BỒ-TÁT
GIỚI
Bồ-tát
giới là thông giới, khác với Tỳ-kheo giới là biệt giới.
Bồ-tát giới thì chỉ cần nghe hiểu là thọ được, còn
Tỳ-kheo giới thì phải lục căn hoàn bị mới thọ được.
Bồ-tát
dịch từ chữ Buddhisattva (Buddhi: giác ngộ; sattva: hữu tình,
chúng sinh, tức một chúng sinh có thể giác ngộ thành Phật).
Trong kinh Phạm Võng nói: “Nhất thiết chúng sinh giai hữu
Phật tính. Nhữ thị đương thành Phật, ngã thị dĩ thành
Phật, thường tác như thị tín, giới phẩm dĩ cụ túc”.
Hết thảy chúng sinh đều có thể thành Phật. Ta là Phật
đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành. Ai mà tin ở điều
đó thì giới phẩm đã thành tựu rồi, còn về giới tướng
là để thực thi tâm Bồ-đề này mà thôi. Giới Bồ-tát được
nói trong Phạm Võng.
I.
Phạm Võng.
Vì
sao gọi là Phạm Võng? Vì Phật nhìn lên trên lưới của trời
Đế-thích như cái võng có nhiều mắc. Chính lưới có mắc
ấy nó đang chiếu phản ánh lẫn nhau thành vô tận. Kinh Hoa
Nghiêm ví cho lý trùng trùng duyên khởi cũng như lưới Đế-thích.
Một
mặt gương phản chiếu ánh sáng qua trăm ngàn cái gương khác.
Trăm ngàn cái gương khác chiếu lại trong một cái gương này,
như vậy là trùng trùng vô tận, không biết bao nhiêu cái gương,
bao nhiêu ánh sáng chiếu qua chiếu lại; nhân đó Phật nói
kinh Phạm Võng. Kinh này ý nghĩa đồng như kinh Hoa Nghiêm, gồm
61 phẩm. Phẩm Bồ-tát tâm địa giới là do Ngài La-thập dịch.
II.
Tâm địa giới.
Thế
nào là tâm địa giới?
1.
Pháp môn thì nhiều nhưng không ra ngoài tâm. Cho nên nêu tâm
là nêu đủ các pháp. Tâm là bổn nguyên của thánh và phàm.
Ngộ được bổn nguyên đó là thành Phật, thành Bồ-tát;
không ngộ thì thành chúng sinh lưu chuyển. Bồ-tát vốn ngộ
tâm đó cho nên mới thọ Bồ-tát giới này và y theo giới
tâm địa mà làm. Nhân thì giống như đại địa. Đại địa
có hai tính cách:
a.
Muôn vật muôn thú từ nơi đó mà phát sinh; muôn giới muôn
đức cũng từ đó mà phát sinh.
b.
Tâm Bồ-tát như đất, không phân biệt tịnh uế; đổ nước
hoa cũng được, nước thối cũng xong, với một tâm bình đẳng
với tất cả chúng sinh; ai khen cũng được, ai chê cũng không
sao, cốt làm thế nào tự lợi lợi tha, không vì tiếng tốt
xấu khen chê mà bỏ mất tự lợi lợi tha. Tâm Bồ-tát cũng
như đất, không có hiềm chuyện tốt xấu, khen chê, sạch
nhớp nên gọi là tâm địa.
Phẩm
này có hai phần thượng và hạ. Phần thượng là hóa thân
đức Thích-ca hỏi đức Lô-xá na, do nhân duyên gì mà Bồ-tát
thành tựu được Thập địa, Đẳng giác, Diệu giác Phật?
Ngài Lô-xá-na vì đại chúng mà nói: Thập phát thú tâm, Thập
trưởng dưỡng tâm, Thập hồi hướng tâm. Thanh văn có 4 quả:
Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán. Còn Bồ-tát biệt
giáo thì có 52 vị: Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập
hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác và Diệu giác.
1.
