DẪN
NHẬP
Các
tiểu sử trong sách này có thể gây chấn động cho người
đọc như là lạ lùng, kỳ quái. Chúng đến từ thế giới
xa lạ và hầu như không thể thâm nhập được của Tây Tạng
thời trung cổ. Chúng được phóng rọïi bằng những đặc
ngữ tâm lý và văn chương của một xứ sở và nền văn hóa
mà, hơn bất cứ nơi nào khác, đối với thế giới Tây phương
là một cái gì không thể hiểu, lạ lùng và kỳ quái. Trong
thời đại mới này, Tây Tạng là một mặt gương đối nghịch
với cái kinh nghiệm người Tây phương chúng ta có về thế
giới. Khi tiếp xúc với các chuyện này, người ta có thể
hỏi, tại sao rắc rối thế ? Giá trị nào các câu chuyện
có thể đem lại cho người Tây phương chúng ta ?
Câu
trả lời hình như tùy thuộc rất nhiều vào người đọc.
Chắc chắn, trên một mức độ bề ngoài, chúng ta có thể
đọc các chuyện này như những chuyện viễn vông. Khi chúng
ta làm quen với văn học tôn giáo của các dân tộc khác ngoài
Tây phương, chúng ta có thể đọc các tiểu sử này để cho
trí tưởng tượng dẫn dắt. Chúng ta có thể xem chúng là
những thông tri của một thế giới khác và chúng cung cấp
cho chúng ta lối vào lãnh vực thần bí là cái thường lẩn
tránh chúng ta trong đời sống hằng ngày. Như là nhà tâm lý
học và nhà nghiên cứu văn hóa, điều này không phải là
vô nghĩa. Khác xa với sự giải trí thuần túy, các câu chuyện
loại này có thể giảm bớt cho chúng ta chứng bị giam cầm
trong cái hoàn toàn quen thuộc và cái thế giới tầm thường
mà chúng ta đã quá quen biết.
Nếu
muốn đi xa hơn, chúng ta có thể tìm thấy điều gì đó hơn
nữa trong các chuyện này. Như các nhà nhân chủng học văn
hóa trong thế kỷ này đã chỉ ra, những chuyện loại này
từ các truyền thống tâm linh phi-Tây phương không phải là
sự biểu lộ của các tư tưởng kỳ quái. Chúng hiện thân
những hình thái kinh nghiệm và biểu lộ của nền văn hóa
từ đó mà chúng đến. Trong cuốn sách này, chúng ta chạm
mặt – trong ý nghĩa xác thực nhất – với thế giới truyền
thống của Tây Tạng. Chúng ta có thể nhận ra cái không khí,
các sự kiện và con người trong các tiểu sử này lạ lùng
và phi phàm, nhưng quả thật chúng lại là đời sống tự
nhiên của Tây Tạng. Những câu chuyện này mở một cánh cửa
sổ vào thế giới trung cổ của Tây Tạng, với những đặc
ngữ, giá trị và mối quan tâm khác thường. Dĩ nhiên, để
thu lượm được một vài trực giác về thế giới ấy và
bắt đầu thưởng thức nó, chúng ta cần để qua một bên
trong chốc lát các qui tắc của chúng ta về cái gì thật và
cái gì là không thật. Trong thời đại ngày nay, một sự đình
chỉ phán xét như thế không khó làm như trước kia. Và, phần
thưởng của sự nhìn thế giới một cách khác hơn có thể
kinh nghiệm được trong dòng văn hóa khác hình như xứng đáng
để cố gắng.
Nhân
chủng học văn hóa dừng lại ở điểm này của sự đánh
giá, nhưng người ta có thể đi xa hơn và điều này để lại
cho chúng ta nhiều khó khăn tìm được lối ra. Một câu nói
cũ thường được trích ra của Rudyard Kipling “Đông là Đông
và Tây là Tây ; cả hai không bao giờ gặp gỡ”(1) thì nhiều
hơn là một câu nói ẩn dụ. Một sự tự phụ và tiên kiến
căn bản đã ăn rễ vào tâm thức Tây phương. Bất kỳ ai
làm việc trong lãnh vực tôn giáo ngoài Tây phương như là
một nhà nhân chủng học hay một nhà Đông phương học đều
ý thức một cách sâu sắc chứng bệnh hoang tưởng cục bộ
hiện hữu trong nền văn hóa chúng ta về các dân tộc và truyền
thống phi Tây phương. Khi nhìn vào các truyền thống phi Tây
phương, thường thì có một thái độ học giả “bỏ lỏng”
đó, hoặc là tự khước từ mình như là một người Tây
phương. Ngay cả C. G. Jung, dầu cho tất cả sự tán thưởng
của ông về nguồn tâm linh phi Tây phương, cũng thường biểu
lộ nỗi lo sợ rằng có một tiếp xúc quá thân mật với
các truyền thống phi Tây phương sẽ dẫn đến một sự tự
chối không lành mạnh cái nhân cách Tây phương của chúng
ta. Những sự thái quá và mơ hồ của những người tôn thờ
giả tạo Á Châu trong nền văn minh này hình như có thể chứng
minh cho cái chứng bệnh hoang tưởng cục bộ của Tây phương
đối với tính tâm linh Châu Á.
Tuy
nhiên, cả hai sự tiếp cận này – một của người học
giả đa nghi từ chối sự thân mật trực tiếp và một của
người tôn thờ nghĩ rằng mình có thể trở thành một người
Ấn Độ hay Tây Tạng – cả hai đều không thể khám phá
vấn đề thực sự đáng quan tâm và có ý nghĩa. Có phải
rằng các loại thế giới tâm linh được diễn tả trong tôn
giáo Tây Tạng qua các tiểu sử này chỉ hiện hữu độc nhất
và đặt biệt trong lãnh vực Tây Tạng ? Hay nó còn bao hàm
những cái gì vượt ra nữa để thử thách những biên giới
của kinh nghiệm Tây phương chúng ta ? Nói cách khác, những
giới hạn tâm lý và tâm linh của Tây phương là cố hữu
tất yếu hay chúng chỉ là tự đặt ra để giới hạn chính
mình ? Đây là điều căn bản và nền tảng nhất của các
vấn đề, và cách chúng ta trả lời như thế nào sẽ quyết
định cách nào chúng ta đọc các chuyện này, và cái gì chúng
ta sẽ tìm thấy nơi các chuyện đó.
Các
thị kiến của các vị Karmara
Các
tiểu sử sau không phải dễ đọc, và ít dòng hướng dẫn
là cần thiết để định hướng người đọc vào hình thức
và nội dung của chúng. Để bắt đầu, đây không phải là
những tiểu sử theo nghĩa của danh từ Tây phương hiện đại.
Mọi tiểu sử đều phải chọn lọc, căn cứ trên một cái
nhìn đặc biệt những gì có ý nghĩa. Khác với hầu hết
tiểu sử Tây phương hiện đại miêu tả một cách nguyên
sơ các biến cố đời thường, các tiểu sử các vị Karmapa
đề cập đến một kích thước căn bản của đời sống
Tây Tạng, tức là sự tiếp xúc giữa người và thiêng liêng
– mối liên quan, sự căng thẳng, sự tiếp thông của họ.
Nói thế là còn ít, trừ phi chúng ta hiểu rằng các chuyện
này thuật lại lối sống ở Tây Tạng truyền thống, đặc
biệt là nơi các khuôn mặt như các vị Karmapa. Với các cá
nhân này, sợi chỉ đỏ xuyên suốt các cuộc đời của các
vị, là hoạt động hỗ tương với thế giới tinh thần. Và
những giây phút trung tâm của mối tương tác này là các thị
kiến của các vị. Người ta có thể nói rất đúng rằng
kể lại những biến cố có ý nghĩa trong một đời của một
vị Karmapa có nghĩa là kể lại các thị kiến này, với ý
nghĩa mà chúng hiện thân và với hoạt động mà chúng gây
ra. Thật vậy, chính các thị kiến này tạo nên chủ đề
chính của các tiểu sử.
Theo
truyền thống Kim Cương thừa, vấn đề này có hai mặt : thứ
nhất là sự sửa soạn phải có để một cá nhân có thể
thu nhận các kinh nghiệm như thế ; thứ hai là sự tu hành
tiệm tiến trong thiền định Phật giáo xuyên qua đó cái thấy
và trực giác được phát triển. Sự tu hành tuần tự này
có ba cấp bực, được đặt tên theo danh từ Phật giáo là
: hinayana (tiểu thừa), mahayana (đại thừa) và vajrayana (kim
cương thừa). Để có thể hiểu các thị kiến của các vị
Karmapa, chúng ta cần nhìn qua sự sửa soạn này và tu hành
thiền định của ba thừa.
Điểm
thứ nhất : các thị kiến này – đóng một vai trò trung tâm
trong các tiểu sử – là hoàn toàn bình thường và trần thế.
Khác với kinh nghiệm của các nhà huyền bí Tây phương họ
đi vào trong các lãnh vực ngoài trần thế, các thị kiến
tâm linh của các vị Karmapa liên quan với những thực tại
trần thế của cuộc sống con người. Thật vậy, chúng đại
diện cho các siêu âm, siêu sắc của kinh nghiệm bình thường
nhưng thường con mắt không thấy. Điều này là quan trọng,
vì nó phù hợp với quan điểm chung của Phật giáo là không
có thực tại nào khác hơn là cái đang tự mình hiện diện
trực tiếp cho kinh nghiệm. Ngay cả các sự diễn tả về các
thần hay sự bàn luận về các cõi giới Phật cũng không gì
khác hơn là sự nói về cái vi tế của kinh nghiệm hiện thực
như chúng luôn luôn hiện tiền.
