CHƯƠNG
III
PHÁP MÔN TU
TẬP CỦA CƯ SĨ
III.1.
QUI Y TAM BẢO (Tisaraṇagamana)
Ý
nghĩa và thái độ qui y
Qui
y (saraṇagamana) là sự đi tìm nương tựa, tìm chỗ ẩn náu
cho tâm hồn. Con người phần đông thích tìm chỗ nương tựa
để an ủi tinh thần và trấn áp nỗi lo sợ, nhưng làm vậy
không phải luôn luôn có hiệu quả, bởi vì nương tựa chỗ
không đáng nương tựa thì chẳng có tác dụng gì, ví như
một người bị bệnh thập tử nhất sanh thay vì đi tìm đến
một vị thầy thuốc giỏi người ấy lại đặt niềm tin
vào một hàng xóm mà anh ta quen biết để nhờ chữa trị.
Điều đó không có cơ sở bảo đảm cho anh ta lành bệnh được.
Trong
kinh pháp cú, Đức Phật có dạy: "Loài người khi hoảng hốt
bèn đi tìm nhiều chỗ nương tựa, núi non, rừng rậm, vườn
cây hoặc đền tháp. Đó không phải là chỗ qui y an ổn, không
phải là sự qui y cao thượng, sự qui y như vậy không thoát
khỏi khổ đau. Chỉ có ai qui y Đức Phật, qui y chánh pháp
và Tăng chúng, với chánh trí thấy được bốn thánh đế
là khổ - tập - diệt - đạo, chỉ có điều đó mới thật
sự là qui y an ổn, là qui y cao thượng, qui y như vậy mới
thoát khỏi mọi khổ đau". (Dhp.188-192).
Đối
tượng qui y của người Phật tử là Đức Phật (buddha), Giáo
pháp (dhamma), và Tăng chúng (saṅgha).
Người
Phật tử qui y Phật là qui ngưỡng bậc Chánh Giác, xem Đức
Phật như là bậc Đạo Sư lãnh đạo tinh thần; người Phật
tử chân chính không bao giờ nghĩ rằng nương tựa Đức Phật
để được Ngài cứu rỗi hay ban cho ân huệ gì.
Người
Phật tử qui y Pháp là qui ngưỡng chánh pháp đã được Đức
Phật thuyết giảng, nương tựa giáo pháp như là y cứ vào
kim chỉ nam để thực hành; người Phật tử chân chính qui
y pháp không nghĩ rằng giáo pháp như những bài chú đọc tụng
để tiêu tai giải nạn.
Người
Phật tử qui y Tăng là qui ngưỡng Tăng chúng đệ tử xuất
gia của Đức Phật, nương tựa Tăng chúng như là những vị
đàn anh dìu dắt mình trên con đường tu tập mà đấng Từ
Phụ đã vạch ra; người Phật tử chân chính qui y Tăng không
nghĩ rằng Tăng chúng như những vị giáo sĩ trung gian để
giúp nguyện cầu với đấng thần linh.
Thái
độ qui y Tam bảo của người Phật tử tựa hồ như một
người bệnh đặt niềm tin, vào vị bác sĩ, nương tựa để
được hướng dẫn điều trị bệnh; tất nhiên mọi sự cố
gắng nỗ lực, uống thuốc và cử kiêng ăn uống, phải do
chính người bệnh.Cũng vậy, người Phật tử phải tự tinh
tấn hành trì, sự qui y chỉ là nương tựa tinh thần để
xác quyết lý tưởng phạm hạnh.
Yếu
tố để thành tựu qui y
Người
Phật tử thành tựu tốt đẹp sự qui y do ba yếu tố:
a)
Đức tin (Saddhā)
b)
Trí tuệ (Paññā)
c)
Phó thác sanh mạng (Jīvitapariccāga)
Người
cư sĩ có niềm tin trong sạch với Đức Phật, với giáo pháp,
với Tăng chúng, không hoài nghi, không bất mãn Tam bảo, mới
phát nguyện qui y, như vậy mới thành tựu sự qui y tốt đẹp.
Qui y mà thiếu lòng tin thì không thể có quyết tâm noi theo
Tam bảo để tu tập, nên không thành tựu qui y.
Mặt
khác, người cư sĩ thiếu trí tuệ, không hiểu biết tại
sao phải qui y, không hiểu biết gì về Đức Phật - Giáo pháp
- Tăng chúng, dù người ấy có xin qui y cũng không thành tựu
là người Phật tử. Do đó, phải có sự hiểu biết sáng
suốt và chín chắn, phải có trí tuệ, mới thành tựu tốt
đẹp sự qui y.
Một
điều nữa là người cư sĩ chưa có quyết định phó thác
sanh mạng cho Tam bảo, tức là chưa hoàn toàn chấp nhận dấn
thân theo lý tưởng tu tập, nên dù có xin qui y vẫn khó thành
tựu. Vì vậy, muốn thành tựu sự qui y tốt đẹp phải có
yếu tố quyết định phó thác sanh mạng cho Tam bảo.
Hình
thức qui y
Có
bốn hình thức qui y Tam bảo
a)
Hình thức dâng mình qui phục (Attasanniy-yātanā)
b)
Hình thức chấp nhận điểm tựa (Tapparāyanā)
c)
Hình thức hạ mình làm môn đệ (Sissabhāvupagamana)
d)
Hình thức biểu lộ tôn kính (Paṇipāta)
Người
cư sĩ có niềm tin nơi Tam bảo muốn qui y Tam bảo, có thể
thực hiện một trong bốn hình thức trên để tác thành nghi
thức qui y. Nhưng hình thức qui y rất phổ thông là cách thứ
hai "Chấp nhận Tam bảo là chỗ nương".
Giải
về bốn hình thức qui y như sau:
a)
Qui y bằng hình thức dâng mình qui phục, là phát nguyện rằng:
"Ajja ādiṃ katvā ahaṃ attānaṃ buddhassa dhammassa saṅghassa
niyyādemi" (Bắt đầu từ hôm nay con xin dâng mình đến Đức
Phật, Giáo pháp và Tăng chúng).
Bằng
hình thức này cũng gọi là người cư sĩ ấy đã qui y Tam
bảo.
b)
Qui y bằng hình thức chấp nhận điểm tựa, là phát nguyện
rằng: "Ajja ādiṃ katvā ahaṃ buddha-parāyano dhammaparāyano saṅghaparāyano.
Iti maṃ dhāretha" (Bắt đầu từ hôm nay con có Đức Phật
là điểm tựa, có Giáo pháp là điểm tựa, có Tăng chúng
là điểm tựa. Xin Ngài nhận biết cho con như thế).
Còn
có một cách phát nguyện khác cũng thuộc hình thức qui y này
mà ngày nay cư sĩ Phật giáo thường áp dụng: "Eso' haṃ suciraparinibbutaṃpi
taṃ bhagavantaṃ saraṇaṃ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca
upāsakaṃ maṃ dhāretha". (Con xin y chỉ đức Thế Tôn đã níp
bàn, xin y chỉ giáo pháp, xin y chỉ chúng tỳ kheo. Mong Ngài
nhận biết con là người cận sự).
Bằng
hình thức này cũng gọi là người cư sĩ ấy đã qui y Tam
bảo.
c)
Qui y bằng hình thức hạ mình làm môn đệ, là phát nguyện
rằng: "Ajja ādiṃ katvā ahaṃ bud-dhassa antevāsiko dhammassa antevāsiko
saṅghassa antevāsiko. Iti maṃ dhāretha" (Bắt đầu từ hôm nay
con là môn đệ của Đức Phật, môn đệ của Giáo pháp, môn
đệ của Tăng chúng. Xin Ngài nhận biết cho con như thế).
Bằng
hình thức này cũng gọi là người cư sĩ ấy đã qui y Tam
bảo.
d)
Qui y bằng hình thức biểu lộ tôn kính, là phát nguyện rằng:
Ajja ādiṃ katvā ahaṃ abhi-vādanaṃ paccupaṭṭhānaṃ añjalikammaṃ
sāmīci-kammaṃ buddhādīnaṃ-y-eva tinnaṃ vatthūnaṃ karomi. Iti
maṃ dhāretha" (Bắt đầu từ hôm nay con chỉ đảnh lễ, nghinh
tiếp, vái chào và tôn ngưỡng đối với ba ngôi Phật, Pháp,
Tăng. Xin Ngài nhận biết con là như thế).
Bằng
hình thức này cũng gọi là người cư sĩ ấy đã qui y Tam
bảo.
