|
.
Thích
Thiện Siêu
CƯƠNG YẾU GIỚI
LUẬT
Nhà
Xuất Bản Tôn Giáo - 2002
 |
 |
GIỚI
LÀ BẬC THẦY CAO CẢ NHẤT (*)
Các
vị Sa-di,
Đã
một lần, quý vị quỳ trước các vị Tam sư thất chứng
để lãnh thọ mười giới Sa-di. Ngay từ giờ phút đó, các
vị đã trở nên những người xuất gia chính thức, những
mầm non của Đạo pháp, những hạt giống Bồ-đề, những
hạt giống Thánh nhân. Trong giờ phút thiêng liêng đó, các
vị đã không kể gì đến xác thân, tính mạng hay bất cứ
gì đi nữa trên thế gian này. Các vị đã xả thân để cầu
Giới, vì biết rằng, chính Giới pháp mới là pháp môn viên
mãn nhất để giải thoát chúng ta ra khỏi khổ triền phược,
khỏi kiếp luân hồi vô minh. Vì nghĩ đến sự cao quý của
Giới pháp như thế, nên đã có những phút chúng ta đem hết
thành tâm thiện chí để lãnh thọ. Chính những Giới pháp
đó đức Phật đã thành tựu viên mãn và sau bao nhiêu công
phu tu hành, đạt chánh quả. Ngài đem Giới pháp đó dạy lại
cho chúng ta, coi như là
pháp
thân huệ mạng của chính Ngài. Bởi thế, sau khi Ngài viên
tịch, Giới pháp ấy vẫn tồn tại để dẫn dắt những kẻ
hảo tâm xuất gia, và trước khi sắp nhập Niết-bàn, đữc
Phật đã đinh ninh dạy bảo: “Sau khi Ta diệt độ, các ngươi
hãy tôn trọng, trân quý Ba-la-đề-mộc-xoa, như người đi
trong đêm tối được gặp ánh sáng, như người nghèo khó
được gặp châu báu. Giới luật chính là đức Thầy cao cả
của các ngươi, dù Ta có ở đời cũng không gì khác”.
Giả
sử chúng ta được duyên may mắn, sinh vào thời đức Phật,
thì chắc chắn chúng ta được nghe những lời dạy ấy, tuân
giữ giới pháp của Ngài và tôn Ngài làm đấng Đạo sư.
Nhưng vì bạc đức vô duyên, chúng ta phải sinh vào thời mạt
pháp, mặc dù không gặp Phật, chúng ta vẫn còn được phước
duyên có những giờ phút được nghe Giáo pháp Ngài đã dạy,
biết những Giới luật Ngài đã truyền để chúng ta tôn thờ
Giới pháp làm đấng Đạo sư như Phật ở đời không khác.
Mộl người đi trong đêm tối, muốn khỏi sa hầm sỉa hố,
cần được ánh đèn bao nhiêu thì khi gặp được ánh đèn,
họ sẽ quý báu bấy nhiêu. Như kẻ nghèo khó đói rách cần
tiền của bao nhiêu, thì khi gặp tiền bạc sẽ giữ gìn cẩn
trọng bấy nhiêu. Chúng ta, những người tối tăm vì vô minh,
đói khổ vì thiếu thốn sự giác ngộ, sự giải thoát, cho
nên chúng ta sẽ quý Giáo pháp của Phật không khác gì những
người đi trong đêm tối gặp được ánh sáng, chắc chắn
sẽ không để mất; kẻ nghèo gặp được châu báu sẽ bảo
tồn quý trọng nó. Thì người hảo tâm xuất gia cũng vậy,
khi đã biết Giới luật là phương pháp cao quý để ta nương
theo, thì chắc chắn chúng ta sẽ đem hết thành tâm thiện
chí cầu lãnh thọ, bảo trì cho bằng được. Huống chi đã
là con người, không ai không mang trong mình bao nhiêu tật xấu,
bao nhiêu phiền não, tội lỗi. Nhưng tội lỗi phiền não ấy,
nếu không nhờ những pháp môn, những giới luật ngăn ngừa
thì chắc chắn đời đời chúng ta vẫn là những con người
quê hèn nghèo nàn, không bao giờ bước lên được con đường
giải thoát giác ngộ.