Cũng
thế, nhiều giáo huấn Kim Cương thừa của các vị Karmapa
được diễn tả như là “mật”. Điều này để nói lên
sự kiện rằng khi người ngoài truyền thống đọc các văn
bản này, thường thì nội dung của chúng lại ẩn dấu. Người
ta có thể nghĩ rằng Mật là vì một lý do kỹ thuật nào
đó, ví dụ như sự thiếu quen biết với danh từ hay đặc
ngữ. Nhưng thật ra, lý do hoàn toàn nằm nơi một chiều hướng
khác. Truyền thống các Karmapa có là để đem lại cái nhìn
trực tiếp vào thực tại, vào “các sự vật như chúng là”
(yathabhutam : chân như). Và, như chúng ta đã nói ở trước,
thực tại này không phải là cái gì trừu tượng của một
cõi giới khác, mà là cái thực tại cụ thể thường trực
hiện tiền đối với kinh nghiệm. Người ta có thể hỏi,
vậy thì tại sao một cái tự nhiên và bình thường như thế
lại gọi là Mật ? Câu trả lời đơn giản. Thực tại, theo
Phật giáo, không thể nắm bắt bằng tư tưởng, ý niệm.
Nó chỉ được thấy bằng một tâm trong sáng, rỗng rang và
không chấp trước. Nhưng một cái tâm như thế tìm ra ở đâu
? Thật vậy, chính cái khuynh hướng thói quen của tâm thức
con người là chồng chất với những ý định, những quan
điểm, những dự phóng. Bị lèo lái bởi hy vọng có được
và sự lo sợ mất mát, tâm không bao giờ tĩnh lặng, mà luôn
luôn vọng động. Hoạt động tương tục này không cho trực
giác có chỗ nảy sanh, mà chính trực giác là cửa vào thế
giới “như thực”. Lý do hiện hữu của truyền thống các
vị Karmapa là cung cấp cho con người một con đường siêu
thoát khỏi sự tự đắm mình vào các thành kiến và các bận
rộn lo toan, để cho trực giác có thể khai mở và thế giới
“như chính nó đang là” tự hiển lộ không chút bợn nhơ.
Đến khi nào con đường chưa được đi vào, thì thế giới
“thực như chính nó” vẫn là cái gì Mật.
Bước
đầu tiên trong phát triển cái nhìn sáng tỏ – một chủ
đề xuyên suốt các tiểu sử Karmapa – là sự từ bỏ. Xả
bỏ được đặt căn bản trên sự tỉnh thức rằng con người
thường không thấy sự vật như chúng là, thay vào đó, con
người thích đấu tranh cho sự tiện nghi, an toàn và xác định.
Một hiểu biết lớn dần về cơ chế của bản ngã không
ngừng tự tìm kiếm chính mình sẽ dẫn đến sự chán ngán,
ghê tởm với toàn bộ tiến trình, với sự kéo dài hoạt
động ấy. Xả bỏ là cảm hứng tiên khởi để làm việc
trên chính mình hầu chấm dứt sự tự lừa dối. Trong truyền
thống Phật giáo, chỉ sự nhận ra vấn đề thì không đủ
để thành tựu mục đích. Người ta phải làm việc trên chính
mình bằng cách thực hành chuyển hóa tâm thức. Với đạo
Phật, công việc này tiến hành qua việc hành thiền. Chính
sự thực hành này phát triển một cái nhìn sáng suốt rõ
dần được diễn tả trong sự tu tập của ba thừa. Và chính
sự thực hành này làm nên cái cốt lõi của cuộc đời du
hành của các vị Karmapa và của điều mà họ dạy người
khác.
Mức
độ đầu tiên của thị kiến hay nội quán được gọi là
Vipasyana hay là “minh sát,” được phát triển qua thực hành
thiền định của Tiểu thừa. Sự thực hành này là ngồi
xếp bằng khoanh chân, chú ý nhẹ nhàng đến hơi thở, với
sự tỉnh thức xung quanh. Qua sự thực hành đơn giản này,
tiến trình tư tưởng – từ vô thủy vốn không hề ngừng,
không đứt đoạn – bắt đầu chậm lại. Sau khi thực hành
nhiều, các khoảng hở trong chuỗi tư tưởng bắt đầu xảy
ra. Những khoảng hở này đưa lại sự sáng sủa của nội
quán, minh sát, nó không bị ô nhiễm bởi ý niệm hay vọng
tưởng.
Điều
gì xuất hiện trong kinh nghiệm minh sát ? Giản dị là thế
giới thường nhật trong các chi tiết vô biên của nó, sự
phức tạp đa dạng và mối tương quan không cùng của nó.
Thanh, sắc, thọ, tưởng, tính cách của tình huống, những
khởi động của chính mình và người khác, tất cả tự chúng
trình hiện ra, ngoài mọi hy vọng và lo sợ. Thế giới trong
muôn ngàn khía cạnh bắt đầu lộ diện nguyên hình nơi kinh
nghiệm của chúng ta. Trong truyền thống Phật giáo, người
ta nói rằng kinh nghiệm này đoạn dứt bản ngã vì nó hiển
lộ thế giới “như chính nó thật sự là,” không phải
như ta nghĩ hay ta muốn nó là. Dưới ánh sáng của kinh nghiệm
này, sự diễn dịch cá nhân về sự vật bị phơi bày : sự
diễn dịch này không phải là thực tại, mà chỉ là tư tưởng
sai lầm, không có tự tánh, bất định của chúng ta. Đó cũng
là sự nếm mùi giác ngộ đầu tiên, vì cái được thấy
không liên quan gì đến bản ngã. Khi các tiểu sử đề cập
đến sự tu hành tiểu thừa của Dusum Khyenpa, Rangjung Dorje
và các vị Kar-mapa khác, chúng đều ám chỉ mức độ đầu
tiên này trong sự phát triển thị kiến của các vị Karmapa.
Khi
sự tu hành tiểu thừa đã ăn rễ vững chắc và minh sát bắt
đầu hủy hoại các khuôn mẫu bình phàm và qui ngã, mức độ
tiếp theo bắt đầu, mức độ đại thừa. Trong minh sát, thế
giới được nhìn thấy trong chi tiết và đa dạng, thì trong
cái thấy đại thừa về Tánh Không, tính cách không nền tảng,
vô trụ của kinh nghiệm bắt đầu lộ diện. Dù cho tất cả
tính cách sắc bén và rõ ràng của nó, minh sát của tiểu
thừa cũng có những giới hạn của nó. Các sự tu hành dẫn
đến nó là được tiến hành cho riêng mình, cho sự giải
thoát của riêng mình. Nó cũng đem lại một cách ẩn tàng
cái cảm tưởng rằng có một cái gì xác thực đã được
thành tựu, và nó cung cấp một chỗ an trú – dầu rất vi
tế – cho ta bám vào. Tóm tắt, tiểu thừa mang theo nó một
diễn dịch tinh vi của bản ngã. Nó thay thế sự chấp ngã
thô bằng một diễn dịch tâm linh hơn của bản ngã. Và nó
cũng có một loại hy vọng và sợ hãi của riêng nó – hy
vọng về kinh nghiệm minh sát có thêm và sợ hãi phải rơi
lại vào vô minh của bệnh loạn thần sanh tử luân hồi. Mức
độ kế tiếp của tu hành đại thừa là tìm cách cắt đứt
sự bám níu rất tâm linh của tiểu thừa. Làm sao có thể
hoàn thành việc ấy ? Câu trả lời là bằng sự xả bỏ hơn
nữa. Ở đây, các mục đích tự giải thoát khỏi sanh tử,
đạt đến vài kinh nghiệm, và tìm một điểm qui chiếu trong
minh sát, phải bị xả bỏ hết. Và một lần nữa, một mục
đích như thế không thể hoàn thành được bằng cách chỉ
hiểu biết vấn đề, mà phải được thành tựu từng phần
xuyên qua thiền định.
Thực
hành đại thừa được gọi là lojong, tu tâm, nó có hai mặt,
một mặt tuyệt đối một mặt tương đối. Thực hành tuyệt
đối gồm sự tương tục trong việc ngồi thiền. Qua sự thực
hành này, người ta bắt đầu làm quen hơn với chiều kích
vô điều kiện, vô ngã của tâm, được mệnh danh là Bồ
đề tâm tuyệt đối. Điều này dẫn đến ít sợ hơn về
sự xao động, lo âu là những trạng thái vọng động của
tâm, và người ta bắt đầu cảm nghiệm tính cách không điều
kiện, không duyên sanh này hiện hữu qua suốt mọi kinh nghiệm,
dầu là sanh tử hay cái gì khác. Điều này cắt đứt cái
nhị nguyên bề ngoài giữa sanh tử và Niết bàn, và làm sanh
khởi sự chứng nghiệm về cái không trụ, tuyệt đối không
có một điểm qui chiếu nào. Cùng với sự thực hành tuyệt
đối là sự thực hành tương đối, gọi là Bồ đề tâm
tương đối, trong đó – xuyên qua “thiền định trong việc
làm” – hành giả làm việc cùng với những người khác.