Sự
kiện bợn nhơ qui y
Thánh
qui y, tức là sự qui y Tam bảo của bậc thánh hữu học như
Tu đà huờn v.v... không có sự bợn nhơ, bởi vì các vị thánh
cư sĩ ấy đã thành tựu niềm tin vững chắc đối với Phật,
Pháp, Tăng, đã đoạn tận tà kiến và hoài nghi. Chỉ có sự
qui y của hạng phàm nhân, phàm qui y, mới có trường hợp
bợn nhơ qui y, vì phàm phu vẫn còn phiền não.
Bợn
nhơ qui y tức là sự qui y của người cư sĩ bị bất tịnh,
không trong sạch, không được hoàn hảo, mặc dù chưa bị
phá vỡ, chưa bị mất danh hiệu người cận sự (Upāsaka).
Người cư sĩ bợn nhơ qui y sẽ làm khiếm khuyết quả phước,
khó có sự tinh tấn tu tập thiện pháp.
Có
ba sự kiện làm bợn nhơ qui y:
a)
Thiếu trí (aññāṇa)
b)
Hoài nghi (saṃsaya)
c)
Tà kiến (micchāñāṇadassa)
Người
cư sĩ đã qui y Tam bảo nhưng lại không hiểu biết về sự
thanh tịnh của Đức Phật, không hiểu về sự đặc thù của
giáo pháp, không hiểu về sự cao thượng của Tăng chúng,
đó là sự kiện làm bợn nhơ qui y bởi do thiếu hiểu biết
nên người ấy không thiết tha, không tinh tấn thực hành phận
sự người cư sĩ đối với Tam bảo.
Người
cư sĩ đã qui y Tam bảo nhưng lại nghi ngờ sự giác ngộ của
Đức Phật, nghi ngờ hiệu năng của giáo pháp, nghi ngờ chánh
hạnh của Tăng chúng, đó là sự kiện làm bợn nhơ qui y,
bởi do hoài nghi nên người ấy thối thất tinh tấn, xao lãng
phận sự tu tập và phận sự đối với Tam bảo.
Người
cư sĩ đã qui y Tam bảo nhưng lại có tri kiến sai lầm, hiểu
thấy trái ngược với tinh thần lời dạy của Đức Phật,
tin vào những điều tà pháp như tin bói toán, đồng bóng v.v...
gọi là có tà kiến, đó là sự kiện làm bợn nhơ qui y, bởi
do tà kiến nên người ấy không thấy được chánh đạo,
không thấy được những gì phải nỗ lực tu tập, người
ấy đi xa lời Phật dạy.
Sự
kiện đứt đoạn qui y
Một
người đã đắc quả siêu thế, là bậc thánh hữu học, người
ấy thành tựu qui y bất thối nơi Tam bảo, sẽ không bao giờ
có sự đứt đoạn qui y đối với thánh qui y như vậy. Vị
thánh hữu học dù mạng chung ở đây sanh lại đời sống
khác cũng không gián đoạn tam qui, vì đạo quả siêu thế
là bất động.
Chỉ
có sự qui y của phàm nhân mới có thể bị đứt đoạn. Có
hai sự kiện đứt đoạn qui y của phàm nhân:
a)
Đứt qui y không có lỗi (Anavajjo)
b)
Đứt qui y có lỗi (Sāvajjo)
Một
người đã qui y Tam bảo và tu tập tốt đẹp, nhưng khi người
ấy chết thì xem như là đã đứt đoạn qui y, vì một kẻ
phàm phu không có gì để đảm bảo lúc tái sanh vào cảnh
giới khác, với một đời sống khác, lại có thể giữ nguyên
lập trường tín ngưỡng; người ấy sẽ không còn nhớ đến
Tam bảo, không còn nhớ đến lý tưởng tu tập trong đời
này. Nhưng đây gọi là sự kiện đứt qui y không có lỗi.
Trường
hợp một người đã qui y Tam bảo, sau đó xu hướng theo ngoại
giáo, trở lại phỉ báng Đức Phật, phỉ báng giáo pháp,
phỉ báng Tăng chúng. Như thế gọi là sự kiện đứt qui y
có lỗi. Có lỗi đây là tự làm mất gốc và tạo nên quả
báo đau khổ; nếu người ấy chỉ từ bỏ Tam bảo để xu
hướng ngoại giáo thì gọi là tự làm mất gốc; nếu người
ấy xu hướng ngoại giáo và trở lại phỉ báng Tam bảo thì
gọi là tự làm mất gốc và tạo ác quả.
Một
người cữ sĩ đã đứt qui y thì không còn là một người
cận sự nữa, không đáng gọi là một Phật tử nữa.
Lợi
ích của sự qui y
Qui
y Tam bảo là pháp tu bước đầu của người cư sĩ, từ thái
độ qui y sẽ thể hiện được niềm tin, tinh tấn và trí
tuệ để giúp cho người cư sĩ tiến bộ trong đời sống
tu tập. Người cư sĩ muốn tu tiến mà không qui y Tam bảo
thì không thể định hướng lý tưởng, không có động cơ
để thiết tha hành trì.
Mặt
khác, sự qui y Tam bảo bằng thái độ tôn kính và qui thuận
Đức Phật, giáo pháp và Tăng chúng, điều đó có lợi ích
là kết thành thiện duyên để người ấy trong những kiếp
tương lai sẽ để gắn bó với lý tưởng giải thoát, nếu
gặp được một vị chánh giác thì nhờ duyên lành nên rất
dễ giác ngộ.
Lại
nữa, trong chú giải còn nói rằng, người phát tâm qui y Tam
bảo sẽ có được quả phước rất đặc biệt khi còn tái
sanh luân hồi, được quả phúc như là có tuổi thọ cao, có
nhiều an vui, có nhiều quyền tước, có thân to lớn, có hình
dáng đẹp, có danh tiếng, có ngũ quan nhạy bén ... hơn những
đồng loại.
III.2.
HẠNH BỐ THÍ (Dāna)
Ý
nghĩa pháp bố thí
Bố
thí (Dāna, tàu âm đàn-na) là sự cho, biếu, tặng, hiến, dâng
cúng ... cho ra mà không nhận lấy lại, gọi là bố thí.
Người
đời hiểu danh từ "Bố thí" là một hành động "Cho với
thái độ khinh bỉ". Trong Phật giáo thì danh từ này có ý
nghĩa rất đẹp. "Bố thí" là một hạnh lành, là một nghĩa
cử, một hành động chia sẻ với tâm rộng rãi.
Khi
người bỏ được tâm keo kiết bỏn sẻn mới bố thí được,
do vậy, bố thí là một việc làm cao quí. Không phải ai cũng
làm được, và không phải lúc nào cũng làm được.
Phần
đông chúng sanh có tâm chấp giữ tư hữu, không vui thích san
sẻ, không hoan hỷ phân phát. Vì vậy, nói rằng không phải
ai cũng bố thí được.
Có
những người cũng hoan hỷ bố thí, vui thích phân phát, nhưng
tâm chúng sanh phàm phu không thăng bằng, có lúc dễ xả tài,
có lúc lại khó dứt bỏ, tâm tư có khi hào phóng, có khi thắt
chặt. Vì vậy, nói rằng không phải lúc nào cũng bố thí
được.
Bố
thí (dāna) còn được gọi là xả tài (cāga) hay thí xả (pariccāga).
Điều
kiện bố thí
Để
thành tựu một việc bố thí, phải hội đủ ba điều kiện:
a)
Có tư niệm (cetanā)
b)
Có vật thí (vatthu)
c)
Có người nhận (paṭigāhaka)
Gọi
là "Có tư niệm", tức là có tâm quyết định dứt khoát hay
có tác ý rằng: "Ta sẽ bố thí", hoặc "Ta hãy bố thí", hoặc
"Ta chớ nên bỏn sẻn" ... tư tưởng ấy khởi lên trước
khi bố thí thì gọi là Tư tiền (pubbacetanā); tư tưởng quyết
tâm bố thí khởi lên khi đang làm thì gọi là Tư hiện (muñcanacetanā),
tư tưởng nghĩ lại và hoan hỷ sự bố thí đã làm qua thì
gọi là Tư hậu (aparacetanā).
Điều
kiện tư niệm (cetanā) rất quan trọng vì chính đây là yếu
tố tác thành thiện nghiệp bố thí; có tư niệm càng lâu
thời gian thì càng tích lũy được nhiều thiện nghiệp. Có
người khởi tư niệm chuẩn bị để bố thí, trước nhiều
năm, hoặc nhiều tháng, hoặc nhiều ngày, hay chỉ ngay trước
khi bố thí không lâu. Tư niệm thời gian dài như là một người
có ý định sẽ làm phước dâng y Kaṭhina vào những năm sau
nên chuẩn bị đầu tư tiền bạc ... Trường hợp tư niệm
thời gian ngắn như là chợt có người ăn mày ngửa tay xin
tiền, cận sự nam ấy quyết định bố thí cho người ăn
mày ngay khi ấy ...
