Tôi
được xuất gia, tu học ở Mt. Koya là nơi xuất phát dòng
Shington (Chân Ngôn Thông). Mt. Koya nằm trong một quần thể
các dãy núi cách thành phố Osaka, trung tâm Nhật Bản khoảng
35 kilomét về phía Nam. Mt.Koya được coi là một thánh địa,
mà theo phong tục của hơn một ngàn năm trước, phụ nữ không
được đặt chân lên đó. Vì lẽ đó dòng tu này chỉ mới
nhận ni sinh trong thời gian gần đây, trong khi các tăng sinh
đã bắt đầu được nhận từ năm 1872, mặc dù vẫn có nhiều
nữ cư sĩ theo tông này đã tu chứng từ nhiều thế kỷ trước.
Trong
khoảng một trăm năm trở lại đây, các nữ tu bắt đầu
được thọ giới chính thức và được tu học ở Mt.Koya.
Ni chúng cũng phải giữ đủ các giới như bên Tăng.
Ở
ni viện Mt.Koya, các nữ tu phải tự học, dưới sự hướng
dẫn của vị trụ trì. Tuy nhiên, cũng có thời gian ngắn,
họ được rèn luyện chung với các Tăng ở Viện Đào Tạo
Tăng, là nơi được thành lập rất sớm. Giờ thì Ni viện
có thể đón nhận khoảng 16 Ni sinh hàng năm đến tu học
trong một cơ sở khang trang.
Người
ngoại quốc đến Nhật để tu học Phật pháp thường được
giới thiệu đến các thiền viện nơi có thể thỏa mãn các
yêu cầu cá biệt của họ. Họ có thể tham gia các khóa tu
thiền chuyên sâu ở các thiền viện mà không cần phải biết
tiếng Nhật. Tuy nhiên, theo truyền thống của dòng Shington,
thiền sinh bắt buộc phải đọc được các kinh bằng chữ
Hán cũng như tiếng Sanskrit. Dầu đã có các Tăng người Tây
Phương đến tu tập ở đây, tôi là người phụ nữ Tây Phương
đầu tiên được thọ giới theo truyền thống của Shington,
và cũng là người phụ nữ đầu tiên đã bước vào các chùa
đào tạo Tăng hay Ni ở trên ngọn núi Mt.Koya này. Khi tôi bắt
đầu đến đây tu học, giới báo chí, truyền thanh đặc biệt
chú trọng đến sự kiện này. Và điều đó đã mang đến
cho tôi nhiều phiền toái ở thời điểm đó. Nhưng giờ nghĩ
lại, tôi thầm cảm ơn họ, vì nhờ đó mà chúng tôi
có các tài liệu quý báu về sự huấn luyện cổ xưa trong
dòng Shington, và có thể sử dụng chúng để giới thiệu với
tất cả những ai muốn muốn tìm hiểu về Shington.
Cảnh
quan thiên nhiên của núi Mt.Koya hoàn toàn khác biệt. Trên cao
thường có các chấn động khác thường, vì đó là một trong
những nơi được coi là thánh địa ở Nhật. Theo truyền thống
Phật giáo ở Á Đông, các ngọn núi thiêng với những năng
lượng đặc biệt và các mỏ nam châm thường được dành
làm nơi thờ phụng các đấng thần linh. Tôi được biết
là các phi cơ không bay qua vùng núi Mt.Koya vì các chấn động
trên núi làm ảnh hưởng đến hệ thống radar của phi cơ.
Tôi rất hãnh diện được phép tu tập ở đó, dầu trường
hợp của tôi có thể nói cũng chỉ là một trường hợp thử
nghiệm, tôi vẫn thấy cần phải cố gắng hết sức mình.
Tôi đã phải hứa là sẽ tuân theo mọi giới luật nghiêm
túc, không có trường hợp ngoại lệ, dầu tôi không phải
là người Nhật. Với những khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ
mà tôi phải đương đầu hàng ngày, đây quả là một thử
thách lớn, nhưng ước muốn được trở thành một đạo sư
(priest) theo truyền thống Shington là niềm mong ước lớn nhất
của đời tôi. Kinh nghiệm tu tập ở đây dầu thật quý báo,
nhưng xét về nhiều mặt, cũng gây nhiều trở ngại cho tôi.