Sự thực hành tương đối đặt nền tảng trên niềm tin và
nội quán đã được phát triển trong sự thực hành tuyệt
đối, và đi vào trong trường hoạt động, nhắm mục đích
giúp đỡ người khác. Sự thực hành này liên tục bỏ đi
con người cá thể và giúp đỡ người khác trong bất cứ
cách nào có thể được. Thay vì trách móc người khác, người
ta nhận lấy sự trách móc của hoàn cảnh lên chính mình.
Thay vì tránh né các vấn đề của người khác, người ta
nhận lấy nỗi khổ đau của họ. Thay gì tìm kiếm sự tốt
lành cho mình, người ta tìm kiếm cái lợi lạc cho người
khác, và đặc biệt nhất là sự giải thoát của họ khỏi
sanh tử. Qua sự thực hành có tính yêu sách này, người ta
bắt đầu hiểu rằng cái bản năng cho sự tự tồn tại có
thể được chuyển hóa nhờ vào một cái gì rộng lớn hơn
và phổ quát hơn. Đã bỏ điểm qui chiếu về sự tồn tại
tâm linh ngay của chính mình và tiến bộ bằng cách làm việc
cho sự giải thoát của người khác, người ta đạt đến
cùng một tính vô trụ trong cuộc sống hoạt động, cái mà
người ta đạt đến khi ngồi thiền, không một điểm qui
chiếu nào cả. Khi các tiểu sử nói đến sự tu hành đại
thừa của các vị Karmapa, chúng đề cập đến sự tu hành
này.
Trong
truyền thống Phật giáo của các vị Karmapa, sự tu hành Tiểu
thừa và Đại thừa cung cấp cho nền tảng và chuẩn bị cho
Kim Cương thừa hay Mật thừa. Từ quan điểm của giáo huấn
tối cao của Phật giáo này, cũng như Tiểu thừa có các giới
hạn của nó và đòi hỏi sự xả bỏ thêm nữa, cũng có thể
nói như thế về Đại thừa. Sức mạnh của Đại thừa là
sự khám phá của nó về cái vô trụ và cái tuyệt đối không
có điểm qui chiếu. Nhưng, theo Kim Cương thừa, sự khám phá
này chính nó cũng là một mối bận tâm. Trong một cách thế
cực kỳ tinh tế, tiến trình phân biệt, chọn lựa và vặn
vẹo vẫn còn xảy ra. Kinh nghiệm được đánh giá theo sự
có hay không cái vô trụ này. Nếu không có, thì theo Đại
thừa, nó mất đi phần tâm linh, và phải được sửa lại
bằng quan điểm Tánh Không. Ở đây, theo Kim Cương thừa, vẫn
cùng một nhị nguyên đã có trong Tiểu thừa, dầu cho ở một
mức độ cùng cực vi tế : sự phê phán của Kim Cương thừa
này được lồng trong một ví dụ loại suy bởi nhà thơ mật
thừa vĩ đại là Saraha :
Người
nào không thưởng thức các giác quan đã thanh tịnh
Và
chỉ thực hành Tánh Không
Thì
cũng giống như một con chim bay lên từ một chiếc tàu
Cứ
bay vòng vòng rồi trở lại đậu xuống tàu.(2)
Sự
xả bỏ hơn nữa phải xảy ra khi đi vào Kim Cương thừa. Người
ta phải thấy điểm cắm trụ của sự bám dính đại thừa
vào Tánh Không và phải xả bỏ sự trước tâm vào cái nhị
nguyên tâm linh và phi tâm linh. Ngay cả điểm qui chiếu là
“không có điểm qui chiếu” cũng phải xả bỏ. Nếu điều
này làm xong, cái gì sẽ còn lại ? Đơn giản là kinh nghiệm
như chính nó là, không tiên kiến, không vọng cầu, không trị
giá. Kinh nghiệm biểu lộ tự nhiên đơn giản cái tự thân
nó, với hình dáng và góc cạnh đặc thù, bản chất và lặng
im. Như truyền thống Kim Cương thừa nói, thế giới thấy
đúng như thực có đặc tính hiện tại, trống không sáng
tỏ và rực rỡ. Tính hiện tại đến từ sự tu hành Tiểu
thừa, còn nguyên sức mạnh. Đã phân biệt được giữa kinh
nghiệm và tư tưởng, người ta biết tự mình trở lại cái
hiện tiền, không sống trong trí nhớ quá khứ và ước vọng
tương lai. Sự trống không đến từ tu hành Đại thừa, nơi
người ta đã học làm thế nào vượt khỏi sự mong mỏi về
một cứ địa cứng chắc. Sự sáng tỏ và rực rỡ đặc
biệt liên can đến Kim Cương thừa. Thế giới là sáng tỏ,
vì khi không còn tưởng niệm về các sự vật, chúng hiển
lộ với sự sống động vô cùng. Thế giới là rực rỡ,
vì nó là linh thiêng và đầy ắp năng lực.
Như
các thừa trước, sự thực hiện hoàn toàn của Kim Cương
thừa không thể thành tựu mà không qua một sự tu hành gian
lao. Cũng như trong Đại thừa, tu hành Kim Cương thừa gồm
cả hai phương diện : tuyệt đối hay “vô tướng” và tương
đối hay “hữu tướng”. Thực hành vô tướng là sự thiền
định vô tướng với tư thế ngồi được tiếp tục, và
khám phá Tánh Không càng hoàn hảo. Còn phương diện hữu tướng
có hai loại thực hành liên quan, một loại là ngồi thiền,
loại kia là thiền định trong hoạt động. Cả hai loại này
đều thực hành với chư hóa thần thuộc Kim Cương thừa.
Trong Kim Cương thừa, trí huệ tự tâm không bị điều kiện
hóa – đã được khám phá trong Đại thừa – được gán
cho một hình tướng là một hóa thần để quán tưởng. Làm
điều này để có thể tương ưng trực tiếp với trí huệ
ấy, vượt khỏi lưới ràng buộc của bản ngã. Điều này
được xem như là tự quán mình là vị hóa thần. Thứ hai,
thế giới bên ngoài cũng được quán thấy như là hình tướng
của vị hóa thần, để nhấn mạnh và thể hiện tính thiêng
liêng của thế giới. Vị hóa thần là chính bản thân và
vị hóa thần là thế giới bên ngoài chỉ là một, điều
này dẫn đến một điểm mà chúng ta sẽ khám phá dưới đây
: thế giới nội tâm và thế giới hiện tượng bên ngoài
không phải là hai, mà chỉ là hai hình thức hiển lộ của
cùng một thực tại. Trong sự thực hành hữu tướng của
Kim Cương thừa, cả thiền ngồi và thiền hoạt động, tự
thân và thế giới bên ngoài được thấy như là hóa thần.
Sự thực hành vô tướng và hữu tướng tương quan với nhau
theo sự hiểu biết rằng hóa thần có hai phương diện : một
là hữu tướng, hai là vô tướng. Con đường Kim Cương thừa
là sự phát triển càng ngày càng nhiều hơn niềm tin trọn
vẹn vào kinh nghiệm – cả hữu tướng lẫn vô tướng –
như là thực tại của bổn tôn, nói một cách khác, kinh nghiệm
trọn vẹn, hoàn hảo và không bợn nhơ.
Những
tiểu sử ở sau ghi lại nhiều những thị kiến về chư Thần.
Điều nói ở trước đã gợi ra loại thị kiến là như thế
nào. Chúng là hiện thân của trí huệ vô điều kiện và sâu
thẳm nhất của tự tâm và của tính cách thiêng liêng của
chính thế giới. Thấy các hóa thần là gặp gỡ những khía
cạnh tinh hoa của hiện hữu. Khi nghi ngờ trổi dậy, chư thần
cung cấp cho vài sự hiểu biết sâu xa hơn. Khi sự rối lầm
về thế giới làm cho lung lạc, chư Thần nói cho sự giản
dị và trang trọng của sự vật như chúng là : Lý do mà mỗi
vị Karmapa “làm việc” nhiều với các Thần Kim Cương thừa
là ngài nói hộ cho phẩm cách trang trọng căn bản và không
thể tổn thương của con người và cho sự tốt đẹp của
thế giới. Trong những câu chuyện sau, chúng ta thấy các vị
Karmapa dấn thân vào việc chỉ dạy các đệ tử con đường
để thực hiện các điều này. Và chúng ta thấy các ngài
làm việc với các hoàn cảnh xáo trộn và khổ đau về xã
hội và chính trị để tái lập sự hài hòa, tôn trọng lẫn
nhau và hạnh phúc. Khi ta đọc các chuyện này với sự lặp
đi lặp lại và nổi bật giữa thị kiến và hoạt động,
cần phải giữ trong óc mối tương quan thân thiết của hai
cái ấy : bởi vì các vị Karmapa nhìn thấy sự tốt đẹp
của dân chúng và của thế giới, các ngài có một thị kiến
phải thực hiện trong các lãnh vực xã hội và chính trị.
Bởi vì mối tương quan giữa các ngài và chư thần, các thần
này như là sự biểu lộ của trí huệ vô điều kiện, vô
ngã và như tính của thế giới, các ngài có nguồn lực cá
nhân để thực hiện được thị kiến ấy.