Thập tín: Phật dạy: Thập tín chỉ mới là bước đầu,
tâm cùng lý hợp, lòng tin đối với lý không có ngại. Ví
dụ, đối với lý Tứ đế hay lý “hết thảy chúng sinh là
Phật sẽ thành”, có những người họ không tin, nhưng đối
với chúng ta nghe lý Tứ đế, Phật tính là tin. Trong Bồ-tát,
cái lòng tin đó tương đương với Thập tín. Nghĩa là “tâm
dữ lý hợp” (tâm của mình đối với lý Tứ đế, Phật
tính nó hợp chứ không chống trái). Nói Khổ đế là mình
tin, cho đến Tập, Diệt, Đạo cũng đều tin như vậy. Nói
cách khác, tâm với lý khế hợp chứ không chống trái nhau.
“Tâm dữ lý hợp” chứ không có nghi ngờ gì hết. Đó là
bước đầu để “tùng phàm nhập thánh”. Trong kinh Hoa Nghiêm
nói: “Phật
pháp
như biển cả, do lòng tin mà được vào” (Phật pháp như
đại hải, do tín năng nhập). Lòng tin đó là bước đầu
tiên để đi lên bậc thánh. Đối với lý Tứ đế thì có
tin mới học, mới tu. Có tin rồi mới giải, mới hành, mới
chứng; nếu không tin thì tìm hiểu lý Tứ đế làm gì; nếu
không hiểu thì làm sao mà tu,. không tu thì làm sao mà chứng?
Cho nên phải tin. Tin là bước đầu tiên để vào đạo.
2.
Thập trú: Khi đã tin thì khởi tâm quyết liệt, dứt
khoát để đi vào diệu đạo. Do tâm dứt khoát nên lòng tin
đứng yên, bất động không xao lãng nên gọi là trú. Thập
trú trong Phạm Võng có một từ khác là Thập phát thú, Thập
giải; tức là mười lòng tin hướng tới đạo.
3.
Thập hạnh: Từ Thập trú bước lên Thập hạnh, mà
Thập trụ đã là Phật tử rồi, bởi lòng tin đã đứng yên
lrên lý của Phật rồi. Như vậy là đã đầy đủ phần tự
lợi, nhưng còn phải hướng tới phần lợi tha nữa, nên phải
từ Thập lrụ hướng đến Thập hạnh. Hạnh là hành mọi
điều thiện để lợi tha. Thập hạnh cũng có một từ khác
là Thập trưởng dưỡng. Trưởng dưỡng là gì? Vì lên địa
vị này là cứ Tăng tấn tu các điều thiện, làm cho điều
thiện Tăng mãi lên, gọi là trưởng dưỡng. Tức mười bậc
trưởng dưỡng các hạnh lợi tha, để từ đây bước lên
Thập hồi hướng.
4.
Thập hồi hướng: Trong Phạm Võng cũng có một từ khác
là Thập Kim cang, kiên cố bất động; cũng gọi là Thập nguyện.
Ở Thập tín, Thập hạnh, tâm muốn thoát tục thì nhiều,
nhưng tâm đại bi, lợi tha thì ít. Đến Thập hồi hướng
là hướng tâm thoát tục trở về với tâm đại bi lợi tha
để hòa quang đồng trần, cứu độ chúng sinh, lợi lạc hữu
tình. Chữ “hồi hướng” là hồi chơn hướng tục–Khi
kia tâm xuất tục là hồi tục hướng chơn, bây giờ hồi
chơn hướng tục, tức là từ nơi tâm xuất tục nhiều, hướng
nó về cái tâm đại bi, lợi tha nhiều hơn nữa. Hồi trí
hướng bi– khi kia là nặng về trí, bây giờ hướng về bi.
Trí là tự lợi, bi là lợi tha. Trí là chứng Bồ-đề, bi
là lợi tha. Bây giờ hồi trí hướng bi, chơn tục viên dung,
bi trí bất nhị, đầy đủ thần thông; đến địa vị này
gọi là hồi hướng, tức là hồi chuyển mười thiện hạnh
hướng tới ba chỗ:
a.