Tư
niệm thiện đang khi làm cũng là một yếu tố quan trọng để
duy trì thiện hạnh bố thí, bởi lúc đó nếu không có tác
ý mạnh thì tâm thiện đôi khi bị thối chuyển.
Tư
niệm thiện sau khi bố thí cũng rất cần thiết, vì nghĩ lại
điều phước mình đã làm thì càng hoan hỷ và điều đó
trợ cho ý muốn bố thí thêm nữa bằng cách thường cận
y duyên. Một người đã bố thí rồi nhưng không hậu tư niệm
sẽ không thiết tha, không khắng khít, không ước muốn làm
việc thiện ấy nữa.
Điều
kiện bố thí thứ hai là "Có vật thí", tức là nói đến
vật chất cụ thể để đem cho, để bố thí, để cúng dường.
Vật
thí nói theo luật tạng thì có bốn thứ là y phục (cīvara),
vật thực (piṇḍapāta), trú xứ (senāsana), thuốc trị bệnh
(gilānabhesajja). Đó là bốn món nhu yếu, cần thiết cho đời
sống mọi người; y phục để mặc che thân, vật thực để
ăn nuôi sống, trú xứ để ở tránh mưa nắng, thuốc trị
bệnh để ngăn trừ cảm thọ khổ. Bốn vật thí này là tứ
vật dụng mà người cư sĩ thường bố thí cúng dường đến
Tăng chúng trong Phật giáo.
Vật
thí nói theo kinh tạng thì có mười thứ là thức ăn (aṇṇa),
nước uống (pāna), y phục (vattha), xe thuyền (yāna), bông hoa
(mālā), vật thơm (gandha), vật thoa (vilepana), giường ghế
(seyyā), chỗ ở (āvasatha), đèn đuốc (padīpa). Mười vật
thí này, trong đó có những thứ cần thiết cho đời sống,
có những thứ không phải nhu cầu cần thiết nhưng cũng mang
đến lợi ích tiện nghi cho con người. Do đó, đều có thể
lấy làm vật thí để cho tặng người khác được.
Vật
thí nói theo Vi Diệu Pháp thì có sáu thứ là sắc (rūpa), thinh
(sadda), hương (gandha), vị (rasa), xúc (phoṭṭhabba) và pháp
(dhamma). Sáu vật thí này là nói theo bản thể của các vật
thí thông thường chớ không có gì là lạ thường. Thí dụ,
vật thí nào mắt thưởng thức được thì gọi là sắc thí,
vật thí nào mà tai thưởng thức được thì gọi là thinh
thí v.v...
Vật
thí là điều kiện để thực hiện việc bố thí vì có vật
thí mới đem cho được đến người khác, như ta mời người
bạn ăn cơm thì phải có cơm nấu dọn lên bàn vậy.
Điều
kiện thứ ba là "Có người nhận", nghĩa là có đối tượng
để cho. Nếu mình có hảo tâm, có sẵn vật thí, mà không
có người để nhận vật thí thì không thành sự bố thí.
"Người nhận" được gọi là người thọ thí hay đối tượng
thí.
Bất
cứ ai cũng có thể là đối tượng thí hay người thọ thí
được cả.
Nói
theo hình thức, đối tượng thí có hai là cá nhân đối tượng
(paṭipuggalika) và tập thể đối tượng (saṅghika).
Cá
nhân đối tượng, tức là một chúng sanh nào đó thọ nhận
sự bố thí, cá biệt một nhân vật được cho. Thí dụ, như
người cư sĩ cúng dường riêng cho Đức Phật hoặc riêng
cho một vị tỳ kheo, hay bố thí cho một người ăn mày, giúp
đỡ cho một người nghèo, hay là cho thức ăn đến một con
chó, một con mèo v.v... nhân vật thọ thí ấy gọi là cá nhân
đối tượng.
Tập
thể đối tượng, tức là đối tượng gồm nhiều người,
đối tượng là đoàn thể, đối tượng là quần chúng. Thí
dụ như sự cúng dường đến chư Tăng tỳ kheo, đến các
tu sĩ, hoặc như cứu trợ đồng bào bị thiên tai, giúp đỡ
các trẻ mồ côi v.v... đối tượng được bố thí ấy gọi
là tập thể đối tượng.
Nói
theo giá trị, đối tượng thí được phân ra có bốn hạng
là bậc khả kính, bậc hữu ân, hạng thường nhơn, hạng
súc sanh.
Đối
tượng thí là bậc khả kính như Đức Phật, các tỳ kheo,
các sa-môn, bà-la-môn giới hạnh
Đối
tượng thí là bậc hữu ân thầy tổ, ông bà, cha mẹ, và
những ai có ân đức với mình.
Đối
tượng thí là hạng thường nhơn như người nghèo, người
sống bất hạnh, người cần giúp đỡ, và tất cả người
nào không thuộc bậc khả kính và bậc hữu ân.
Đối
tượng thí là hạng súc sanh như là các thú vật nuôi hoặc
những loài bàng sanh khác mà mình thấy đáng thương xót.
Sự
bố thí có quả báo ít hay nhiều cũng tùy thuộc ở đối
tượng thọ thí nữa.
Hình
thức bố thí
Bố
thí là sự cho đến người khác. Nhưng xét về thái độ "Cho"
thì nói có hai hình thức bố thí là:
a)
Bố thí tế độ (saṅgahavasa)
b)
Bố thí cúng dường (pūjavasa)
Bố
thí tế độ, là sự bố thí với thái độ bi tâm, thương
xót chúng sanh bất hạnh nên bố thí giúp đỡ, mong xoa dịu
nỗi khổ đau của chúng sanh ấy. Như là cho y phục, thực
phẩm đến những người nghèo khó, cho đến người ăn xin,
hoặc cứu trợ những đồng bào bị thiên tai v.v...
Bố
thí cúng dường, là sự bố thí với thái độ tín tâm, bố
thí với tâm trong sạch cung kính, mong được người thọ thí
chúc phúc. Như là cúng dường đến các bậc sa-môn, bà-la-môn
giới hạnh, các bậc xứng đáng cúng dường; thậm chí việc
phụng dưỡng cha mẹ và thầy tổ cũng gọi là thái độ bố
thí cúng dường.
Người
cư sĩ nên thực hành cả hai hình thức bố thí ấy.
Tâm
lý bố thí
Bố
thí là đem tài sản sở hữu của mình ra cho người khác,
nhưng không phải tất cả trường hợp bố thí đều có giá
trị giống nhau. Giá trị cao thấp của sự bố thí tùy vào
tâm lý bố thí của người cho.
Có
tám tâm lý bố thí (A.IV.236):
1-
Do thương mà bố thí (chandā dānaṃ deti). Có người vì thương
yêu người nào đó nên họ biếu tặng cho người ấy quà
phẩm hoặc tiền bạc.
2-
Do ghét mà bố thí (dosā dānaṃ deti). Có người vì bực bội
do bị xin xỏ quấy rầy nên bố thí cho yên; hoặc vì muốn
sỉ nhục mà bố thí; hoặc vì ghét người này mà đem cho
người khác.
3-
Do dốt nát mà bố thí (mohā dānaṃ deti). Có người không
nhận thức tính thiện pháp của bố thí, không nghĩ đến
mục đích gì, chỉ là ai xin thì cho vậy thôi.
4-
Do sợ mà bố thí (bhayā dānaṃ deti). Có người bị đe dọa,
hoặc bị áp bức, hoặc yếu thế nên phải cho tài sản để
yên thân.
5-
Do truyền thống mà bố thí (kulavaṃsā dānaṃ deti). Có người
ở trong gia đình truyền thống bố thí, nên người ấy rộng
rãi xả tài vì nghĩ rằng ta không nên làm mất truyền thống
gia đình.
6-
Do mục đích sanh thiên mà bố thí (Sugati-upapannatthāya dānaṃ
deti). Có người mong được sanh về cõi trời nên bố thí,
vì nghĩ rằng sau khi bố thí ta chết sẽ sanh thiên.
7-
Do mục đích tâm an vui mà bố thí (cittapa-sīdanatthāya dānaṃ
deti). Có người thích bố thí vì nghĩ rằng khi ta bố thí
đem niềm vui cho kẻ khác thì ta được an vui.
8-
Do mục đích trang bị cho tâm mà bố thí (cittaparikkhāratthaṃ
dānaṃ deti). Có những chúng sanh cầu giải thoát, muốn trang
bị cho tâm, làm cho tâm được thuần thục, làm cho tâm trong
sáng khỏi cấu uế xan tham nên bố thí.