Nên
yếu điểm đầu tiên của Phật chế Giới luật là muốn
cho ta gạt bỏ tục tình quê hèn, tạo đức tốt, lập chí
nguyện lớn lao. Ở đời, những vị quân tử thánh nhân hằng
mong mỏi lập ba điều bất hủ: “Lập công, lập đức, lập
ngôn”, vậy thì người xuất gia chúng ta chắc chắn cũng
muốn lập những công đức sự nghiệp lớn lao. Nhưng dù muốn
lập những sự nghiệp lớn lao mà không giữ Giới luật, cứ
bê tha theo tục tình, thả lỏng thân khẩu ý theo thói thấp
hèn thì biết bao giờ chúng ta mới có thể lập được chí
nghiệp, bao giờ mới xả bỏ được những tục tình quê kịch,
đã bấy nay nhận chìm trong thói đời? Cho nên, một người
đã có thành tâm thiện chí muốn làm đệ tử của đức Phật,
thì trước hết phải giữ Giới để ngăn ngừa tội lỗi,
xả bỏ tục tình để trở thành một người toàn thiện.
Khi cá nhân đã trở nên toàn thiện toàn mỹ, mới có thể
đặt lên đó những hạnh nghiệp giải thoát, cầu Bồ-đề
đạo, cứu độ chúng sinh.
Yếu
điểm thứ hai là, người đệ tử xuất gia của Phật, sống
trong một đoàn thể không phải một người, hai người, mà
ngay trong thời Phật tại thế đã có đến 1.250 người tùy
tùng xuất gia. Với một số đông đệ tử như thế, nếu
không có Giới luật thì biét căn cứ vào đâu để hòa hợp
với nhau, tương ưng với nhau và tu học với nhau? Mỗi người
khi ấy sẽ hành động mỗi cách, ngôn ngữ mỗi cách, thì
làm sao tạo thành một giáo đoàn gương mẫu để truyền bá
Giáo pháp, để tiến tu đạo nghiệp? Nếu chúng Tăng không
có một kỷ luật giới pháp để mỗi người răn dè tuân
giữ, thì chúng Tăng sẽ trở thành một chúng Tăng ô hợp.
Khi đã là một chúng Tăng ô hợp thì cá nhân đã không được
tu học, mà đoàn thể ấy cũng không ích lợi gì? Huống chi
một đoàn thể cầu giải thoát mà lại có thể ô hợp được
chăng? Chắc chắn là không.
Vì
vậy, mười hai năm sau khi thành đạo, với một số đồ chúng
xuất gia và tại gia đã đông, đức Phật đã tùy căn cơ
chúng sinh mà lần lượt chế ra những Giới luật. Sau khi Phật
nhập Niết-bàn, những Giới luật ấy đã được Tôn giả
Ưu-ba-li kết tập thành Ngũ giới, Bát giới, Bồ-tát tại
gia giới, và 10 giới, 250 giới cho hàng xuất gia Tỳ-kheo và
348 giới cho Tỳ-kheo-ni. Những Giới luật đó trải qua thời
gian và không gian đến nay vẫn còn tồn tại, cho chúng ta có
thể nghe thấy một phần nào những gì đức Phật đã dạy
lúc sinh thời. Những giới pháp đó, hàng tại gia cũng như
xuấl gia, ai tuân giữ được thì đều xứng đáng là con Phật.