Thị
kiến, từ đó, trong ý nghĩa được dùng trong các chuyện này,
là hoàn toàn khác nghĩa với cách dùng thông dụng trong lịch
sử các tôn giáo. Thị kiến của các vị Karmapa, căn cứ trên
sự tu hành Tiểu thừa, Đại thừa và Kim Cương thừa, thực
sự là cái nội quán thâm sâu vào “cái đang là,” chứ không
phải vào “cái có thể là” hoặc “cái nên là.” Chính
cái “như tính” này của trí huệ vô ngã về dân chúng và
về tính thiêng liêng của thế giới, đã cung cấp cho thị
kiến các vị Karmapa nhiều ý nghĩa và nhiều năng lực đến
thế. Sứ mạng của các vị là đem ra cho thế giới cái đã
sẵn ở đấy – để chỉ dạy cho dân chúng cái tính tốt
đẹp căn bản của chính họ và dạy sự tôn kính đối với
tính linh thiêng của cái đang hiện hữu. Chính cái thị kiến
này, cùng với sự thực hành để hiện thực nó, làm cho các
vị Karmapa trở nên những người lạ thường và đặc biệt,
và làm cho tiểu sử các vị đáng để nghiên cứu.
Thần
lực
Sự
soi sáng ở trên về bản tính trần thế và hiện thực của
các thị kiến của các vị Karmapa không hoàn toàn giải quyết
những khó khăn chính của chúng ta khi tìm cách hiểu các tiểu
sử này. Điểm ấy đã được đặt ra, tức thì câu hỏi
liền hiện diện. Nếu sự thành tựu và lời dạy của các
vị Karmapa thật sự là bình thường và hợp với “các sự
vật như chúng là”, thế thì sự giải thích nào có thể
có đối với vai trò nổi bật của các “huyền thuật”
trong các câu chuyện này ? Ngay đối với một đôïc giả lướt
qua, thì các câu chuyện đầy dẫy mọi loại thi thố huyền
thuật. Theo tiểu sử, Dusum Khyenpa du hành một cách đầy phép
lạ đến Tích Lan ở đó ngài nhận lời dạy từ thành tựu
giả Vajraghanta. Ngài cũng được biết nhiều vì năng lực
chữa bệnh lạ thường của mình. Karma Pakshi có thể di chuyển
một bức tượng lớn chỉ bằng năng lực thiền định. Rangjung
Dorje nói trước ngày mình sanh. Ngài cũng là bậc thầy trong
lãnh vực chiêm tinh và viết một tác phẩm cổ điển về
vấn đề này sau khi thấy toàn bộ vũ trụ chứa đựng trong
thân mình. Lại nữa, ngài có khả năng thay đổi khí hậu
có hại. Rolpe Dorje biểu lộ trí nhớ rõ ràng, chi tiết và
sắc néùt về đời trước của mình. Ngài cũng có thể tự
chữa trị khỏi bệnh tật đơn giản bằng cách thiền định
về Bhaisajyaguru, Dược Sư Phật. Dezhin Shegpa đọc được tư
tưởng người khác. Khi viếng thăm vua nhà Minh là Yung Lo, những
vật xuất hiện trong không gian, sự xuất hiện của các vị
A la hán đi ngang đường phố, một vị sư được thấy bay
qua bầu trời, một trận mưa hoa rơi trên cung điện, và các
đám mây có hình các thần của Kim Cương thừa. Thongwa Donden
biết trước ngày chết. Chodrag Gyaltsho qua thị kiến của ngài
có thể định vị vài thung lũng ẩn dấu để tỵ nạn trong
thời xung đột chính trị. Mikyo Dorje để lại dấu chân trên
nền đá của các hang động thiền định ở Kampo Gangra, cũng
như tạc một bức tượng đá có thể nói được. Bằng năng
lực huyền thuật, ngài chấm dứt một bệnh dịch cùi ở
nam Tây Tạng. Yeshe Dorje một lần hóa thân thành nhiều, mỗi
thân dạy cho các người hiện diện. Dudul Dorje ở từ khoảng
cách xa có thể tạo ra một trận mưa lúa mạch từ trên trời
rơi xuống tu viện ở Powo Gyaldzong để ban phước.
Sự
tường thuật các việc huyền thuật và hoạt động trong các
tiểu sử lên đến một cao điểm trong câu chuyện của vị
Kar-mapa hiện tại, Rangjung Rigpe Dorje, sanh năm 1923 và hiện
đang ở chùa Rumtek gần Gangtok Sikkim, Ấn Độ. Trước khi sanh
ra, ngài đã biến mất khỏi bụng mẹ một thời gian. Ngày
sanh mọi loại hiện tượng thiên nhiên bất thường xảy ra.
Khi học với vị guru, ngài kể cho ông nghe các kiếp trước
của ngài. Ở Drong Tup, ngài để lại dấu chân trên mặt nước,
còn có thể thấy vào mùa hè hay mùa đông. Khi cử hành lễ
Padmasam-bhava, các bánh cúng trên bàn thờ tự nhiên bốc cháy.
Ngài chấm dứt một vụ hạn hán nặng làm hại một chùa
ở Nangchen. Ở chùa Pang-phug, ngài để dấu chân trên đá.
Cả con chó và con ngựa cũng để dấu chân trên đá. Ở tu
viện Benchen, ngài làm cho bức tượng một con ngựa hý lên.
Qua thị kiến của mình khi trốn khỏi Tây Tạng, ngài có thể
giúp đoàn tỵ nạn thoát khỏi sự rượt đuổi sát nút của
quân Trung Quốc.
Những
ví dụ trên chỉ là một ít trong nhiều điều có thể kể
ra để chứng minh vai trò nổi trội của thần lực trong các
tiểu sử. Chúng đặt cho người đọc Tây phương một câu
hỏi trọng yếu. Đâu là ý nghĩa từ những ví dụ về huyền
thuật trong các tiểu sử ấy ? Chúng có tiêu biểu cho những
ngoại lệ của sự định hướng thực tại từ các tiểu
sử ấy ? Chúng có phải là những khiếm khuyết trong tính
cách toàn thể của những câu chuyện và có phải chúng được
triển khai cho các câu chuyện được dễ hiểu ? Có phải ảnh
hưởng của huyền thuật là để đem các yếu tố “bình
dân” vào các cuộc đời ấy ? Hay chúng là một phương sách
văn học, có lẽ được thêm vào trong đời sau, để làm nổi
bật uy tín của nhân vật chính ? Những sự cố huyền thuật
này có hợp với các tiểu sử không ? Chúng có cần thiết
để hiểu con người của các vị Karmapa và công việc các
vị làm hay không ?
Trong
một thời gian dài, các học giả Tây phương đã phán xét
các sự cố loại này trong lịch sử các tôn giáo như là những
dấu hiệu của một tâm thức tiền-lý trí, tiền-khoa học,
thậm chí thấp kém. Căn cứ cho một quan điểm như thế rõ
ràng đã bắt rễ sâu xa trong giáo hội Thiên Chúa Tây phương,
nơi mà huyền thuật thường được chính thức liệt hạng
như là “công việc của bóng tối.” Một sự biểu lộ thông
thường hơn của cùng cách tiếp cận là cái nhìn cho rằng
huyền thuật trong tôn giáo là bằng chứng của tính cách trẻ
con và loạn óc. Các học giả thế kỷ thứ mười chín và
đầu thế kỷ hai mươi đã theo cùng một lối ấy. Nói chung
là người ta nhận rằng ảnh hưởng của huyền thuật trong
các tiểu sử Mật thừa như của các vị Karmapa làm cho các
tiểu sử ấy không xứng đáng với chứng tín lịch sử. Bởi
thế, đôïc giả Tây phương hình như bị đặt trước hai
sự chọn lựa. Một mặt, anh ta có thể quyết định rằng
ảnh hưởng của huyền thuật trong các tiểu sử là không
chính yếu. Trong trường hợp này, anh có thể bỏ qua một
bên các chuyện huyền thuật và rồi cho các tiểu sử kể
lại cuộc đời các vị Karmapa là đứng đắn. Mặt khác,
anh ta có thể xem huyền thuật là chính yếu của các tiểu
sử. Nếu là thế, thì tính chất thực của câu chuyện về
những con người thực bị đặt trong sự nghi ngờ.
Càng
hiểu biết về Phật giáo Tây Tạng, càng dần thấy rõ rằng
cả hai quan điểm trên là không đầy đủ. Điểm bắt đầu
cho sự hiểu biết của chúng ta phải khởi từ sự kiện giản
dị. Cái thế giới được mô tả trong các tiểu sử là cái
đời sống được kinh nghiệm ở Tây Tạng, cho đến thời
Trung Quốc những năm 50. Các sự cố huyền thuật là bình
thường đối với người dân Tây Tạng, từ người nông dân
ít học cho đến các Lạt ma học giả. Chúng không phải là
tình cờ. Chúng xảy ra một cách hữu cơ từ bản chất của
thực tại như người Tây Tạng kinh nghiệm. Hơn nữa, khả
năng gây ra hiện tượng huyền thuật tùy thuộc vào một sự
phát triển tâm lý và tâm linh của một cá nhân. Chúng ta đều
biết điều này, không chỉ từ sách vở, mà còn từ những
người đồng thời, cả Tây phương lẫn Tây Tạng. Người
ta biết những vị Lạt ma đương thời rất cẩn trọng và
sâu sắc vẫn nói một cách giản dị đến những hiện tượng
huyền thuật ấy như là một phần tự nhiên của đời sống
họ ở Tây Tạng và sau đó. Từ đó, có thể thấy rằng tiểu
sử các vị Karmapa là hoàn toàn đáng tin và chính xác khi chúng
trình bày huyền thuật như là phần căn bản của cuộc đời
các vị.