Trong
tám tâm lý bố thí ấy chỉ có sự bố thí vì mục đích
trang bị tâm là sự bố thí cao quí, sự bố thí vì mục đích
tâm an vui cũng là sự bố thí tốt đẹp.
Sự
bố thí vì truyền thống và sự bố thí vì mục đích sanh
thiên, cũng được bậc trí trong đời chấp nhận, nhưng không
xem là thù thắng.
Cung
cách bố thí
Nhìn
vào cung cách bố thí mà biết được là người hiền trí
hay không phải hiền trí.
Cung
cách bố thí của bậc hiền trí có năm (A.III.171), là:
1-
Bố thí có tôn trọng (Sakkaccaṃ deti). Tức là khi cho ai thì
cho bằng thái độ ân cần.
2-
Bố thí có suy nghĩ (Cittīkatvā deti), tức là có chủ tâm làm
điều tốt nên mới bố thí.
3-
Bố thí tự tay (Sahatthā deti), tức là chính mình làm chớ
không sai bảo hay giao phó người khác làm.
4-
Bố thí đồ không quăng bỏ (anapaviddhaṃ deti), là cho vật
tốt đẹp mà mình đang dùng xài chứ không phải là vật dư
thừa hay thối hư.
5-
Bố thí có nhìn tương lai (āgamanadiṭṭhiko deti), là bố thí
có hướng đến mục đích, như nghĩ đến an vui, nghĩ đến
phước báu, nghĩ đến giải thoát.
Cung
cách bố thí của hạng phi hiền trí có năm (A.III.171) là:
1-
Bố thí không tôn trọng (asakkaccaṃ deti). Nghĩa là hạng phi
hiền trí khi cho ai thì cho với thái độ khinh rẻ.
2-
Bố thí không suy nghĩ (acittīkatvā deti). Hạng phi hiền trí
bố thí thờ ơ, không quan tâm việc mình làm.
3-
Bố thí không tự tay (asahathā deti). Hạng phi hiền trí bố
thí không tự mình làm mà chỉ sai bảo người khác làm, như
thể việc bố thí không đáng để họ làm.
4-
Bố thí đồ quăng bỏ (apaviddhaṃ deti). Hạng phi hiền trí
bố thí những thứ mà họ đã chán chê, những thứ mà họ
không dùng xài nữa.
5-
Bố thí không nhìn tương lai (anāgamanadiṭṭhiko deti). Hạng
phi hiền trí có bố thí cũng không hướng đến mục đích
cao cả, không có nguyện vọng, làm chỉ là làm thôi.
Quả
phúc bố thí
Hạnh
bố thí thành tựu nhiều lợi lạc cho thí chủ. Nhưng tùy
theo hạnh bố thí mà có được những quả lợi ích khác nhau,
khó khẳng định được.
Hạnh
bố thí có những quả lợi ích khác nhau tùy theo vật thí,
tâm lý bố thí, cung cách bố thí v.v...
Quả
bố thí tùy theo vật thí (vật thực, hoặc y phục hoặc trú
xứ ...), điển hình như bố thí vật thực sẽ thành tựu
5 điều lợi lạc đến thí chủ (A.III.42):
1-
Hưởng tuổi thọ nhơn thiên, vì thí thực giúp cho người
khác được kéo dài sự sống.
2-
Hưởng dung sắc nhơn thiên, vì thí thực giúp cho người khác
nuôi thân xinh tốt.
3-
Hưởng an vui nhơn thiên, vì thí thực giúp cho người khác
ngăn được cảm thọ đói khổ.
4-
Hưởng sức lực nhơn thiên, vì thí thực giúp cho người khác
có sức khỏe sung mãn.
5-
Hưởng biện tài nhơn thiên, vì thí thực giúp cho người khác
bồi dưỡng trí tuệ.
Quả
bố thí thành tựu theo tâm lý bố thí (A.A.257) có 5 sự kiện
là:
1-
Người bố thí vì thương, vì ghét, vì dốt nát, vì sợ thì
quả báo về sau rất kém, có tài sản không đáng kể, không
thể sanh ở cõi trời.
2-
Người bố thí vì giữ truyền thống thì thường đạt đến
tài sản trong cõi nhơn loại thôi.
3-
Người bố thí vì mong sanh thiên thì được đạt đến tài
sản chư thiên.
4-
Người bố thí vì để tâm an vui thì có thể đạt đến hai
loại tài sản là tài sản nhơn loại (manussa-sampatti), tài
sản chư thiên (devasampatti).
5-
Người bố thí để trang bị cho tâm, làm trang nghiêm tâm,
cầu sự giải thoát thì sẽ được tài sản thánh nhân hay
thành tựu Níp bàn (nibbānasam-patti), nếu thí chủ chưa chứng
đạt Níp bàn mà còn luân hồi sanh tử thì vẫn được tài
sản chư thiên và tài sản nhân loại.
Quả
bố thí thành tựu theo cung cách bố thí (A.III.172) có 5 điều
là:
1-
Bố thí bằng niềm tin, được quả báo tương lai giàu có
và xinh đẹp khả ái.
2-
Bố thí tôn trọng, được quả tương lai giàu có và nhiều
người qui phục.
3-
Bố thí hợp thời, được quả tương lai giàu có và các nhu
cầu được đáp ứng đầy đủ đúng lúc.
4-
Bố thí tâm không gượng ép, được quả tương lai giàu có
và hưởng thụ với tâm thoải mái mãn nguyện.
5-
Bố thí không gây tổn hại mình và người, được quả tương
lai giàu có và giữ vững được tài sản; không bị phá sản
bởi lửa, nước, vua, kẻ cướp, hay người thừa kế.
Quả
báo thiết thực của sự bố thí (A.III.38) có năm điều là:
1-
Được nhiều người thương yêu kính mến.
2-
Được các bậc thiện trí thức giao hảo.
3-
Danh thơm tiếng tốt lan truyền
4-
Có tâm dạn dĩ tự tại khi đến giữa các hội chúng.
5-
Sau khi mạng chung được sanh vào nhàn cảnh cõi trời.
III.
3. HẠNH TRÌ GIỚI (Sīla)
Ý
nghĩa pháp trì giới
Giới
(sīla) là nguyên tắc sống cho có sự tốt đẹp về hành động
và lời nói, tất nhiên cũng là điều làm cho ý tâm được
tốt đẹp, vì giới là đầu mối của thiện pháp (sīra),
là điều làm cho mát mẻ (sītala) do bất hối.
Giới
có nhiệm vụ là ngăn chặn những lỗi lầm và nâng đỡ những
đức hạnh.
Trì
giới là sự cố ý kiêng cử những hành vi xấu. Sự kiêng
cử hay sự ngăn điều ác có ba trường hợp.
a)
Kiêng làm ác do hoàn cảnh (sampattavirati). Thí dụ: trong luật
pháp quốc độ cấm giết người cướp của, người dân vì
sợ bị tù đày nên không dám phạm tội. Điều đó không
phải là giữ giới.
b)
Kiêng làm ác do thọ trì (samādānavirati). Thí dụ: một người
có tác ý sống tốt đẹp nên nguyện tránh những hành vi sai
trái, điều đó chính là ý nghĩa trì giới.
c)
Kiêng làm ác do dứt trừ phiền não (samuc-chedavirati). Nghĩa
là một vị thánh đã lìa phiền não do thánh đạo đoạn trừ
thì không còn hành động ác. Đây là sự thành tựu giới
do tâm thanh tịnh, không phải sự trì giới.
Hạng
phàm nhân tác ý chế ngự phiền não, không vi phạm điều
ác của thân và khẩu, được gọi là người giữ giới. Đây
cũng gọi là giới cố ý (cetanā-sīlaṃ).
Yếu
tố trì giới
Có
hai yếu tố để giữ chín chắn giới hạnh (Visdh I.16):
a)
Tàm (hiri), lòng hổ thẹn tội lỗi
b)
Quý (ottappa), tâm ghê sợ tội ác.
Một
người có lòng hổ thẹn với tội lỗi, nghĩ đến địa vị,
gia thế, trách nhiệm của mình, thấy rằng "Thật không xứng
đáng nếu ta làm điều quấy như thế". Nhờ biết tự thẹn
như vậy nên người ấy không dám dể duôi làm điều ác.
Đây gọi là giữ giới chín chắn nhờ có yếu tố lòng tàm.