Hướng tới chơn như thật tế (lý), tức hồi sự hướng
tới diệu lý.
b.
Hướng tới Vô thượng Bồ-đề (hướng tới trí giác), (bên
kia là lý, bên này là trí, nhưng trí Vô thượng), tức hồi
nhân hướng quả.
c.
Hướng tới tất cả chúng sinh, tức hồi tự hướng tha.
Đó
là bốn gia hạnh. Qua khỏi Thập hồi hướng là tu bốn gia
hạnh: Noãn, Đảnh, Nhẫn, Thế đệ nhất. Thập địa–cuối
Thế đệ nhất, đoạn trừ kiến hoặc, chứng lý Nhị không,
bước lên Kiến đạo sở hoan hỉ địa, tu tập thành tựu
Giới Ba-la-mật. Tiếp theo là Ly cấu địa, từ kiến đạo
vị tiến lên địa này, y theo chơn lý nhị không đã chứng
được mà tu tập đoạn trừ tu hoặc, cho đến địa thứ
mười là Pháp vân địa, tất cả vô minh lậu hoặc hai chướng
hiện hành và chủng tử đều dứt sạch, thành tựu trọn
vẹn mười Ba-la-mật, đủ vô biên công đức, như đám mây
lđn, mưa pháp cam lồ tưới mát chúng sinh. (Xem rõ Mười địa
trong luận Thành duy thức). Bồ-tát tâm địa giới phẩm thượng–nói
cách
khác, ở Bồ-tát tâm địa giới phẩm thượng thuyết minh
về hàng Bồ-tát do sức định tuệ tu chứng tam hiền, thập
thánh. Còn ở Bồ-tát tâm địa giới phẩm hạ là thuyết
minh thập trọng tứ thập bát khinh giới, để cho hàng Bồ-tát
y theo tâm địa giới đó mà tu tập Giới, Định, Tuệ. Thành
ra. thượng phẩm chỉ cho quả vị Bồ-tát tu chứng tam hiền
thập thánh–còn phẩm hạ chỉ về thánh nhân, tức chỉ về
giới; tức phẩm hạ nói về nhân, phẩm thượng nói về quả.
Kết
luận: Học giới là để cho chúng ta thấy có những lời
dạy của Phật rất hay để mà tu thân, khẩu, ý. Ví dụ,
Phật dạy những lời “ác sự hướng tự kỉ, hảo sự dữ
tha nhân”; hoặc “Không được khen mình chê người” thật
đơn sơ nhưng rất cao thượng và khó thực hành. Chúng sinh
thì luôn luôn vị ngã, có khi không tán thán mình một cách
trực tiếp, nhưng tự tán thán mình bằng cách hủy tha, khẩu
xuất đao kiếm, chê tất cả, trừ mình. Học như vậy để
biết ai giữ giới ai không, ai tu ai không tu. Nếu không nhờ
những lời dạy ấy, ta dễ trở nên người nhỏ mọn, hẹp
hòi. Khen mình, chê người là chuyện rất dễ làm, nhưng so
với đạo lý là thật còn rất xa, đó là làm theo hạnh chúng
sinh chứ không phải theo Phật, Bồ-tát.
III.
Tam tịnh giới.
Giới
Bồ-tát gồm trong ba tụ tịnh giới là: Nhiếp luật nghi
giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới.
Một
là gom tất cả gọi là “nhiếp”. Nếu có luật nghi gì thì
luật này đều gom hết, gọi là Nhiếp luật nghi giới.
Hai
là nhiếp thiện pháp giới, là có bao nhiêu điều thiện
thì giới này gom hết; lục độ vạn hạnh đều nằm trong
đó.