Trong
quá khứ, các học giả Tây phương xếp các ví dụ kể trên
vào một phạm trù chung là “huyền thuật.” Chúng ta phải
nhớ rằng “huyền thuật” là một từ và một ý niệm của
Tây phương, và được dùng để gói trọn những hiện tượng
khác loại xảy ra trong thế giới tôn giáo. Một mô thức chung
cho các hiện tượng này là quan điểm của khoa học Tây phương
không có một giải thích nào về chúng. Thế mà, các hiện
tượng được gom lại dưới danh từ “huyền thuật” là
rất khác biệt. Để có thêm cái nhìn vào vai trò của huyền
thuật trong cuộc đời các vị Karmapa, quả thật có ích khi
làm sáng tỏ một cách ngắn gọn sự dị biệt này. Chúng
ta thấy những phạm trù này là hoàn toàn truyền thống, trở
ngược lại đến các tiểu sử của các vị thành tựu Ấn
Độ, những nhà Kim Cương thừa xa xưa và là kiểu mẫu của
các vị Karmapa, và trong nhiều trường hợp trở lại với
chính đức Phật Thích Ca.
Hiện
tượng chúng ta gán cho là “huyền thuật” chia làm hai loại,
mỗi loại với các phạm trù phụ thuộc. Một mặt, có những
hiện tượng dị thường mà chính yếu là thuộc về tâm lý
ở trong thiên nhiên. Phạm trù này bao gồm khả năng thấy
các hóa thần, tiên tri, nhiều loại do năng lực thiền định,
khả năng đọc được tư tưởng người khác, và sự nhớ
lại các đời trước của vị Tulku. Phạm trù rộng lớn thứ
hai gồm những hiện tượng chứng tỏ một sự liên hệ tiềm
ẩn giữa tâm thức và thế giới bên ngoài : những năng lực
thân-tâm, khả năng di chuyển vật chất, đoán trước vài
hiện tượng về tính đồng thời, và khả năng ảnh hưởng
lên khí hậu. Quan trọng là phải ghi nhận rằng sự sắp xếp
hai loại về các khả năng siêu thường này không phải có
nguồn gốc Tây Tạng hay từ Kim Cương thừa, mà bắt nguồn
từ thời Đại thừa cho đến thời kỳ ban đầu của Phật
giáo.
Những
hiện tượng siêu thường
phần
chính thuộc về tâm lý ở trong thiên nhiên
Chúng
được hợp lại với nhau bởi vì chúng liên quan đến những
cách thế kinh nghiệm thực tại. Loại hiện tượng này đều
nảy sanh từ một sự mở rộng phi thường và từ sự vi tế
của kinh nghiệm, được phát triển qua tiến trình thiền định.
Bằng cách vất bỏ những bận rộn bình thường của tâm
thức, kinh nghiệm bắt đầu xuất hiện với sự sáng tỏ
và tinh tế tăng dần. Khi mức độ này đạt đến một cao
độ của phát triển, một vài hiện tượng mà chúng ta gán
tên là “huyền thuật” bắt đầu xảy ra.
Đọc
tâm thức : Dezhin Shegpa có khả năng đọc được tư tưởng
người khác. Năng lực này đã được nói đến suốt lịch
sử Phật giáo từ thời nguyên thủy. Nó là một trong những
thần thông cổ điển, đó là khả năng của tâm khởi từ
sự đạt đến một mức độ cao của vô ngã. Theo Phật giáo,
kinh nghiệm này không thuần túy có tính cách cá nhân, mà có
tính cách bao quát xung quanh. Khi một mức độ cao của sự
mở rộng và thu nhận đã được đạt đến, người ta có
thể thu lượm kinh nghiệm của người khác.
Tiên
tri : Thongwa Donden thấy trước cái chết của mình. Lại nữa,
kiểu mẫu này được tìm thấy đầu tiên trong tiểu sử đức
Phật Thích Ca và xuất hiện lại suốt lịch sử Phật giáo.
Trong Phật giáo Tây Tạng, một truyền thống lâu đời là
các vị Lạt ma thường nói trước thời gian chết, một vài
tháng hay vài năm. Từ quan điểm Phật giáo, năng lực biết
trước này được đặt căn bản trên sự liên hệ lẫn nhau
của hiện tại và tương lai. Biến cố hay khuynh hướng sẽ
xảy ra trong tương lai đã chứa đựng trong hiện tại như
là các chủng tử nghiệp. Hơn nữa, cách đặc thù để cho
các chủng tử này lộ ra thì tùy thuộc vào toàn cục nguyên
nhân xung quanh. Toàn cục này cũng phát lộ ra từ hiện tại.
Người ta nói rằng, người giác ngộ có một tầm rộng bao
la cho thị kiến đến độ họ có thể thấy sự phát triển
của tương lai trong một chớp nhoáng.
Khả
năng thấy các Thần : Hầu hết các vị Karmapa đều liên quan
đến thị kiến các thần. Khả năng này trải rộng không
chỉ với các thần Phật giáo, mà còn với các thần không
phải Phật giáo. Theo Phật giáo, thế giới đầy các loại
chúng sanh không có thân xác vật chất, họ tương tác với
con người và hoàn cảnh con người. Những người nặng nề
bận rộn và tri kiến chật hẹp không thể thấy được họ.
Một lần nữa, khả năng thấy các thần vi tế này tùy thuộc
vào một sự mở rộng và sáng tỏ phi thường. Khả năng này,
như cái trước, được thuật lại suốt lịch sử Phật giáo,
bắt đầu với đức Thích Ca, ngài có một cái thấy không
chướng ngại về các chúng sanh phi vật chất trong các cõi
giới phi nhân loại khác nhau. Vì thần là yếu tố quyết định
trong các hoàn cảnh con người, nên khả năng thấy và tiếp
thông với họ giúp cho các vị Lạt ma khả năng hoạt động
một cách sáng tạo trong hoàn cảnh nguy khốn.
Các
năng lực từ thiền định : Trong các tiểu sử các vị Karmapa,
có một số khả năng phụ thêm liên hệ trực tiếp với các
thực hành cao cấp về thiền định. Khi Rangjung Dorje nhìn thấy
vũ trụ trong thân ngài, điều này phản ảnh các sự tu hành
về khí (prana), kinh mạch (nadi) và hạt (bindu), trong ấy hành
giả khám phá phương diện vi tế của thân tâm mình. Khi Dusum
Khyenpa du hành đến Tích lan để nhận lời chỉ dạy từ đại
thành tựu giả Vajraghanta, ngài bay đi bằng thân vi tế, một
kỹ thuật Kim Cương thừa của Ấn Độ và Tây Tạng. Khi Yeshe
Dorje hóa thành nhiều thân để dạy dỗ, ngài biểu lộ sự
hóa hiện nhiều thân được nói đến trong Đại thừa như
là một năng lực của Bồ tát. Tất cả sự thực hành này
là sự diễn tả các kinh nghiệm khởi sanh như là kết quả
của một thực hành thiền định lâu dài và cao độ. Chúng
liên quan với sự thấy xuyên qua và xóa bỏ sự phân biệt
giả tạo giới hạn tâm linh với giới hạn vật lý. Lại
nữa, chúng trở nên có thể khi sự tự bận rộn, sự chấp
chặt được giảm bớt qua thiền định.
Hiện
tượng Tulku : Khả năng tâm lý chót là nhóm năng lực liên
hệ với hiện tượng Tulku. Như được biết, trong Phật giáo
Tây Tạng có những dòng phái do các sự tái sanh liên tục
: khi một vị Karmapa chết, ngài tái sanh ngay sau đó, được
khám phá qua các phương pháp khác nhau, và tiếp tục dòng phái
cho đến khi chết và rồi lại tái sanh. Liên quan với hiện
tượng Tulku hay Lạt ma tái sanh này, là một lô các khả năng
lạ thường. Các vị Tulku nói về ngày họ sanh, nhờ vào trí
nhớ được tu tập trong đời trước ; họ thường tỏ lộ
một sự hiểu biết khúc chiết về lý thuyết lẫn thực hành
Phật giáo ngay khi còn nhỏ tuổi ; họ có thể nhận ra các
vật sở hữu và bạn bè của các đời trước ; và họ nhớ
một cách chi tiết, rõ ràng các đời trước của mình. Các
khả năng như thế hoàn toàn tự nhiên do hai nguyên nhân : thứ
nhất, tính đồng nhất giữa đời trước và đời này ; thứ
hai, sự trong sáng phi thường của tâm thức cho phép kinh nghiệm
đời trước được khởi lên không mê lầm. Năng lực này
lại cũng giống như những cái khác không phải là một thứ
gì đặc biệt trong các tiểu sử này, mà có một lịch sử
lâu dài từ Phật giáo Ấn Độ từ thời đức Phật.
Những
hiện tượng siêu thường căn cứ trên
mối
tương thông giữa tâm và thế giới bên ngoài
Dầu
các khả năng “huyền thuật” ở trên chắc chắn không quen
thuộc với kinh nghiệm Tây phương chúng ta, nhưng vì chúng
đều có bản chất là tâm lý, có lẽ độc giả Tây phương
có thể chấp nhận khả thể của chúng. Quan niệm về thực
tại của chúng ta, chính vì thế, không loại trừ các kinh
nghiệm như thế, và độc giả có thể nói, có lẽ chúng chính
thức nằm trong các tiểu sử của các vị Karmapa. Nhưng bây
giờ chúng ta đến một loại thứ hai, loại “huyền thuật”
nhiều đối kháng hơn. Những cái này xa cách với quan niệm
của chúng ta hơn. Cái thần lực này có từ mối liên hệ
tiềm ẩn, nội tại giữa tự thân và thế giới bên ngoài,
giữa cách thế con người hiện hữu và hành động với cách
thế xảy ra trong thế giới bên ngoài.