Một
người có tâm sợ hãi tội lỗi, khi nghĩ đến hậu quả đau
khổ do làm điều ác, hoặc nghĩ đến sẽ bị các bạn đồng
phạm hạnh có trí quở trách nếu biết ta làm điều ác, hoặc
nghĩ đến sẽ bị luật pháp quốc độ xử phạt nếu ta phạm
lỗi lầm ... nhờ nghĩ thế nên có tâm sợ hãi tội lỗi,
nhờ có tâm sợ hãi nên không dám dể duôi làm điều ác.
Đây gọi là giữ giới chín chắn nhờ có yếu tố lòng quý.
Người
cư sĩ sống tại gia, có những điều dễ dãi mà xã hội vẫn
xem là hành xử tốt đẹp lương thiện, nhưng xét về mặt
đạo đức Phật pháp, hay nhân quả nghiệp báo thì những
điều xã hội chấp nhận đó vẫn là điều quấy, là nghiệp
đưa đến quả báo khổ đau. Do đó, người cư sĩ cần phải
có lòng tàm quý, để tu tập giữ giới cho tốt đẹp. Khi
có lòng tàm quý thì tự nguyện giữ giới, không cần sự
bắt buộc.
Phân
loại giới của người cư sĩ
Người
cư sĩ trong Phật giáo, thông thường có hai loại giới là
ngũ giới (pañcasīla) và bát quan trai giới (aṭṭha-uposathasīla).
Ngũ
giới là năm giới căn bản mà ngưòi cư sĩ phải giữ đến
trọn đời nên ngũ giới cũng được gọi là Thường nhật
giới (niccasīla), gồm năm điều là:
1-
Kiêng tránh sát sanh (pāṇātipātā veramaṇī), tức là tránh
sự giết hại các sinh vật, loài có thức tánh. Gọi là giới
sát sanh.
2-
Kiêng tránh trộm cướp (adinnādānā vera-maṇī), tức là tránh
sự đoạt lấy tài sản sở hữu của người khác mà người
đó chưa bằng lòng cho. Gọi là giới trộm cắp.
3-
Kiêng tránh tà hạnh dục lạc (kāmesu micchā-cārā), tức là
tránh sự quan hệ tình dục bất chính với người khác ngoài
vợ hoặc chồng của mình. Gọi là giới tà dâm.
4-
Kiêng tránh sự nói dối (musāvādā), tức là tránh nói lời
không đúng sự thật, lừa dối người khác; thậm chí không
nói dối để vui cười. Gọi là giới nói dối.
5-
Kiêng tránh sự uống rượu và chất say (surā-merayamajjapamādaṭṭhānā
veramaṇī) tức là tránh sự say sưa rượu chè, không uống
các loại chất say. Gọi là giới uống rượu.
Bát
quan trai giới, là tám giới thanh tịnh mà người cư sĩ thọ
trì vào những ngày bố tát (uposatha), là ngày âl mùng 5, mùng
8, ngày 14, ngày 15, ngày 20, ngày 23, ngày 29 và ngày 30 (nếu
tháng thiếu thì trai giới là ngày 28 và 29 âl). Tính một ngày
trai giới là kể mặt trời mọc hôm nay đến mặt trời mọc
hôm sau. Bát quan trai giời có tám điều là:
1-
Kiêng tránh sát sanh (pāṇātipātā veramaṇī).
2-
Kiêng tránh trộm cướp (adinnādānā vera-maṇī)
3-
Kiêng tránh hành phi phạm hạnh (abrahma-cariyā veramaṇī), tức
là kiêng cử sự hành dâm, dù vợ chồng cũng kiêng gần gũi
xác thịt khi giữ trai giới. Gọi là giới hành dâm.
4-
Kiêng tránh nói dối (musāvāda veramaṇī)
5-
Kiêng tránh uống rượu và chất say (surāme-rayamajjapamādaṭṭhānā
veramaṇī)
6-
Kiêng tránh ăn phi thời (vikālabhojanā vera-maṇī), tức là
không ăn những thức ăn nhai thuộc trái cây mễ cốc, từ
đứng bóng cho đến hừng đông ngày hôm sau. Gọi là giới
ăn phi thời.
7-
Kiêng tránh xem múa, hát, nhạc, kịch, trang sức vòng hoa, hương
liệu, vật thoa và thời trang (naccagītavāditavisūkadassanamālāgandhavilepana-dhaàraṇamaṇḍanavibhūsanaṭṭhānā
veramaṇī), tức là không bận rộn phóng dật với sự ca hát
đờn kèn, trang điểm làm đẹp thân. Gọi là giới thưởng
thức.
8-
Kiêng tránh sử dụng sàng tọa cao rộng (uccāsayanamahāsayanā
veramaṇī), tức là không nằm ngồi nơi giường ghế cao sang
như hạng quí tộc. Gọi là giới dùng sàng tọa.
Người
cư sĩ giữ giới phải biết rõ chi của giới (aṅga), để
tự mình biết khi nào giới bất tịnh và khi nào giới hư
hỏng (đứt giới).
CHI
CỦA GIỚI (Aṅga)
Chi
của giới, tức là những điều kiện để kết luận một
hành động sai phạm mà chỉ là bất tịnh giới hay hư hoại
giới. Một hành động sai phạm mà gọi là đứt giới phải
hội đủ chi phần; nếu chưa hội đủ chi giới thì chỉ là
bất tịnh thôi.
Ở
đây không nói riêng biệt chi của ngũ giới và chi của bát
quan trai giới, mà chỉ nói chung những điều giới cần phải
biết.
* "Giới
sát sanh" có 5 chi:
1-
Đối tượng bị hại là sinh vật có thức tánh (pāṇa).
2-
Kẻ giết biết rõ đối tượng là sinh vật (pāṇa-saññī).
3-
Có tâm sát hại (vadhakacitta)
4-
Hành động cố sát (upakkamo)
5-
Đối tượng bị chết vì sự cố sát ấy (tenama-raṇaṃ)
Hội
đủ 5 chi này mới gọi là phạm giới sát sanh.
* "Giới
trộm cắp" có 5 chi:
1-
Vật bị lấy là vật có chủ bảo quản (paraparig-gahitaṃ).
2-
Kẻ lấy biết rõ là vật có chủ (paraparigga-hitasaññī)
3-
Có tâm trộm cắp (theyyacittaṃ)
4-
Cố sức lấy trộm (upakkamo)
5-
Vật đã bị đem đi khỏi chỗ do sự trộm ấy (tena haranaṃ)
Hội
đủ 5 chi này mới gọi là phạm giới trộm cắp.
* "Giới
tà dâm" trong ngũ giới, có 4 chi:
1-
Đối tượng không nên đi đến (agamanīyat-thānaṃ), tức là
người không hợp pháp cho quan hệ tình dục.
2-
Có tâm muốn hưởng dục với người ấy (tasmiṃ sevanācittaṃ)
3-
Cố gắng hành động (upakkamo)
4-
Đã hành động tình dục (maggena maggappa-ṭipādanaṃ)
Hội
đủ bốn chi này gọi là phạm giới tà dâm.
* "Giới
hành dâm" trong bát quan trai giới, có 4 chi:
1-
Có lỗ khiếu để hành dâm (bhedanavatthu), tức là trong thân
có 3 khiếu, tính theo hạng người tổng cộng có 30 khiếu.
2-
Có tâm muốn hướng dục (sevanācittaṃ)
3-
Cố gắng hành động theo ý muốn (tajjovā-yāmo)
4-
Đã hành động tình dục (maggena maggappa-ṭipādanaṃ), là đã
làm cho khiếu chạm khiếu.
Hội
đủ 4 chi ấy gọi là phạm giới hành dâm.
* "Giới
nói dối" có 4 chi:
1-
Chuyện không thật (atathaṃvatthu) tức là chuyện có nói không,
chuyện không nói có.
2-
Có tâm muốn nói sai (visaṃvādanacittaṃ)
3-
Cố gắng nói sai (tajjo vāyāmo)
4-
Người nghe đã tin chắc lời nói đó (parassa tadatthavijānānaṃ)
Hội
đủ 4 chi này gọi là phạm giới nói dối.
* "Giới
uống rượu" có 4 chi ":
1-
Thức uống là chất say (majjanīyavatthu), tức là nước uống
có nồng độ
2-
Có tâm muốn uống (Pātukamyatācittaṃ)
3-
Cố sức uống chất say ấy (tajjo vāyamo)
4-
Đã uống nước say ấy (tassa pānaṃ), tức là dù một giọt
rượu nuốt khỏi cổ cũng gọi là uống rượu.
Hội
đủ 4 chi này gọi là phạm giới uống rượu.
* "Giới
ăn phi thời" trong bát quan trai giới, có 3 chi:
1-
Phi thời (vikāla), tức là thời gian từ đứng bóng ngày hôm
nay cho đến hừng đông ngày hôm sau.