Ba
là Nhiêu ích hữu tình giới. Nhiếp luật nghi là “chư
ác mạc tác”, đoạn tất cả ác. Nhiếp thiện pháp là “chúng
thiện phụng hành”. Nhiêu ích hữu tình là lợi lạc chúng
sinh. Hai việc nhiếp luật nghi và nhiếp thiện pháp cũng lợi
lạc chúng sinh nhưng gián tiếp, tiêu cực, còn lợi lạc hữu
tình là trực tiếp, tích cực. Ví dụ, không sát sinh thì cũng
lợi lạc chúng sinh, nhưng phóng sinh còn hơn thế, hợp với
câu kệ “tự tịnh kỳ ý”. Không làm ác cũng là tự tịnh
kỳ ý nhưng còn thấy có người có ta nên chưa rốt ráo, phải
đến chỗ “tam luân không tịch”, theo tinh thần kinh Kim-cang
mới là tự tịnh kỳ ý. Nếu không có tinh thần đó thì rất
dễ chán. Khi phát tâm độ chúng sinh mà chúng sinh bạt tai
mình, làm sao chịu nỗi sự ngang ngược ấy! Cũng là bố thí
nhưng với tinh thần khác nhau nên kết quả cũng khác nhau.
Một câu kệ cũng đủ tam tụ tịnh giới, đủ theo đó để
tu hạnh Bồ-tát. Hoặc như bốn hoằng thệ nguyện, thì “Chúng
sinh vô biên thệ nguyện độ” là Nhiêu ích hữu tình giới.
“Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn” là đoạn nhất
thiết ác, là Nhiếp luật nghi giới. “Pháp môn vô lượng
thệ nguyện học” là tu nhất thiết thiện, là Nhiếp thiện
pháp giới. Như vậy, bốn hoằng thệ nguyện cũng là ba tụ
tịnh giới; đó là giới thể. Còn gọi là giới tướng thì
phải là 10 giới trọng, 48 giới khinh như trong kinh Phạm Võng.
IV.
Thọ giới Bồ-tát.
Có
hai cách thọ: Một là tự thệ thọ, là đối trước Tam Bảo
phát bốn tâm tịnh tín, đối với Phật, Pháp, Tăng và giới
thanh tịnh bất hoại. Lòng tin thành tựu viên mãn (tứ bất
hoại tín) và cầu Phật gia hộ, khi thấy tướng hảo thì
đắc giới. Hai là tùng sư thọ, là do thầy truyền thọ giới
Bồ-tát truyền lại.
V.
Mất giới Bồ-tát.
Sau
khi thọ giới, trường hợp mất giới Tỳ-kheo là do năm nhân
duyên: Chết, đổi hình (nam thành nữ hay ngược lại), không
tin nhân quả (đoạn thiện căn), tác pháp (nói ra lời “tôi
không tu, không làm Tỳ-kheo nữa” với bất cứ người nào
nghe, hiểu được và phạm trọng). Bồ-tát giới thì chỉ
có hai trường hợp mất giới là phạm trọng do thượng phẩm
phiền não trói buộc (ví dụ, cố ý sát nhân mà tâm niệm
hành động sát nhân hiện hành liên tục không biết tàm quý,
đó là thượng phẩm phiền não). Còn có trường hợp gọi
là “ô trọng giới”, như ngộ sát, thì không đến nỗi
mất giới. Trường hợp hai là xả Bồ-đề tâm, ví dụ nói:
“Tôi không tin việc làm Phật, không phát tâm Bồ-đề nữa”.
Bồ-tát
mệnh chung không mất giới, vì phát nguyện thọ từ kim thân
cho đến Phật thân, trừ có hai duyên cớ mất giới như đã
nói trên.
(Chú
thích: Khai đạo giới tử thọ Cụ túc giới năm 1970)
BỒ-TÁT
DANH VÀ THIỆT
Thiện
Sanh thưa: “Bạch đức Thế Tôn, Phật dạy có hai hạng Bồ-tát:
một là giả danh Bồ-tát, hai là thiệt nghĩa Bồ-tát”.
1.