Nền
tảng của loại khả năng thứ hai này là quan niệm của Phật
giáo Tây Tạng rằng thực tại, cả trong lẫn ngoài, căn bản
là tâm linh trong bản chất. Điều này có nghĩa rằng thế
giới thường trực nói với chúng ta. Những biến cố lớn
hoặc nhỏ của đời người, ngay cả rủi may, tất cả đều
có ý nghĩa tiềm ẩn. Đau yếu và khỏe mạnh, trạng thái
gia đình và công việc, sự tiến triển của công tác trách
nhiệm, ngay cả những chuyện đều đặn hằng ngày bề ngoài
vô nghĩa, tất cả đều có ý nghĩa của chúng. Cái gì xảy
ra trong đời sống một người là cực kỳ phù hợp với nhân
cách người ấy và việc làm của người ấy, nhìn từ một
quan điểm tâm linh. Ở mức độ tổng quát, con người càng
cưỡng chống lại sự quán chiếu, sự sáng tỏ và sự “không
an toàn” của tâm rỗng rang, thì người ta càng thấy mình
bị giam nhốt vào một thế giới địa ngục. Ngược lại,
chấp nhận tri thức và trực giác dẫn đến khoáng đạt và
hài hòa. Từ quan điểm Tây Tạng, thực tại biểu hiện chính
nó như một mặt gương chính xác, xứng hợp và đúng lúc
và như một sự thách thức, khuyến khích và phê phán. Người
ta có cơ hội để học hỏi về sự mù lòa và khô cứng của
mình từ bất cứ điều gì xảy ra.
Có
những hệ luận từ quan điểm này. Thứ nhất, sự phân biệt
cứng nhắc mà người Tây phương chúng ta đã làm giữa trong
và ngoài, giữa tự thân và thế giới bên ngoài, không có
chỗ trong cái nhìn Tây Tạng. Thật vậy, thực tại tự thân
và bên ngoài là hai cực của một cuộc đối thoại thường
trực và liên tục. Thứ hai, chúng ta hoàn toàn trách nhiệm
với thế giới của chúng ta. Bất kỳ cái gì xảy ra trong
thế giới của chúng ta đều dính dáng tới chúng ta, và chúng
ta phải chịu trách nhiệm với nó. Bất kỳ cái gì đi vào
trong “dòng sống” của chúng ta, đều trở thành sự biểu
lộ của đời sống chúng ta, và chúng ta bắt buộc phải tiếp
thông với nó. Chúng ta không thể từ chối nó như là lỗi
lầm của một ai khác hay như một biến cố ngẫu nhiên hay
không thích hợp. Thứ ba, chúng ta thực sự ảnh hưởng và
tạo ra thế giới của chúng ta bởi cái chúng ta là và cái
chúng ta làm. Càng chìm trong tối tăm, vô minh và loạn thần,
chúng ta càng gây ra hỗn loạn và khổ đau cho đời sống.
Làm ngược lại, chúng ta tạo ra sự sáng sủa, thoải mái
và an lành.
Người
Tây Tạng, kinh nghiệm thực tại như là tâm linh, thế giới
bên ngoài như là đang sống động với vô vàn ý nghĩa. Thời
kỳ của sự suy đồi về tâm linh và của khổ nạn có những
điềm triệu trên phương diện vật chất. Sự sanh ra của
một vị Lạt ma vĩ đại hay phút giây của sự khám phá tâm
linh có thể được đi kèm bởi hiện tượng khí hậu và không
khí dị thường. Tổng quát, ngoại cảnh được kinh nghiệm
như là đáp ứng lạ lùng đối với sự hiện hữu của con
người trong nó. Khi một vị Lạt ma cao cấp sắp đến một
vùng nào, sự viếng thăm đó có thể được báo trước bằng
những hiện tượng khác lạ. Chỉ sự có mặt của ngài cũng
đủ biến đổi tình huống xấu thành tốt. Và những thời
tai họa, đói kém hay chiến tranh, hoạt động của ngài có
thể thay đổi hẳn dòng chảy của các biến cố. Hoạt động
này được tiến hành không qua kỹ thuật theo nghĩa Tây phương,
mà thông qua sức mạnh tâm linh. Được nghiệm thấy rằng
xung quanh những người rất mực an lành, thế giới cũng thực
sự nghe thấy và đáp lời. Đó là một loại của luận lý
tổng quát ; được nghiên cứu nhiều trong các kỹ thuật và
thủ tục truyền thống, nó nằm trong loại thứ hai của hiện
tượng huyền thuật.
Năng
lực chữa bệnh : Các vị Karmapa được biết đến nhiều
bởi khả năng chữa bệnh, cho những cá nhân hay cho cả một
vùng. Khả năng chữa bệnh này lại được tìm thấy từ thời
đầu của Phật giáo, và chúng được thuật lại như là hoạt
động thường xuyên của chư Phật và Bồ tát. Lý thuyết
truyền thống nói rằng người chữa bệnh ảnh hưởng đến
dòng nghiệp của bệnh nhân bằng cách nhận lấy nghiệp ấy
vào chính mình. Điều này thật rõ ràng khi Mikyo Dorje đã chết
vì bệnh cùi sau khi chữa xong một bệnh dịch cùi.
Di
chuyển hay ảnh hưởng lên đồ vật : Karma Pakshi dịch chuyển
một bức tượng lớn qua năng lực thiền định và Mikyo Dorje
để dấu chân trên đá cũng như làm cho một tượng đá nói
được. Loại khả năng ảnh hưởng lên đồ vật này được
tìm thấy trong Phật giáo từ thời nguyên thủy, và được
diễn tả trong kinh điển Pali là các thành tựu (siddhi) hay
thần thông từ thiền định. Trong các kinh điển Đại thừa,
như Các địa của Bồ tát nói rằng vị Bồ tát với năng
lực của mình làm rung chuyển một tự viện hay một đô thị,
có thể làm lớn hoặc làm nhỏ các đồ vật, và biến đổi
bốn đại lẫn nhau. Tính khả thể của các năng lực này
từ sự kiện rằng cái mà người thường xem như là giới
hạn tự nhiên chỉ căn cứ vào một sự ngộ nhận tâm lý
không được tra xét kỹ và những thành kiến cố định hơn
là vào bản chất của chính thực tại.
Dự
đoán : là một hiện tượng thông thường suốt lịch sử
Tây Tạng, ở trong Kim Cương thừa, trong các thực hành bùa
chú của vùng Trung Á, trong truyền thống bản địa Tây Tạng,
và được tiến hành qua nhiều phương pháp và kỹ thuật khác
nhau. Dự đoán đặt căn bản trên tính bất khả phân của
tâm và cảnh giới bên ngoài, trong đó người ta qua việc “đọc”
các kinh nghiệm và các đồ nghi lễ, có thể biết về tình
thế rộng lớn.
Hiện
tượng đồng thời : Chúng bao gồm mọi hiện tượng không
khí và quang cảnh xung quanh đi cùng với các vị lạt ma cao
cấp. Ví dụ nổi bật nhất là khi Dezhin Shegpa đến thăm vua
Trung Hoa là Yung Lo, một ngôi chùa hiện trên bầu trời, mây
có hình các vị La Hán, mưa có mùi hương, ánh sáng tỏa ra
từ bàn thờ… Nhà vua xúc động đến nỗi ra lệnh cho các
họa sĩ vẽ lại các hiện tượng ấy trên tường. Cũng như
trên, loại hiện tượng này có từ thời đức Thích Ca, mà
cuộc đời ngài thường xuyên đi kèm với các điềm lành
và dấu hiệu. Chúng tái xuất hiện luôn luôn trong Phật giáo
Ấn Độ và Tây Tạng đi cùng với sự sanh ra, sự hoạt động
của những người thành tựu. Tính hợp lý của loại sự
cố này thật giản dị. Vũ trụ là tâm linh tự bản chất
và bất kỳ cái gì có ý nghĩa tâm linh xảy ra đều được
báo trước và biểu lộ bởi thực tại, cả hữu cơ và vô
cơ.
Khả
năng thay đổi khí hậu : Rangjung Rigpe Dorje làm ngưng một cơn
hạn hán bằng cách hỏi xin nước và tự tắm, ngay khi ấy
trời mưa và một vòi nước phun lên từ dưới thùng nước
tắm. Các năng lực như thế có nhiều ở Tây Tạng và Phật
giáo Ấn Độ : Bồ tát có thể biến đất thành nước và
các đại thành tựu giả Mật thừa có quyền năng đối với
các đại. Theo truyền thống Tây Tạng, có thể làm mưa bằng
cách tiếp thông với loài rồng, loài liên hệ đến việc
làm mưa.
Những
ví dụ và bình giải trên chắc chắn không giải thích hết
các hiện tượng thần lực trong các tiểu sử các vị Karmapa.
Điều chúng gợi ra là các giả thuyết và điều kiện nhờ
đó thần lực có thể được quan niệm trong cách hiểu của
Tây Tạng. Như chúng ta đã ghi nhận, “huyền thuật” ở
Tây Tạng không chỉ được sản xuất ra bởi vài hoạt động
nào đó, mà là phụ thuộc vào sự phát triển tâm linh và
trí tuệ.
