩ tụng sám hối Tam bảo và hồi
hướng công đức như bài "Phước căn tôi đã tạo thành ..."
v.v ...
Dứt
phần nghi thức cầu siêu
IV.9.
NGHI THỨC CHÚC THỌ
Lễ
chúc thọ là lễ mừng tuổi cha mẹ, ông bà được 60, 70,
80 ... để thể hiện sự tôn quí của con cháu đối với cha
mẹ, ông bà, cũng để làm vui lòng cha mẹ, ông bà thấy con
cháu sum vầy hiếu thuận. Đây là một thuần phong mỹ tục
cần được gìn giữ, mặc dù đây không phải là văn hóa
Phật giáo.
Không
phải chỉ ở Việt Nam mới có mỹ tục này mà ở Trung Quốc,
Thái Lan, Miến Điện cũng có. Nhưng nghi thức ở mỗi xứ
mỗi khác.
Trung
Quốc ảnh hưởng tinh thần Nho Giáo, Thái Lan, Miến Điện
ảnh hưởng tinh thần Phật giáo.
Người
cư sĩ Phật tử trong dịp lễ chúc thọ cho cha mẹ, ông bà
thì thường mời thỉnh các vị sư về tư gia để tụng kinh
ban phúc lành cho cha mẹ, ông bà của mình. Số lượng Tăng
tối thiểu nên có 8 vị, để tăng thêm oai lực.
Về
nghi thức lễ chúc thọ vì không phải là luật nghi của Đức
Phật ban hành nên có sự bất nhất. Nhưng theo ý kiến của
các bậc trưởng lão đã hướng dẫn Phật tử làm nghi thức
lễ chúc thọ, thường áp dụng như sau:
- Sắp
đặt những chỗ ngồi cho chư Tăng được thỉnh đến, vị
trí trước bàn thờ nhìn ra.
- Sắp
đặt hai chỗ ngồi trang trọng cho cha mẹ hay ông bà, vị trí
bên phải của chư tăng, và đối diện bên trái nơi con cháu
sẽ tham dự.
- Sắp
sẵn lễ phẩm mừng thọ và lễ phẩm cúng dường tăng.
- Nên
sắp xếp cho cha mẹ hoặc ông bà mặc lễ phục hay trang phục
trịnh trọng trong ngày lễ chúc thọ.
- Tất
nhiên phải trần thiết hương đăng hoa quả tươm tất tôn
nghiêm trên bàn thờ Phật.
- Con
cháu tụ họp đầy đủ trước mặt cha mẹ ông bà, khi thỉnh
Tăng an tọa.
Phần
tiến hành lễ
Trước
tiên, người xướng lễ tác trình duyên sự buổi lễ đến
chư Tăng:
Kính
bạch chư tăng, hôm nay gia đình Phật tử "..." cung thỉnh chư
đại đức Tăng về tư gia để cúng dường cầu phúc, nhân
dịp các con cháu làm lễ chúc thọ, mừng cha mẹ (hay ông bà)
được thượng thọ (hoặc đại thọ). Kính mong chư Tăng chứng
minh.
Sau
đó, các con cháu hướng về cha mẹ hay ông bà, đồng quì
lạy 3 lạy với sự trang nghiêm, rồi các người con cùng đọc
bài kệ xưng tán ân đức cha mẹ (nếu là các cháu nội, cháu
ngoại làm lễ chúc thọ ông bà thì không cần đọc bài kệ
này):
Kính
thưa cha mẹ tường tri
Nghĩ
suy con sợ lỗi nghì ân trên
Từ
con hình thể có nên
Mẹ
cha bảo dưỡng kề bên không rời
Nặng
nề cực nhọc lắm ôi
Chăm
nom con trẻ kể thôi sao cùng
Con
xin đảnh lễ cúc cung
Nghiêng
mình phủ phục mong dung tội rày
Khi
con la khóc rầy tai
Từ
bi mẹ hát, thương thay não nùng
Tân
dịch đại tiểu tiện cùng
Các
vật uế trược ung dung lau chùi
Giặt
rữa, cha mẹ vẫn vui
Chẳng
hề nhờm gớm những mùi thúi tha.
Từ
bi thay! lòng mẹ cha
Ân
tầy trời đất khó mà đáp xong
Cầu
cho cha mẹ thảy đồng
Đắc
thành Phật quả, thoát vòng tai ba. (lạy cha mẹ)
Sau
khi đọc xong bài kệ xưng tán công ơn cha mẹ (nếu có), tiếp
đến một người đại diện trong con cháu tỏ lời sám hối
cha mẹ hay ông bà, về những lỗi lầm do thân khẩu ý đã
xúc phạm cha mẹ hay ông bà, và xin các vị ấy tha thứ:
Thưa
cha mẹ (hoặc thưa ông bà), nếu chúng con do lầm lạc vô minh
đã làm những lỗi lầm, xúc phạm đến cha mẹ (hay ông bà),
cúi xin cha mẹ (hay ông bà) xá các tội lỗi ấy cho chúng con.