Sự thành tâm thiện chí của đệ tử Phật đối với Giới
pháp của Ngài chính là sự cúng dường cao quý nhất, bởi
vì khi một người xuất gia có tác phong tề chỉnh, gương
mẫu thì có thể thay thế Phật ở cõi Ta-bà. Giữa thời mạt
pháp, giáo pháp của Phật nhờ đó mà tồn tại mãi. Giới
luật tạo cho con người trở thành đức hạnh, giải thoát,
gương mẫu. Chính thời đức Phật cũng nhờ một vị Sa-môn
oai nghi tề chỉnh, dáng điệu giải thoát, cảm kích được
sự xuất gia của Ngài. Vậy thì ngày nay, nếu một vị xuất
gia tề chỉnh, biểu hiện sự giải thoát ly trần, chắc chắn
sẽ gây được nhiều ấn tượng giải thoát trong lòng nhiều
người. Do đó đức Phật đã nhiều phen dạy chúng ta phải
tôn sùng quý trọng Giới luật, như trong Thiện kiến luật,
Ngài đã dạy Tôn giả A-nan: “Có 5 điều làm cho Giáo pháp
Như Lai tồn tại lâu bền; ấy là :
Thứ
nhất, hàng đệ tử biết tuân giữ Tì-ni giới luật.
Thứ
hai, tịnh Tăng thành chủng. Dù chỉ có năm người xuất gia
mà giữ giới thanh tịnh, thì đó là một yếu tố quan trọng
để giáo pháp tồn tại lâu bền.
Thứ
ba là truyền thọ bất diệt. Nếu ở trung quốc có người
lập giới đàn truyền thọ giới xuất gia, ở biên quốc năm
người, sự truyền thọ như thế dưới hình thức mười người
hay năm người, từ chỗ này đến chỗ khác, quốc độ này
đến quốc độ khác, cũng là yếu lố khiến Phật pháp trụ
thế lâu dài.
Thứ
tư là hạnh nghiệp thanh tịnh. Khi đã lãnh thọ giới pháp,
thì giới pháp chính là những mối ưu tư những mục tiêu
tuân hành. Nếu chúng Tăng phạm giới mà liền biết sám hối,
tập chúng 20 người theo Luật định, để xuất tội nặng
những vị Tỳ-kheo phạm giới, khiến cho những vị ấy cũng
được thanh tịnh như bao nhiêu vị Tỳ-kheo khác, thì đó là
yếu tố làm cho Giới pháp tồn tại lâu bền.
Thứ
năm là trú trì vĩnh cửu.
Tóm
lại, nếu có năm người cho đến nhiều hơn nữa mà đều
nhất tâm giữ luật, biết sợ phạm giới, sám hối những
điều đã phạm, thì đó là những yếu tố quan trọng khiến
Phật pháp tồn tại trong thời gian 5.000 năm. Năm ngàn năm
mà từ trước tới nay chúng ta thường nghe nhắc đến trong
các buổi lễ Phật, chính là căn cứ vào các yếu tố căn
bản giữ giới, tu giới, xuất giới khi phạm tội, thanh tịnh
tập chúng ấy. Giữ được những yếu tố ấy một cách viên
mãn tức là bảo vệ Phật pháp được vững bền trong thế
gian này.
Các
vị đã thọ Sa-di từ lâu, có người hai năm, có người năm
bảy năm. Trong thời gian ấy, tcòn nhỏ, song các vị cũng đã
ở trong dòng Phật pháp, cũng như chúng tôi, như bao nhiêu vị
Thượng tọa, Đại đức khác. Hôm nay sắp thọ Tỳ-kheo giới,
rời khỏi tuổi thiếu niên để trở nên một người thanh
niên trong hàng xuất gia, thành một vị Đại đức, một người
lớn trong Phật giáo, tất nhiên các vị phải thành tâm chú
ý tuân hành nhiều hơn nữa những giới pháp mà Phật đã
dạy. Đó là 250 giới mà tam sư thất chứng sẽ truyền trao
cho các vị chốc nữa đây. Hai trăm năm mươi giới luật tuy
nhiều, nhưng căn bản không ngoài mười giới mà các vị đã
thọ trong lần thọ Sa-di giới, mà nói tóm lại, cũng không
ngoài bốn tánh giới “Sát, Đạo, Dâm, Vọng”. Bốn tánh
giới ấy là chính yếu, 250 giới là những điều luật tạo
thành vị Tỳ-kheo gương mẫu đầy đủ oai nghi trong các việc
“ăn, mặc, ở” của người xuất gia.