2-
Vật thực tác thời (yāvakālika), tức là thức ăn mà chỉ
được phép ăn buổi sáng, như các loại trái và mễ cốc,
cơm bánh v.v...
3-
Đã nuốt khỏi cổ (ajjhoharanaṃ)
Hội
đủ 3 chi này gọi là phạm giới ăn phi thời
* "Giới
thưởng thức" trong bát quan trai giới gồm hai sự việc: thưởng
thức nghệ thuật và thưởng thức mỹ thuật.
Giới
thưởng thức nghệ thuật, có ba chi:
1-
Điệu múa, bài hát v.v... (naccagītādi)
2-
Có tâm muốn thực hiện (kattukamyatācittaṃ), tức là có ý
muốn trình diễn hay xem trình diễn.
3-
Đã dự nghe hoặc xem (sutadassanatthāya gamanaṃ)
Giới
thưởng thức mỹ thuật, có ba chi:
1-
Là vật thực trang điểm như vòng hoa v.v... (mālādi)
2-
Ưa muốn trang điểm (dhāraṇachandatā), tức là ý thích muốn
đeo đồ trang sức, hay thoa xức hương liệu mỹ phẩm.
3-
Đã trang điểm (tassa dhāraṇaṃ) tức là đã thực hiện hành
động làm đẹp.
Giới
thứ bảy của bát quan trai, khi hành động có đủ 3 chi của
một trong hai sự việc thì gọi là phạm giới.
* "Giới
dùng sàng tọa", có 3 chi:
1-
Chỗ nằm ngồi cao và rộng (uccāsayanamahāsayanaṃ), gọi là
chỗ cao tức là cao quá 5 tấc tây; gọi là rộng tức là nơi
có diện tích mà có thể các vũ nữ đứng tại đấy múa
được; hoặc là chỗ nằm ngồi có chạm trổ trang hoàng sang
trọng.
2-
Có tâm muốn sử dụng (paribhogacittaṃ)
3-
Đã sử dụng (paribhogakaraṇaṃ) tức là đã nằm hoặc ngồi
trên chỗ ấy.
Hội
đủ 3 chi này gọi là phạm giới dùng sàng tọa.
Nếu
sai phạm điều giới nào nhưng chưa hội đủ chi của giới
thì chưa gọi là hoại giới mà chỉ là bất tịnh.
Pháp
hỗ trợ cho giới.
Người
cư sĩ cần phải tu tập năm pháp lành (kalyānadhamma), là pháp
hỗ trợ cho sự giữ giới tốt đẹp (atthakathā):
1)
Từ bi (mettākaruṇā), tính hài hoà vô sân, có lòng trắc ẩn
trước đau khổ của chúng sanh mọi loài. Khi người cư sĩ
tu tập đức tính này thì sẽ không nỡ hại chúng sanh, không
nỡ đoạt mạng sống các sinh vật. Đó là pháp hỗ trợ giới
thứ nhất (tránh sự sát sanh).
2)
Chánh mạng (sammā-ājiva), có sự tinh tấn trong việc nuôi mạng,
quyết không nuôi mạng bằng nghiệp bất thiện. Khi người
cư sĩ vui sống chánh mạng sẽ không nghĩ đến gian tham trộm
cướp tài sản của kẻ khác. Đó là pháp hỗ trợ giới thứ
hai (tránh sự trộm cắp).
3)
Phòng hộ dục trần (kāmasaṃvara). Kềm giữ tâm không đam
mê sắc dục, luôn thấy được sự nguy hiểm của ngũ trần.
Khi người cư sĩ có sự thu thúc như vậy sẽ không khởi lên
tà ý với vợ con người khác. Đó là pháp hỗ trợ giới
thứ ba (tránh sự tà dâm).
4)
Chân thật (sacca). Tính ngay thẳng trung thực, ưa thích sự
thật, không thích dối trá. Khi người cư sĩ vui trong pháp
chân thật sẽ khó chịu nếu nói dối. Đây là pháp hỗ trợ
giới thứ tư (tránh sự nói dối).
5)
Chánh niệm tỉnh giác (satisampajañña). Sống kiểm soát và
nhận thức, ghi nhớ và suy niệm. Khi người cư sĩ quen sống
chánh niệm tỉnh giác sẽ không có sự dể duôi quên mình.
Đó là pháp hỗ trợ giới thứ năm (tránh uống rượu).
Ngoài
năm pháp hỗ trợ cho giới đã nói trên, người cư sĩ trong
ngày trì bát quan trai giới còn phải thực hành bốn pháp hỗ
trợ thanh tịnh giới (trai giới):
1-
Thu thúc các căn (indriyasaṃvāra). Người cư sĩ trong ngày trai
giới sau khi phát nguyện thọ bát quan trai, trọn ngày và đêm
ấy phải giữ chánh niệm khi mắt thấy, tai nghe, mũi ngữi,
lưỡi nếm, thân xúc, ý suy nghĩ, không để tham sân sanh khởi
do thấy, nghe v.v...
2-
Tu tập quán tưởng (paccavekkhana). Ngày trai giới, người cư
sĩ nên dành nhiều thời gian yên tịnh để tu tập quán tưởng,
như tưởng thể trược, tưởng thân già bệnh, chết, tưởng
vô thường, tưởng khổ não, tưởng vô ngã.
3-
Tu tập tùy niệm (anussati). Nếu có thời gian để tu thiền
trong ngày trai giới, người cư sĩ có thể tu tập cận định
với sáu tùy niệm là niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm
thí, niệm giới, niệm thiên.
4-
Tu tập tứ niệm xứ (satipaṭṭhāna). Nếu người cư sĩ có
duyên lành với thiền quán thì ngày trai giới tu tập tứ niệm
xứ, càng cao thượng hơn, tức là niệm thân, niệm thọ, niệm
tâm, niệm pháp.
Những
pháp tu tập về đề tài quán tưởng, hay tùy niệm, hay thiền
quán này, người cư sĩ phải học hỏi trước từ nơi chư
Tăng hay vị sư truyền trai giới hôm đó, để thực hành cho
tốt đẹp và hỗ trợ ngày trai giới thanh tịnh và thành tựu
phước báu viên mãn.
Quả
phúc của sự trì giới
Sự
trì giới có rất nhiều lợi ích. Trước hết là giữ giới
có năm điều lợi ích thiết thực (Ud.86):
1-
Nhờ sự không dể duôi mà đạt được tài sản lớn.
2-
Có danh thơm tiếng tốt đồn xa.
3-
Đi đến hội chúng, tâm dạn dĩ ung dung
4-
Lúc chết không hôn mê
5-
Sau khi chết, được sanh vào nhàn cảnh thiên giới.
Có
lợi ích thiết thực khác nữa (A.V.1) như Đức Phật dạy
cho tôn giả Ānanda rằng:
"Này
Ānanda, giới là thiện, giới có mục đích là bất hối, có
lợi ích là bất hối".
Khi
người giữ giới không làm những điều lỗi lầm tội ác,
do vậy, người ấy không bị ray rứt lương tâm, không sống
trong trạng thái hối hận, tâm được an lạc tự tại.
Người
cư sĩ thọ trì chín chắn ngũ giới, nếu nói riêng mỗi điều
giới thọ trì có quả phúc như sau:
"Không
sát sanh" có 23 quả phúc:
1-
Được trường thọ
2-
Thân không tàn tật
3-
Ít bệnh hoạn
4-
Thân hình vừa vặn
5-
Thân thể xinh tốt
6-
Tướng khoan thai cao ráo
7-
Cử chỉ linh hoạt
8-
Bước chân đi dáng đẹp
9-
Vẻ mặt tươi sáng
10-
Tính tình nhu hòa
11-
Tinh thần an vui
12-
Tâm dạn dĩ dũng cảm
13-
Có nhiều sức mạnh
14-
Nói năng bặt thiệp
15-
Không bị quần chúng bắt nạt
16-
Không có sự kinh hoàng sợ hãi
17-
Không bị kẻ thù hãm hại
18-
Không bị chết do người cố sát
19-
Không có chuyện bực mình
20-
Thân thể sạch sẽ
21-
Có đông tùy tùng
22-
Được mọi người thương mến
23-
Không gặp cảnh sanh ly tử biệt
"Không
trộm cắp" có 11 quả phúc:
1-
Có nhiều của cải
2-
Có thực phẩm đầy đủ
3-
Kiếm được thực phẩm dễ dàng
4-
Có được tài sản chưa có
5-
Tài sản có rồi được giữ vững
6-
Muốn gì được đó
7-
Tài sản không bị tiêu hao do thiên tai, hoả hoạn, trộm cướp,
tịch biên hay do người thân.