Những
điều kiện nhờ đó thần lực có thể xảy ra, nói tóm gọn,
thì ít và giản dị. Các thần lực đó không thể xảy ra
chừng nào mà bản ngã, sự tự bận tâm, và tâm thức ý niệm
còn làm lung lạc. Khi, qua thiền định, tâm thức một người
thôi chất đầy với các tư tưởng chấp thủ an toàn, lãnh
địa cá nhân và sự tự bành trướng, lúc ấy một thế giới
rộng rãi bắt đầu mở ra. Đây là thế giới của sự quán
chiếu, sự hiến mình vì lợi lạc người khác, và tính thiêng
liêng của thế giới, như đã được nói đến trong phần
trước. Và đó là thế giới nơi đó mọi loại khả tính
siêu thường có thể xảy đến, cái mà người Tây phương
chúng ta gọi là huyền thuật. Vô ngã, trong ý nghĩa Phật giáo,
là tiền đề cho các huyền thuật được diễn tả trong các
tiểu sử này. Như thế, các hiện tượng ấy có thể hoàn
thành vài chức năng. Chúng giúp đỡ người khác có được
sức khỏe, an bình và thịnh vượng cần thiết để phát triển
tâm linh. Chúng làm người không tin giật mình bởi thực tại
và sức mạnh giác ngộ. Và chúng đặt riêng ra, nhấn mạnh
và vinh danh các vị Lạt ma đã đem truyền thống Phật giáo
đến cho thế hệ của họ. Bởi thế, huyền thuật trong truyền
thống Phật giáo Tây Tạng, là người hầu bàn của giác ngộ.
Kết
kuận
Khi
tiếp cận với các chuyện này, cốt yếu là giữ điều này
trong tâm trí : thế giới mở ra trong các câu chuyện này là
một thế giới truyền thống và là một thế giới thực sự.
Hơn là chúng ta, các bậc thầy truyền thống Tây Tạng đã
phát triển một sự tự tri sâu xa và nhắm đến làm mình
trống không khỏi mọi tiền đề giả thiết và ảo tưởng,
bởi thế họ có thể thấy thế giới tươi mới và rõ ràng.
Khi
chúng ta, những người Tây phương, nhìn vào thế giới truyền
thống Tây Tạng, thường chúng ta bị chấn động ban đầu
bởi sự thiếu thốn các biện luận khúc chiết và sự giản
đơn. Thường thường chúng ta có khuynh hướng bỏ qua một
thế giới truyền thống như thế, vì thấy nó thiếu thông
minh, uyên bác hay kỹ xảo. Tại sao các dân tộc khác như người
Tây Tạng lại bằng lòng với văn hóa, tôn giáo, và cách sống
của họ ? Các ý tưởng như thế đến rất nhanh trong đầu
óc chúng ta, nhưng có lẽ chúng ta tự đánh lừa mình với
chúng. Trong thời đại ngày nay, chúng ta phải xem xét cẩn
thận có hoặc không một lý do nào khác khiến truyền thống
Tây Tạng giữ lại không thay đổi lâu đến thế. Có lẽ
trong nền văn hóa đó, người Tây Tạng tìm thấy một lối
sống đáng giữ gìn và bảo tồn, một lối sống có thể
cho họ các sự thỏa mãn căn bản hơn. Và nó ngụ ý rằng
vượt lên tiện nghi và an ninh vật chất, vượt khỏi sự
thoải mái, tri thức và tài sản, có thể có cái gì khác hơn
nữa, cần thiết một cách căn bản làm cho cuộc đời đáng
sống. Có lẽ chính yếu tố truyền thống này mà Phật giáo
đưa lại – kinh nghiệm và bằng lòng của con người thật
sự sống, một cảm giác tiếp xúc với thực tại vượt khỏi
bệnh loạn thần và sự tự trầm mình, và kinh nghiệm và
sự thưởng thức đời sống trong các khía cạnh tinh túy của
nó. Có lẽ thiền định Phật giáo khiến người Tây Tạng
sống đời họ một cách trọn vẹn, kinh nghiệm được cái
mà đời người thực sự là, và biết làm người có nghĩa
là gì. Có lẽ đây là điều làm nền tảng cho cái thái độ
bằng lòng với cách sống của họ. Trước khi rời bỏ quá
nhanh các tiểu sử này, chúng ta phải dừng trí óc chúng ta
lại, và xem cái “có lẽ” ấy một cách thực sự nghiêm
túc.
Reginald
A. Ray
Viện
Naropa
Boulder,
Colorado
Tháng
12 năm 1979.
NỀN
TẢNG LỊCH SỬ
VÀ
LÝ THUYẾT
Cuốn
sách này chứa đựng tiểu sử của mười sáu hậu thân liên
tiếp nhau của Lạt ma Gyalwa Karmapa Tây Tạng, người cầm đầu
phái Phật giáo Karma Kagyu. Hoạt động và lời dạy của dòng
hóa thân vĩ đại này là quan trọng nhất trong lịch sử Kim
Cương thừa Phật giáo cho đến ngày nay.
Vị
Karmapa hiện tại, Rangjung Rigpe Dorje (1923-) là vị thứ mười
sáu của dòng phái bắt đầu với vị Karmapa thứ nhất, Dusum
Khyenpa (1110-1193). Các Lạt ma Gyalwa Karmapa tiếp tục hiện thân
và hướng dẫn sự truyền thừa của phái Karma Kagyu về thông
điệp của Phật Thích Ca. Các vị đã biểu lộ sự nắm vững
giáo pháp một cách khác nhau như là học giả, thiền giả,
nghệ sĩ và thi sĩ và cuộc đời của các vị là những kiểu
mẫu không tì vết của sự từ bỏ, đại bi và cái thấy
của trí huệ.
Trong
ngôn ngữ tâm linh, những Lạt ma Karmapa hiện thân cho hoạt
động (Skt : karma, TT : phrin-las)(1) của Phật tánh, và như thế
đã được Phật Thích Ca Mâu Ni tiên tri trong Kinh Samadhiraja.
Thêm nữa, hoạt động của các vị Karmapa cũng đã được
vị mahaguru Ấn thế kỷ thứ tám là Padmasam-bhava tiên tri.
Quan
niệm về dòng truyền thừa
Quan
niệm về dòng phái có ý nghĩa lớn để hiểu lịch sử của
các vị Gyalwa Karmapa. Giáo huấn của đức Phật đã được
giữ gìn suốt 2500 năm trong nhiều dòng phái. Đức Phật đã
ban nhiều giáo huấn khác nhau và đôi khi trái nghịch nhau cho
các đệ tử, chúng sau đó được chuyên biệt hóa trong các
giáo trình chỉ dạy riêng biệt. Từ các nhóm tín đồ ban
đầu nổi lên mười tám phái Tiểu thừa. Về sau, truyền
thống Đại thừa của Trung Quán và Duy Thức nở rộ như là
kết quả của sự khai nguồn của hai bậc thầy tối thượng
là Long Thọ và Vô Trước. Tiếp theo, từ thế kỷ thứ năm
trở đi, những dòng khác nhau của Kim Cương thừa hay “Mật
thừa” nổi lên. Bởi thế, khi Phật pháp được truyền vào
Tây Tạng, các phái Tây Tạng phát triển rộng trên nền tảng
của khuôn khổ đã có trước này.
Một
dòng phái hay “truyền thống của pháp” có vài đặc điểm,
gồm một chủ đề tâm linh hay một quan điểm như là Đại
Ấn của Kagyu. Quan kiến này phù hợp với các thực hành đặc
biệt và các thần tượng trưng. Hơn nữa, giáo huấn riêng
biệt này được bảo tồn bởi và xuyên qua một dọc các
bậc thầy thành tựu, các vị hiện thân cho tính cách hiện
thực của giáo huấn. Các dòng phái chính ở Tây Tạng có
một mức độ tổ chức tương đối hợp lý, với nhiều chùa,
tu viện, trường học và các trung tâm thiền định ở đó
người học trò tu hành với một loạt nghiên cứu gồm triết
học, thiền định, nghi thức, nghệ thuật và chiêm tinh.
Cùng
với dòng truyền thừa từ thầy đến trò, cũng có dòng các
Tulku hay “hậu thân của thầy.” Các bậc thầy tái sanh là
các hành giả cao cấp, các vị đã vượt khỏi cái lưới
của bản ngã, tuy nhiên trở lại trong các đời kế tiếp
nhau để thực hiện lời nguyện là làm việc vì chúng sanh.
Vị Karmapa thứ hai, Karma Pakshi là vị Tulku Tây Tạng đầu
tiên được công nhận. Dầu cho các vị thầy tái sanh cũng
được công nhận ở Ấn Độ, ở Tây Tạng sự hiện diện
của các truyền thống phát triển với ảnh hưởng văn hóa
và xã hội lớn lao làm cho các Tulku được công nhận và kéo
dài liên tục trong một lối mà Ấn không thể có. Trong các
dòng phái Tây Tạng, các vị thầy tái sanh được xem như hạt
ngọc của truyền thống và thường là các bậc thầy trưởng,
các yogi và các học giả.
Trong
ngàn năm lịch sử Phật pháp ở Tây Tạng, bốn truyền thống
chính là Nyingma, Sakya, Gelug và Kagyu đã phát triển. Nhiều
dòng nhỏ và tiểu phái cũng khởi sanh, hầu hết đều không
còn như một học phái độc lập.