Thế nào là giả danh Bồ tát?
Thiện
nam tử, nếu chúng sinh đã phát Bồ-đề tâm rồi, lại còn
ưa lãnh thọ, đọc tụng, ngợi khen, nhớ nghĩ các kinh điển,
pháp thuật của ngoại đạo, và lấy pháp ấy mà giáo hóa
chúng sinh; hoặc chỉ vì thân mạng mình, vui trong đường sinh
tử mà không sát hại sinh mạng kẻ khác, tạo các ác nghiệp
thì không tránh khỏi quả khổ tương lai; không ưa tu từ bi,
đối với Tam Bảo lòng sinh nghi ngờ, không chánh tín, quý
mến tự thân, không biết nhẫn nhục, ăn nói sổ sàng, hối
hận, buông lung không thể chứng đặng Bồ-đề, e sợ phiền
não mà không cố gắng siêng năng tu tập các phiền não phá
hoại kiết sử; tâm hay tham lam, ganh tị, giận hờn, gần gũi
bạn ác, đắm chìm trong vô minh, không tin lục độ, không
ưa tu phước, không quán rõ lỗi lầm của sinh tử và ưa thọ
trì những lời hung dữ của Bồ-tát. Như thế gọi là giả
danh Bồ-tát.
Và
những chúng sinh đã phát tâm Bồ-đề, mong đặng Vô thượng
Chánh đẳng chánh giác, nhưng khi phải khổ hạnh tu hành trải
qua vô lượng kiếp rồi mới đắc đạo, thì sinh lòng thối
chí, tuy có hành đạo mà tâm không chơn thật, không tàm quý,
không thương xót, hay theo ngoại đạo hại sinh mạng để tế
trời, dẫu có chút lòng tin nhưng không vững chắc, đắm say
ngũ dục, gây nhiều điều ác, ỷ sắc lực, tài của, lòng
kiêu mạn làm việc điên đảo, không biết lợi ích cho người;
vì cái vui trong sinh tử mà bố thí; vì cái vui trong cõi trời
mà thọ trì cấm giới; và vì thọ mạng lâu dài mà tu thiền
định. Như thế gọi là giả danh Bồ-tát.
2.
Thế nào là thật nghĩa Bồ-tát?
Trái
lại, thật nghĩa Bồ-tát là biết gần gũi cúng dường sư
trưởng, cha mẹ, thiện hữu, thọ trì đọc tụng mười bộ
kinh của Như lai; vì Phật pháp mà không tiếc thân mạng, tài
sản; không tự khinh rẻ mình, dang tay làm việc bố thí không
tiếc thân mạng; thường dồi mài trí tuệ; tuy học ngoại
điển nhưng cốt để phá các tà kiến và thắng các tà kiến;
khéo biết phương tiện để điều phục chúng sinh; siêng tu
tinh tấn, khi rẻ phiền não, làm cho chúng không được tự
do, về cõi Niết-bàn; giữ gìn tinh tấn, cứu hết thảy khổ
não; quán rõ hết thảy tội lỗi sinh tử, tín tâm bền chắc,
tu lập từ bi mà không trông cầu quả báo; từ bi đối với
ke oán người thân, tâm vẫn không hai; khi bố thí vẫn bình
đẳng, khi xả thân cũng bình đẳng; biết tướng vô thường
không tiếc thân mạng, biết rõ thế đế nên tùy thuận chúng
sinh; khi ít của cải thì cấp cho người nghèo cùng trước,
rồi sau mới cho người phước điền; trước vì người nghèo
khổ, sau mới vì người giàu có; thường khen việc lành của
người và khai thị cho họ vào Niết-bàn; có kỹ nghệ gì
đều muốn cho họ học, và thấy học hơn mình thì sinh lòng
vui mừng, chẳng hề vì mình; thường vì người khác. Như
thế là thiệt nghĩa Bồ-tát.
(Lược
dịch trong kinh Bồ-tát U-bà-tắc-giới 1950)