Người
ta thường lãng mạn hóa về cuộc sống trong một thiền viện
tráng lệ trên một ngọn núi huyền bí, nhưng giá trị tinh
thần thực sự nằm trong mối liên hệ giao tiếp căng thẳng
của cuộc sống chung đụng vơi mười lăm người phụ nữ
khác.
Sự
tu tập theo truyền thống Shington bắt đầu bằng nghi lễ xuất
gia cho các cư sĩ: qua đó chúng tôi bắt đầu xuống tóc, nhận
y áo, và thọ mười giới luật. Khóa tu thứ nhất và thứ
ba dành cho việc học các nghi thức lễ bái căn bản, tụng
niệm các kinh mỗi sáng, chiều cũng như chuyên sâu vào các
môn học. Chúng tôi học cách mặc y, cách ngồi, cách tụng,
cách sống theo các điều lệ trong những tu viện Phật giáo
Nhật Bản.
Khóa
tu thứ hai bắt đầu khi chúng tôi thực hành các nghi lễ trang
nghiêm trong hành thiền gọi là bốn giai đoạn chuẩn bị cho
sự tu tập giải thoát. Đây là thử thách cam go của truyền
thống Shington: một trăm ngày tu chuyên sâu về nghi thức gọi
là “nghi quĩ” (Sadhana) thường được sử dụng trong Kim
Cương thừa, gồm các bài chú về những phép tu thiền định
đặc biệt. Phải thực hành viên mãn các nghi thức này
rồi mới được truyền thừa Pháp, được coi như đã bước
vào thứ bậc đầu tiên trong hàng giáo phẩm, và được thọ
giới Tỳ kheo. Những thứ bậc cao hơn chỉ có thể đạt được
sau nhiều năm học hỏi, thực hành chuyên sâu.
Bốn
giai đoạn chuẩn bị cho sự tu tập giải thoát này được
coi là rất cam go. Đó là quá trình thanh tịnh hóa thân tâm,
cũng như quyết định xem người tu sĩ có căn duyên gắn bó
với truyền thống Shington không. Nhiều giờ liên tục ngồi
thiền khiến bao nhiêu vọng tưởng khởi dậy, hoặc phải
đối mặt với những sai lầm ta đã phạm phải trong quá khứ.
Chúng
tôi thường thức dậy từ 2 giờ sáng và thực hành nghi quĩ
từ 12 đến 15 tiếng mỗi ngày. Ngồi thiền trên gót chân
theo lối của người Nhật trên mặt sàn gỗ cứng, chỉ được
trải một lớp chiếu mỏng, đối với các bạn đồng tu người
Nhật cũng đã khổ thân, huống gì là tôi. Phải chú tâm quyết
liệt trong các nghi thức và thiền định theo nghi quĩ là một
thử thách cam go về tâm đối với mọi người. Rồi lại
còn những câu hỏi cứ khởi lên trong đầu: “Không biết
mình có qua được thử thách này không?” Trong mười sáu
phụ nữ tham gia khóa tu lúc bắt đầu, đậu lại chỉ còn
mười một.
Theo
chương trình tu tập, chúng tôi còn phải dự một cuộc hành
hương chiêm bái cả ngàn cây số để viếng tám mươi tám
ngôi chùa trên đảo Shikoku. Phải mất hơn hai tháng nếu đi
bộ, nhưng chúng tôi tổ chức đi bằng xe buýt với sự tham
gia của các cư sĩ khắp mọi miền trên đất Nhật. Một chuyến
đi giàu ấn tượng và rất cảm động, vì phần đông các
Phật tử tham gia đã lớn tuổi, và đây là chuyến đi mà
họ hằng ấp ủ suốt cuộc đời. Cuối chuyến đi ai cũng
rơi lệ vì cảm xúc. Riêng tôi, lòng chánh tín của họ đã
khích lệ tôi thêm tinh tấn, và cuộc hành hương để lại
những kỷ niệm đáng nhớ trong quá trình tu tập của tôi.
Căn duyên sâu xa nào đó đã mang tôi, một phụ nữ Mỹ, đến
với nhóm phụ nữ Nhật hoàn toàn xa lạ này. Thật là một
kinh nghiệm hữu ích cho tôi và cho cả họ, khiến chúng tôi
phải nhìn lại mình, xét lại bao thành kiến sẵn có, để
thay đổi bao cách nhìn, cách nghĩ của chúng tôi.