8-
Có được tài sản không bị tranh đoạt.
9-
Không bị nghe và biết "sự không có".
10-
Ở đâu cũng được an vui.
11-
Dễ đạt được tài sản Siêu thế.
"Không
tà dâm" có 20 quả phúc:
1-
Không bị thù địch
2-
Không bị người ganh ghét
3-
Không bị tai nạn do người hại
4-
Ít bị xa lìa người thương
5-
Là chỗ thương yêu của mọi người
6-
Có nhiều thân hữu quí mến
7-
Tìm cái ăn, cái mặc, chỗ ở dễ dàng
8-
Ngủ nghỉ được an vui
9-
Thức giấc được an vui
10-
Nằm ngồi chỗ nào cũng an vui
11-
Sinh kế không khó khăn
12-
Không dễ bực mình
13-
Không sanh khổ cảnh
14-
Không sanh làm người bán nam bán nữ
15-
Tánh người nghiêm túc
16-
Làm việc minh bạch
17-
Tướng mạo uy nghi
18-
Ngũ quyền (mắt, tai ... ) đầy đủ
19-
Cổ không cúp, "Tức là có oai phong"
20-
Không gục mặt, "Tức là có uy quyền"
"Không
nói dối" có 14 quả phúc:
1-
Có ngũ quyền (mắt, tai ... ) được trong sáng
2-
Có lời nói thanh tao
3-
Có hàm răng khít khao đều đặn
4-
Không quá mập
5-
Không quá ốm
6-
Không quá cao
7-
Không quá lùn
8-
Được hưởng xúc lạc
9-
Miệng thơm như hoa sen
10-
Lưỡi mỏng đỏ như cánh sen
11-
Không câm ngọng
12-
Có được kẻ tùy tùng tín cẩn
13-
Lời nói được tín nhiệm
14-
Tâm trí không bị rối loạn
"Không
uống rượu", có 15 quả phúc:
1-
Làm người có trí nhớ tốt, không bị lẫn
2-
Không bị điên khùng, đờ đẫn
3-
Có sự hiểu biết mau lẹ
4-
Thành người đa trí
5-
Làm người tri thức
6-
Làm người hiểu biết điều lợi ích và điều không lợi
ích.
7-
Làm người không hoảng hốt
8-
Làm người không có sự bực bội
9-
Không bị người vu khống
10-
Làm người nói năng nghiêm túc
11-
Làm người siêng năng chăm chỉ
12-
Làm người tính trung thực
13-
Làm người có liêm sỉ
14-
Luôn có sự an vui
15-
Luôn được người kính nể.
Về
quả phúc bát quan trai giới, nếu người cư sĩ thọ trì giới
thanh tịnh do nghĩ rằng: vị A la hán trọn đời có lòng từ
bi với chúng sanh, không sát hại v.v... ta sẽ theo gương vị
A la hán, ngày và đêm nay cũng có lòng từ bi với chúng sanh,
không sát hại bất cứ sinh vật nào v.v... Thành tựu trai giới
thanh tịnh như vậy sẽ có quả lớn, lợi ích lớn, chói sáng
và biến mãn (A.IV.248).
Lại
nữa, người thành tựu trai giới thanh tịnh được quả lợi
ích lớn là đạt đến hạnh phúc cõi người hơn một vị
đại đế cai trị mười sáu quốc độ lớn. Lại có thể
sau khi mệnh chung sẽ được sanh cộng trú với chư thiên dục
giới, hạnh phúc chư thiên vượt trội loài người (A.IV.251).
Đó
là những quả phúc của việc trì giới.
III.4.
HẠNH TU TIẾN (Bhāvanā)
Ý
nghĩa tu tiến
Tu
tiến là phát triển, luyện tập, làm cho tấn hóa, làm cho
thuần thục; "Bhāvetī' ti bhāvanā" phát triển tốt đẹp gọi
là tu tiến.
Ý
nghĩa tu tiến ở đây là sự trau dồi phát triển đời sống
tâm linh. Sự phát triển tâm linh là điều kiện giúp cho cuộc
sống tiến hóa ổn định, không kém gì vật chất, có thể
nói là cần thiết hơn sự phát triển vật chất nữa bởi
vì khi con người sống với tâm loạn động, âu lo, phiền
muộn thì cho dù có hưởng thụ vật chất vẫn không được
hạnh phúc an lạc. Thể xác này cũng ảnh hưởng do tinh thần
không ít, khi tâm tư bị phiền não chi phối thì các hệ thần
kinh bị căng thẳng, sức lực suy sụp, sanh ra những chứng
bệnh về tim mạch, về hệ tiêu hóa v.v... Do đó sự tu tập
để ổn định tâm lý là điều mang đến nhiều lợi lạc.
Người
cư sĩ mặc dù không có điều kiện thuận lợi để tu tập
như các vị xuất gia, nhưng không nên vì thế mà bỏ qua cơ
hội tu tiến thiền định để tạo đủ ba loại phước báu.
Có
những pháp môn tu tập mà Đức Phật đã dạy để cho người
cư sĩ thực hành thanh lọc tâm và tăng trưởng trí tuệ.
Các
hình thức tu tiến (bhāvanā)
Có
hai hình thức tu tiến:
1)
Tu chỉ (Samathabhāvanā)
2)
Tu quán (Vipassanābhāvanā)
Chỉ
và Quán còn được gọi là pháp cần tu tập (bhāvetabbadhamma),
cũng gọi là pháp thuộc phần minh (vijjābhāgiyadhamma) -- (D.III.273;
A.I.60)
Tu
chỉ hay tu tập chỉ tịnh, tức là cách tu tập để làm vắng
lặng phiền não, an tịnh tâm tư, vi tế tầm tứ, đạt đến
trạng thái tâm định kiên cố. Khi hành giả tu tập chỉ tịnh
thuần thục sẽ an trú trong sự tỉnh lặng năm triền cái
tức là tham dục, sân hận, hôn thụy, trạo hối và hoài nghi,
nếu tâm thoát khỏi năm triền cái, cho dù chưa đắc thiền
định cũng được hiện tại lạc trú.
Tu
quán hay tu tập minh sát, tức là cách tu tập để phát triển
trí tuệ, liễu tri thực tướng của danh sắc là vô thường,
khổ và vô ngã, để đoạn trừ phiền não nhất là dẹp bỏ
được tà kiến ngộ nhận ngũ uẩn là thường-lạc-ngã-tịnh.
Tu tiến Minh sát trực tiếp đoạn trừ phiền não, đắc đạo
quả giải thoát.
So
sánh sự khác biệt giữa thiền chỉ và thiền quán, dựa trên
bốn khía cạnh để nhận định:
a)
Khuynh hướng. Thiền chỉ có khuynh hướng là Định (Samādhi),
thiền quán có khuynh hướng là Tuệ (paññā).
b)
Cứu cánh. Thiền chỉ có cứu cánh là chứng đắc định đáo
đại; thiền quán có cứu cánh là chứng đắc đạo quả.
c)
Phương tiện. Thiền chỉ có phương tiện tu tập là tập trung
trên đối tượng; thiền quán có phương tiện tu tập là suy
tư trên đối tượng.
d)
Đề mục. Thiền chỉ có đề mục là những án xứ chế định
như màu sắc v.v... Thiền quán có đề mục là những án xứ
chơn đế như danh sắc, ngũ uẩn v.v...
Pháp
môn tu tiến cho người cư sĩ
Đối
với bậc xuất gia thì có điều kiện tu tập các pháp môn
thiền định, bốn mươi đề mục thiền chỉ (kammaṭṭhāna)
và bốn đề mục thiền quán (satipaṭṭhāna).
Những
người cư sĩ nếu có cơ hội tham dự khóa thiền tại các
trường thiền thì có thể có điều kiện, thời gian và cách
sinh hoạt, để tu tập thiền định tích cực. Còn phần đông
các cư sĩ không thể tu thiền thực thụ như một hành giả
bởi bận rộn với các tục sự nghề nghiệp, bổn phận gia
đình, bổn phận xã hội.
Tuy
nhiên, vẫn có những pháp môn tu tiến thích hợp cho đời
sống người cư sĩ, người cư sĩ tinh tấn tu tập theo các
pháp môn ấy sẽ đạt đến nhiều lợi lạc. Các pháp tu tiến
cho người cư sĩ gồm có:
a)
Mười pháp tùy niệm (anussati), tức là niệm Phật, niệm Pháp,
niệm Tăng, niệm thí, niệm giới, niệm thiên, niệm chết,
niệm thân, niệm hơi thở, niệm tịch tịnh (A.I.30-41; Vism.