Phước
báu nào chúng con đã làm, xin cha mẹ (hay ông bà) hãy tùy hỷ
với chúng con. Phước báu nào cha mẹ (hay ông bà) đã làm
xin cho đến chúng con.
Kế
đó cha mẹ (hay ông bà) tỏ lời hoan hỷ:
Sādhu,
lành thay! cha mẹ (hay ông bà) sẵn lòng tha thứ cho các con,
và cha mẹ mong cho các con được an vui tiến hóa.
Sau
khi cha mẹ (hay ông bà) đã tỏ lời hoan hỷ, các con cháu tuần
tự dâng tặng lễ phẩm mừng thọ đến cha mẹ ông bà.
Xong
nghi thức này, các con cháu mời cha mẹ hay ông bà xoay mặt
hướng đối diện chư Tăng và hướng dẫn cha mẹ tự tay
cúng dường lễ phẩm đến Tăng để cha mẹ tự thân làm
phước. Sau đó, con cháu đồng tác bạch cầu thỉnh chư tăng.
Bạch
chư đại đức tăng, cầu xin chư Tăng tụng kinh an lành cho
cha mẹ chúng con để được sự lợi ích, tiến hóa, an vui
lâu dài. Lần thứ nhì. Lần thứ ba.
Chư
Tăng bắt đầu tụng khóa kinh an lành, chúc phúc báu đến
ông bà cha mẹ của thí chủ (có thể thêm nghi thức rảy nước
như để ban phúc).
Dứt
thời kinh, vị trưởng lão trong chư Tăng sẽ ban đạo từ
bằng pháp thoại ngắn, nội dung tán thán sự hiếu hạnh và
cách thực hành để đáp công ơn cha mẹ đúng theo tinh thần
Phật pháp v.v...
Các
người con cháu nghe pháp xong đồng thanh: Sādhu Lành thay.
Rồi
tất cả cùng đọc bài kinh hồi hướng.
Chư
thiên ngự trên hư không
Địa
cầu thượng ngự rõ thông mọi điều
v.v...
Do
phước báu mà chúng con đã tạo đây, nguyện cầu cho cha mẹ
hằng được an vui, phúc thọ miên trường. (đọc 3 lần)
Đến
đây hoàn mãn nghi thức lễ chúc thọ.
IV.10.
NGHI THỨC CÚNG DƯỜNG TRAI TĂNG
Trai
Tăng nghĩa là bố thí cúng dường thực phẩm đến chư tăng,
gồm những vị tỳ kheo, sa di, hay tỳ kheo ni, sa di ni. Trai tăng,
gọi theo Pāli là Saṅghabhatta-dāna.
Phép
trai Tăng có nhiều hình thức:
1-
Sakalabhattaṃ, là thí thực đến toàn thể Tăng có mặt trong
chùa.
2-
Uddesabhattaṃ, là thí thực đến những vị sư do Tăng chỉ
định đi thọ thực.
3-
Nimantanabhattaṃ, là thí thực đến những vị sư do mình thỉnh
mời đích danh.
4-
Salākabhattaṃ, là thí thực đến những vị sư mà mình rút
thăm trúng tên.
5-
Pakkhikabhattaṃ, là thí thực đến chư Tăng theo thông lệ hằng
tháng, thượng huyền hay hạ huyền.
6-
Uposaṭhikabhattaṃ, là thí thực đến chư Tăng trong ngày trai
giới.
7-
Pātipadikabhattaṃ, là thí thực đến chư Tăng vào mỗi ngày
đầu của nửa tháng.
8-
Āgantukabhattaṃ, là thí thực đến các vị khách tăng.
9-
Gamikabhattaṃ, là thí thực đến các vị Tăng sắp ra đi.
10-
Gilānabhattaṃ, là thí thực đến các vị Tăng bị bệnh.
11-
Gilānupaṭṭhākabhattaṃ, là thí thực đến các vị Tăng chăm
sóc tỳ kheo bệnh.
12-
Niccabhattaṃ, là thí thực đến chư Tăng thường xuyên hằng
ngày, như là người hộ tăng.
13-
Kuṭikabhattaṃ, là thí thực đến vị Tăng nhập thất.
14-
Vārakabhattaṃ, là thí thực đến chư Tăng theo sự luân phiên
hộ độ.