Với
thành tâm thiện chí, 10 giới Sa-di các vị đã giữ được,
thì 250 giới, các vị cũng sẽ giữ được dễ dàng. Một
khi các vị đã dõng mãnh phát tâm xả thân cầu giới như
Tổ sư đã xả thân cầu giới, thì chắc chắn các vị sẽ
giữ trọn Giới pháp của Phật không gì khó khăn. Mà khi đã
giữ giới một cách viên mãn thì tất nhiên chúng la sẽ trở
nên những trưởng tử của đức Phật, hà đảm Như Lai huệ
mạng. Một người trưởng tử như thế, nhiều người trưởng
tử như thế, sẽ khiến Phật pháp được bền lâu, báo đáp
thâm ân của đức Phật một cách viên mãn.
Khi
trở thành những vị Tỳ-kheo, Đại đức, sẽ có những Giới
luật mà các vị cần phải chú hết tâm ý để tuân hành.
Do đó, khi sắp đến trước thập sư để lãnh thọ giới
pháp, các vị sẽ qua một lần hạch hỏi về những già nạn,
nghĩa là những điều mà nếu mắc phải, sẽ là những
chướng ngại khiến cho các vị không thọ giới được.
Những
già nạn ấy, các vị phải chú tâm trả lời một cách thành
thật. Phần lớn những già nạn ấy đều dễ hiểu, chỉ
có vài điều cần chỉ trước để khi hỏi tới, các vị
có thể hiểu và trả lời một cách mau chóng. Các Ngài sẽ
hỏi các vị có phạm “biên tội” không? Trong đây, danh
từ “biên tội” có nghĩa là Phật pháp được ví như biển
lớn, nếu kẻ nào phạm phải bốn giới trọng: Sát, Đạo,
Dâm, Đại vọng ngữ thì sẽ bị coi như đã bị loại ra ngoài
biển Phật pháp. Một già nạn khác: các vị có phải tặc
trụ thọ giới không? Có nghĩa là những kẻ chưa thọ giới,
giả vờ đã thọ để vào làm giặc, phá hoại trong Phật
pháp. Những kẻ ấy, không vì mục tiêu giải thoát mà vì
một dụng tâm tầm thường nhỏ hẹp, nên khi vào Đạo thì
không có tư cách,phá giới, phá kiến, làm cho Phật pháp vì
họ mà bị hủy hoại. Nếu các vị quả thật nhất tâm cầu
Giới, vì muốn giải thoát, muốn trở nên một ông “Thầy”
chân chính, thì các vị hãy mạnh mẽ trả lời “Không”.
Một già nạn khác nữa là: Các vị có phải là nội ngoại
đạo phá giới không? (có nghĩa là kẻ ngoại đạo, giả xuất
gia thọ giới rồi trở về ngoại đạo, sau một thời gian,
gặp cơ hội thọ giới, cũng xin vào thọ lại, ấy là kẻ
nội giáo mà lại là ngoại đạo). Còn nhiều già nạn khác
nữa... Các già nạn trên đây là những điều có thể hơi
khó hiểu với các vị. Tựu trung thâm ý của đức Phật là
muốn một vị Tỳ-kheo tiêu biểu Phật ở thế gian, là trưởng
tử của Phật, phải là một người hoàn toàn mang tâm niệm
chính đáng xuất gia. với lòng tôn thờ Phật pháp, hoài bão
hoằng dương Chánh pháp, chứ không thể là một kẻ xuất
gia với tâm niệm tặc trú.
Các
vị sẽ thành thật trả lời những già nạn ấy trước Thập
sư. Khi qua những già nạn ấy rồi, tức là các vị đã hết
chướng ngại, đã đủ tư cách thọ lãnh giới pháp để trở
thành những vị Tỳ-kheo tương lai của Phật giáo.
Giờ
thọ giới sắp bắt đầu.
(*)
Trên đây là lời Khai đạo giới tử tại giới đàn Vĩnh
gia chùa Tỉnh giáo hội và Phật học viện Phổ Đà–Đà
Nẳng, từ ngày 18 đến 22 tháng 9 năm Canh Tuất (17 đến 21-10-1970).
|