197).
b)
Bốn phạm trú (brahmavihāra), tức là tu tập từ tâm, bi tâm,
hỷ tâm và xả tâm (D.II.196; D.III.220; Dhs.262; Vism.320).
c)
Năm thường quán (abhiṇhapaccavekkhaṇa), tức là quán sự già,
quán sự bệnh, quán sự chết, quán biệt ly, quán nghiệp quả
(A.III.71).
Đây
là những đề mục tu tiến để giúp người cư sĩ bước
đầu tiến hành thiền định, chỉ và quán. Các đề mục
tu tiến sơ khởi này có thể thực hành trong mọi lúc, mọi
nơi, và tứ oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi).
Điều
kiện cho việc thực hành tu tiến
Khi
có ý muốn thực hành pháp môn thiền định, người cư sĩ
ấy phải chuẩn bị những việc này: chỗ hành thiền thích
hợp, ăn vật thực thích hợp, thân cận người thích hợp,
chọn oai nghi thích hợp, dọn tâm thích hợp, học đề mục
thích hợp.
Chỗ
hành thiền thích hợp, tức là một căn phòng biệt lập, rộng
thoáng, không bày biện rối mắt, nếu được nơi yên tĩnh
không tiếng ồn thì càng tốt. Như vậy không bị tạp niệm.
Vật
thực thích hợp, tức là hành giả không ăn quá no, không ăn
những thức ăn khó tiêu hóa, không ăn các thức ăn dễ dị
ứng cơ thể. Như vậy thân sẽ được khinh an.
Thân
cận người thích hợp, tức là hành giả nên giao du với bạn
lành, những người có tín, có giới, có thí và có trí tuệ,
nhất là người có tinh tấn và chánh niệm. Như vậy sẽ giúp
hành giả tiến hóa.
Chọn
oai nghi thích hợp, tức là trong bốn oai nghi: đi, đứng, nằm,
ngồi, hành giả có thể hành thiền với oai nghi nào cũng được
miễn là thích hợp với thói quen của mình; có người dễ
chánh niệm lúc đi kinh hành, có người dễ chánh niệm lúc
đứng yên, có người dễ chánh niệm trong tư thế nằm, có
người dễ chánh niệm trong tư thế ngồi. Nhưng thông thường
việc hành thiền hay ở tư thế ngồi, ngồi kiết dà hoặc
bán dà, lưng thẳng, mắt nhắm nhẹ, hướng về phía trước
mặt, bàn tay phải đặt trên bàn tay trái. Chọn oai nghi thích
hợp cũng là điều kiện giúp hành giả thoải mái tu tập.
Dọn
tâm thích hợp, tức là hành giả trước khi hành thiền hoặc
trước khi trú niệm đề mục phải dọn tâm thật yên lặng,
không lo âu, không bực tức, không buồn ngủ, không vọng móng.
Như vậy sẽ giúp hành giả dễ khăng khít với đề mục.
Học
đề mục thích hợp, tức là hành giả phải biết cá tính
của mình (nặng về ái, hay nặng về sân v.v...) rồi chọn
đề tài thiền định hợp với cơ tánh của mình; chọn được
đề tài thích hợp rồi nên học hỏi từ các vị thầy hay
thiền sư để nắm rõ phương pháp thực hành. Khi Đức Thế
Tôn còn tại thế, ngài biết rõ cơ tánh từng người nên
ngài đã dạy cho mỗi người một đề tài thiền quán thích
hợp, ngày nay các vị thiền sư chỉ dạy thiền cho thiền
sinh đề mục chung chung thôi. Vì thế vị hành giả phải tự
nhận xét và lựa chọn đề mục.
Tu
tiến với đề tài tùy niệm
Có
10 đề tài tùy niệm (anussati), là niệm Phật, niệm Pháp,
niệm Tăng, niệm thí, niệm giới, niệm thiên, niệm chết,
niệm thân, niệm hơi thở, niệm tịch tịnh.
Niệm
Phật (buddhānussati)
Tùy
niệm có cảm hứng từ nơi các đức tính đặc biệt của
Đức Phật gọi là niệm Phật. Đức Phật có mười đức
tính đặc biệt, đó là mười ân đức Phật. Ngài là bậc
Ưng cúng (Arahaṃ), Chánh biến tri (Sammā-sambuddho), Minh hạnh
túc (Vijjācaranasampanno), Thiện thệ (Sugato), Thế gian giải
(Lokavidū), Vô thượng sĩ (Anuttaro), Điều ngự trượng phu
(Purisa-dammasārathī), Thiên nhơn sư (Satthā devamanus-sānaṃ),
Giác giả (Buddho), Thoại đức giả (Bhagavā). Xem "Kho Tàng Pháp
Học", đoạn 441.
Cách
niệm Phật: hành giả tìm nơi thanh vắng ngồi tham thiền,
suy tưởng về sự khổ đau của kiếp sống, nhớ đến Đức
Phật là vị cứu tinh của muôn loài, Ngài có những đức
tính đặc biệt. Hành giả bắt đầu suy niệm (phải học
hiểu rõ mười ân Đức Phật):
"Iti
pi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaranasampanno sugato lokavidū
anuttaro purisadammasārathī satthādevamanussānaṃ buddho bhagavā"
"Như
vậy đức Thế Tôn là bậc Ưng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh
túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự
trượng phu, Thiên nhơn sư, Giác giả, Thoại đức giả".
Niệm
qua mười ân Đức Phật một lần, hành giả đặt niềm tin
và hoan hỷ với hình ảnh của Đức Phật; xong niệm lại
đủ mười ân đức lần nữa, rồi hoan hỷ; cứ thế niệm
tiếp tục như cách thức đã niệm ... cho đến hết thời
gian hành thiền.
Một
cách khác, hành giả chọn một ân đức nào trong mười ân
đức mà làm cho tâm cảm hứng được, và suy niệm ân đức
đó thôi không cần niệm đủ mười. Niệm Phật cách này
như sau:
"Itipi
so bhagavā arahaṃ ... arahaṃ ... arahaṃ ... arahaṃ ..."
Hoặc
"Itipi so bhagavā sammāsambuddho ... sammāsambuddho ... sammāsambuddho"
v.v...
Khi
niệm Phật, thỉnh thoảng hành giả bị phóng tâm hay bị hôn
trầm, lúc đó chánh niệm ghi nhận rồi vận dụng "chi tầm"
(vitakka: tìm kiếm cảnh) để chế ngự tâm phóng hoặc hôn
trầm.
Hành
giả có thể hành thiền tùy niệm Phật trong hai thời: sáng
sớm và chiều tối, lúc cảnh yên tịnh.
Phương
pháp niệm Phật sẽ giúp tâm hành giả lắng dịu phiền não,
Tăng trưởng niềm tin, được hạnh phúc hỷ lạc, nhiếp phục
sự sợ hãi. Nếu hành giả chưa đắc thánh quả cao siêu thì
ít nhất cũng được sanh vào cõi vui.
Niệm
pháp (dhammānussati)
Tùy
niệm có cảm hứng từ nơi các đặc tính của giáo pháp gọi
là niệm pháp.
Giáo
pháp của Đức Phật có sáu đặc tính, cũng gọi là ân đức
pháp. Sáu ân đức pháp là: pháp được khéo thuyết (svākkhāto),
thiết thực hiện tại (sandiṭṭhiko), vượt ngoài thời gian
(akāliko), đến để thấy (ehipassiko), khả năng hướng thượng
(opanayiko), vẫn được người trí tự hiểu (paccattaṃ veditabbo
viññūhi). Trước khi hành tùy niệm pháp, vị hành giả phải
học thông thuộc sáu đặc tính của pháp, gồm cả văn tự
và nghĩa lý. Xem "Kho Tàng Pháp Học", đoạn 354.
Cách
niệm Pháp: Hành giả tìm nơi thanh vắng, ngồi tham thiền,
trước hết là suy tưởng sự đau khổ của đời sống, nghĩ
đến giáo pháp do Đức Phật thuyết như loại linh dược để
trị tâm bệnh của chúng sanh, giáo pháp ấy gồm có pháp học
(tam tạng kinh điển), pháp hành (thiện sự và thiền định),
pháp thành (là chín siêu thế pháp). Hành giả bắt đầu niệm
tưởng các đức tính đặc biệt của giáo pháp như sau:
"Svākkhāto
bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opanayiko paccattaṃ
veditabbo viññūhi"
"Giáo
pháp đã được Đức Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện
tại, vượt ngoài thời gian, đến để thấy, khả năng hướng
thượng, cần được người trí tự hiểu".