Đây
là mười bốn hình thức trai tăng, khi thí chủ trai tăng bằng
loại hình nào thì nêu tên loại hình đó trong lời tác bạch
dâng cúng. Tuy nhiên, chỉ nêu tổng quát là "Saṅghabhatta" (Tăng
thực), không cần nêu cụ thể một loại hình nào cũng được.
Lễ
trai Tăng có thể tổ chức ở tư gia, hoặc tổ chức ở chùa;
lễ trai Tăng được làm tùng dịp lễ cầu an, lễ cầu siêu,
lễ chúc thọ, lễ giỗ v.v... thường thì nghi thức trai Tăng
được thực hiện sau khi đã xong phần lễ chính, để chư
Tăng thọ thực và hoàn mãn cuộc lễ.
Về
nghi thức lễ trai tăng, thí chủ sắp soạn thực phẩm sẵn
sàng trên mâm bàn trước mặt chư Tăng, sau đó đọc lời
tác bạch cúng dường.
Nếu
là lễ trai Tăng để cầu siêu, giỗ kỵ, hồi hướng phước
đến người thân đã quá vãng ... thì đọc lời tác bạch
như sau:
- Ayaṃ
no bhante piṇḍapāto dhammiko dhammaladdho dhammeneva uppādito mātāpitādike
guṇavante uddissa imaṃ "Saṅghabhattaṃ" saparikkhāraṃ buddhappamukhassa
saṅghassa dema te guṇavantādayo imaṃ attano santakaṃ viya maññamānā
anumodantu anumoditvāna yathicchitasampattīhi samijjhantu sabba-dukkhā
pamuñcantu iminā nissandena.
Dutiyampi.
Tatiyampi.
- Bạch
đại đức Tăng được rõ, những thực phẩm này của chúng
con làm hiệp theo lẽ đạo, được cũng hiệp theo lẽ đạo,
chúng con xin hồi hướng phước đến các bậc hữu ân, nhất
là cha mẹ của chúng con, chúng con dâng những thực phẩm này
gọi là lễ trai Tăng gồm cả món ăn phụ tùng, dâng cúng
đến chư Tăng, có Phật chứng minh. Xin cho các bậc hữu ân
của chúng con hay biết rằng, phước báu của lễ trai Tăng
này về phần các vị đó, và cầu xin các vị đó được
phép thọ hưởng tùy ý, khi đã thọ hưởng rồi, thì được
thoát khỏi những điều lao khổ, và được thành tựu quả
cõi người, quả cõi trời, và cho được như ý muốn của
các bậc hữu ân chúng con, do theo phước báu chảy vào không
dứt. Lần thứ nhì. Lần thứ ba.
Nếu
là lễ trai Tăng để cầu an cho người bệnh, cầu phước
trong gia đình, chúc thọ cho ông bà cha mẹ ... thì đọc lời
tác bạch cúng dường như sau:
- Mayaṃ
bhante imāni khādanīyabhojanīyādīni sajjetvā saṅghassa dema sādhu
bhante saṅgho imāni khādanīyabhojanīyādīni paṭiggaṇhātu amhākaṃ
dīgha-rattaṃ atthāya hitāya sukhāya. Dutiyampi. Tatiyampi.
- Bạch
đại đức tăng, chúng con thành kính dâng cúng những thực
phẩm loại cứng loại mềm này đến chư tăng. Lành thay, bạch
đại đức tăng, xin Tăng thọ nhận các thực phẩm này, cho
chúng con được sự tiến hóa, sự lợi ích, sự an vui lâu
dài. Lần thứ nhì. Lần thứ ba.
Đọc
lời tác bạch xong, thí chủ tự tay dâng mâm thực phẩm đến
chư Tăng, hoặc nếu thực phẩm đặt trên chiếu cổ, bàn
ăn ... thì dâng bằng cách vịn vào bàn, chờ cho chư Tăng thọ
lãnh, mới đảnh lễ và lui về chỗ ngồi.
Kế
đến, gia đình thí chủ đọc kinh sám hối Tam bảo, hoặc
đọc thêm lời thỉnh cầu chư Tăng tụng kinh cầu an hay cầu
siêu ... khi thiện tín dứt lời, chư Tăng sẽ tụng kinh chú
nguyện phước hoặc phúc chúc cho thí chủ được thành tựu
công đức.
Trong
khi chư Tăng tụng kinh, các cư sĩ giữ yên lặng và thành tâm
nguyện phước.
Dứt
thời kinh, các cư sĩ đồng thanh hoan hỷ: Sādhu, sādhu, Lành
thay. Và tụng kinh hồi hướng phước như bài "Phước căn
tôi đã tạo thành" ... hoặc "Chư thiên ngự trên hư không"
... hoặc "Tôi xin hồi hướng quả này" ... tùy theo mục đích
của buổi lễ trai tăng.
Hoàn
mãn nghi thức cúng dư