Chính
phụ nữ là những người đầu tiên mang Phật giáo đến Nhật.
Sự kiện này dù không được ghi trong sách vở, nhưng hầu
như ai cũng biết. Vào khoảng 552 Tây lịch, có ba phụ nữ
Nhật gốc Triều Tiên đã từ Nhật trở về bán đảo Triều
Tiên. Họ xuất gia ở đó rồi trở về dựng lên ngôi chùa
Phật giáo đầu tiên trên đất Nhật, dưới sự bảo trợ
của một gia đình quý tộc.
Khi
Phật giáo được truyền từ Ấn Độ, về phía Bắc vào các
nước như Trung Hoa, Triều Tiên rồi đến Nhật Bản, có nhiều
quan điểm khác nhau về cách giữ các giới luật. Ngay như
ở Ấn Độ, không lâu trước khi nhập diệt, Đức Phật đã
tuyên bố một số giới luật không quan trọng có thể được
sửa đổi. Nhưng rõ ràng là ở Nhật, đã có rất nhiều thay
đổi táo bạo.
Một
bước ngoặt quan trọng về sự thay đổi các giới luật trong
quá trình phát triển Phật giáo ở Nhật Bản do lão sư Saicho
thuộc phái Tào Động khởi xướng. Saicho đã viết về các
giới luật và cho rằng việc phải tuân theo 250 giới luật
đã được tạo hình ở Ấn Độ là không thích hợp với
người Nhật. Lý giải của Ngài không trái ngược với những
lời dạy cuối cùng của Đức Phật cũng như đạo đức văn
hóa của Nhật Bản, nên đã dẫn đến sự hình thành của
các giới luật bố tát như đã được đề ra trong thời đại
Heian (781-1191) trong dòng Tào Động và Chân Ngôn tông.
Vào
năm 1224, Ngài Shinran, người đã sáng tạo ra Jodo Shinshu, một
tông phái cho rằng phải hòa hợp giữa đạo và đời. Có
nghĩa là không có sự khác biêt giữa đạo và đời. Do đó
ông công khai lâp gia đình với một sư cô. Đó là một việc
làm không được chấp nhận vào thời điểm đó. Từ đó
mới có việc người tu sĩ vẫn lập gia đình. Và sau này hầu
như các tông phái ỏ Nhật không còn giữ giới độc thân.
Với cách giữ giới luật như thế của Phật giáo Nhật Bản
đã dẫn đến mâu thuẫn với các truyền thống Phật giáo
khác, vì chúng quá khác biệt với những giới luật xuất
phát từ Ấn Độ.
Cũng
có lúc Phật giáo bị đàn áp ở Nhật Bản. Đó là lúc Hoàng
đế Meiji ra sắc lệnh vào năm 1872 cho phép các tu sĩ Phật
giáo ăn thịt, lập gia đình một cách chính thức, để tóc,
giữ tên dòng họ và bãi bỏ truyền thống đi khất thực.
Vào năm 1865 ở Nhật có hơn nửa triệu tăng ni. Năm năm sau
con số đó chỉ còn lại 77.000. Chùa chiền bị đóng cửa,
thường xuyên bị lục soát, kiểm tra và rất nhiều hình thức
tôn giáo quan trọng bị sửa đổi. Việc nới lỏng giới luật
là một phương cách hết sức khôn khéo nhằm đánh đổ sức
mạnh của Giáo hội Phật giáo. Vì sự thay đổi đó, đa số
tăng ni không thể tiếp tục cuộc sống ở các tu viện, vì
thế họ trở về đời sống thế tục. Khi giai đoạn đàn
áp đã được xóa bỏ, nhiều chùa chiền lại được mở
cửa. Các tu sĩ, thay vì từ bỏ vợ con, lại mang vợ con họ
trở lại chùa. Do đó họ đã lập ra tiền tệ cho Phật giáo
ở xã hội Nhật Bản sau này. Phần đông các chùa ở Nhật
Bản, chính yếu là do cha truyền con nối.
Diệu
Liên Lý Thu Linh
(Trích
dịch theo Monastic Life, Women & Buddhism, NXB Wisdom)
03-09-2008
11:34:45