Truyền
thống Kagyu
Dòng
phái Karma Kagyu là phái lớn nhất trong bốn nhánh nguyên thủy
lớn của truyền thống Dakpo Kagyu, đây là tên được đặt
cho hệ thống các dòng giáo pháp truyền từ Gampopa (1079-1153),
vị học giả uyên thâm và bậc thầy tâm linh mà cuộc đời
đã được đức Thích Ca Mâu Ni tiên tri. Đức Phật nói rằng
một trong các đệ tử của ngài, một vị tăng y sĩ tên là
Kumara, trong đời tương lai cũng sẽ là một vị tăng y sĩ,
nơi một xứ phía bắc gần dòng sông Lohita và sẽ lập nên
một trường phái thiền định. Gampopa một y sĩ giỏi nghề,
trước tiên là một vị tăng Kadampa, nhận được giáo huấn
từ Jayondag, Jayulwa, Geshe Nyugrumpa, Shawo Ganpa và Geshe Chakregongkhapa.
Ngài học về tiệm đạo (TT : lam-rim) của Atisa và giáo huấn
của Dromtonpa. Ngài trở thành vị chưởng môn của dòng Kadampa
và viết cuốn Sự trang hoàng ngọc ngà của giải thoát và
các luận giải về giáo lý Kadampa. Về sau, ngài nhận giáo
pháp Kagyu về Đại Ấn và “Sáu Yoga của Naropa” từ Milarepa.
Sau đó ngài được mệnh danh là “hai dòng trở thành một.”
Gampopa tổ chức các dòng này thành một khối hữu cơ, lấy
tên mình là Dakpo Lharje (y sĩ từ vùng Dakpo) đặt tên cho trường
phái, như thế được biết đến như là Dakpo Kagyu. Sau khi
ngài tịch, “bốn chánh và tám phụ” (dòng) gồm tất cả
truyền thống Dakpo Kagyu, khởi sanh.
Danh
từ Kagyu (TT : bka-brgyud) xuất phát từ một câu dài có nghĩa
là “các dòng của bốn vị được ủy nhiệm.” Các dòng
này là : 1/ dòng về Guhyasamaja, Catuhpitha và các yoga về “huyễn
thân” và “chuyển thức” truyền xuống từ Phật Pháp Thân
Vajradhara, Indrabhuti, Yogini, Visukalpa, Saraha, Nagarjuna và Tilopa.
2/ dòng về Mahamaya (đại huyễn) và “yoga giấc mộng” truyền
xuống từ Phật Pháp Thân Vajradhara, Jnana Dakini, Kukuripa, Caryapa
và Tilopa. 3/ dòng về Cakra-samvara và các tantra “mẹ” khác
và yoga “quang minh” truyền xuống từ Phật Pháp Thân Vajradhara,
Vajrapani, Dombipa, Vinasavajra, Lavapa và Tilopa ; và cuối cùng là
4/ dòng về Hevajra và yoga “nội hỏa” truyền xuống từ
Phật Pháp Thân Vajradhara, Vajrapani, Kamadevavajra, Padmavajra, Dakini
Kalpa Bhadre và Tilopa. Danh từ Kagyu thường dịch giản dị là
“khẩu truyền” nhưng đây chỉ là một cách dịch theo chữ,
gốc chữ và nghĩa chữ. Danh từ này có khi được diễn là
Kargyu (TT : dkar-bryud) do thói quen phái Drukpa Kagyu mặc y phục
vải trắng (TT : dkar) của các yogi truyền thống.
Vị
thầy chính của Gampopa là yogi nổi tiếng và nhà thơ : Milarepa,
đã nhận sự truyền thừa từ Marpa dịch giả, học trò của
Naropa và Maitripa. Như thế, ngài trở thành chưởng môn phái
Kagyu. Dòng truyền trực tiếp của Dakpo Kagyu là như sau :
Phật
Pháp Thân Vajradhara
Tilopa
Naropa
Marpa
Lotsawa
Milarepa
Gampopa
Dòng
truyền gián tiếp rõ ràng liên quan đến Đại Ấn được
diễn tả như sau :
Phật
Pháp Thân Vajradhara
Ratnamati
Saraha
Nagarjuna
Các thành tựu giả Ấn Độ
Savaripa
Maitripa
Marpa
Lotsawa
Milarepa
Gampopa
Bốn
dòng chánh của Dakpo Kagyu nảy sanh với các đệ tử hay từ
cháu của Gampopa là Dakpo Gomtsul (1116-1169) : 1/ Kamtshang hay Karma
Kagyu được lập ra bởi Karmapa Dusum Khyenpa (1110-1193), ngài
học với Gampopa. 2/ Tsalpa Kagyu lập ra bởi Zhang Yudrakpa Tsondru
Drakpa (1123-1193), một đệ tử của Dakpo Gomtsul. 3/ Baram Kagyu
lập ra bởi Baram Darma Wangchuk, một đệ tử của Gampopa. 4/
Phagmo Drupa Kagyu lập ra bởi đệ tử của Gampopa là Phagmo Dru
Dorje Gyalpo (1110-1170) Phái Phagmo Drupa Kagyu sanh ra “tám dòng
phụ” là : Drigung, Taglung, Trophu, Drukpa, Mart-shang, Yelpa, Shugseb
và Yamzang.
Dòng
Drukpa, Drigung và Taglung còn tồn tại đến ngày nay, với Drukpa
là lớn nhất, tiếp theo là Drigung.
Các
dòng phái khác
Phái
Karma Kagyu không thể xem là cô lập với các truyền thống
Phật giáo khác của Tây Tạng, trên chúng nó có một ảnh
hưởng đáng kể và ngược lại từ chúng, nó cũng nhận được
nhiều giáo huấn. Truyền thống đầu tiên của Tây Tạng là
Nyingma hay “Cổ Phái,” phát khởi từ công việc truyền giáo
của các vị thầy thế kỷ thứ tám là Guru Padmasambhava, vua
Trisong Detsun và Bồ tát Santarakshita. Các phái Nyingmapa ban đầu
gồm cả hành giả tu sĩ lẫn cư sĩ, họ theo giáo lý kinh và
mantra của thời kỳ dịch thuật ban đầu. Then chốt giáo huấn
của Nyingma là Maha Ati hay là “Đại Toàn Thiện,” được
truyền vào Tây Tạng thế kỷ thứ tám bởi học giả và thiền
giả Vimalamitra. Giáo huấn Maha Ati chỉ thẳng Trí Huệ Toàn
Thiện tự nhiên, và nó có thể xem là giáo huấn tối thượng
của Phật đạo. Tantra chính của Nyingma là Guhyagarbha hay “Mật
Yếu.” Có ba dòng có thể phân biệt trong trường phái Nyingma
: “dòng gián tiếp” hay “khẩu truyền,” “dòng trực tiếp”
các kho tàng pháp bảo hay “bản văn được cất dấu” và
dòng “thị kiến sâu xa.” Các vị thầy vĩ đại nhất của
truyền thống Nyingma gồm bậc toàn giác Longchen Rabjampa (1308-1363),
Jigme Lingpa (1729-1797) và Ju Mipham (1848-1914). Các vị trưởng
phái hiện giờ của trường phái Nyingma là Minling Trichen và
Dudjom Jigdral Yeshe Dorje.
Những
trường phái về sau này ở Tây Tạng đều thuộc về thời
kỳ “tân dịch thuật,” bắt đầu trong thế kỷ thứ mười
khi Rinchen Zangpo (958-1051) và các học giả khác tìm ra cách
dịch kinh điển mới, nhấn mạnh sự chính xác của ngữ nguyên
thay vì lối dịch tự do của trường phái dịch thuật cũ.
Truyền thống Sakya và Kagyu, cả hai khởi phát từ thế kỷ
thứ mười một, đều đặt căn cứ trên giáo trình tantric
mới.
Tu
viện Sakya, về sau trở thành bản địa chính của phái Sakyapa,
được xây năm 1073 bởi Konchog Gyalpo thuộc dòng họ Khon. Dòng
họ có ảnh hưởng lớn này trước kia thuộc về phái Nyingmapa,
nhưng Konchog Gyalpo học các tantra mới với Drogmi Lotsawa và
pháp sư Ấn Độ Gayadhara. Truyền thống Sakya được định
hình bởi người con của Konchog Gyalpo là Sachen Kunga Nyingpo
(1092-1158) và bốn trong “năm đại sư” là Sonam Tsemo (1142-1182),
Jetsun Drakpa Gyaltsen (1147-1216), Sakya Pandita (1182-1251) và Chogyal
Phakpa (1235-1280). Trường phái Sakya là đặc thù trong giáo huấn
kết hợp giữa sutra (kinh) và mantra về lam dre (TT : lam.’bras)
hay giáo trình “Đạo và Quả,” được phát triển bởi thành
tựu giả Ấn Độ là Virupa. Tantra chính của phái Sakya là
Hevajra và các thần chính là Hevajra và Vajrayogini. Ba tiểu phái
xuất hiện là : Sakyapa, Ngorpa và Tsharpa, tuy nhiên chúng chỉ
khác nhau về nghi lễ. Trưởng phái hiện thời của truyền
thống Sakya là đức Sakya Tridzin (1945-), một hóa thân của
đức Văn Thù Sư Lợi, vị đại Bồ tát của trí huệ.
Phái
Kadam cũng bắt đầu trong thế kỷ thứ mười một nhưng nó
không còn tồn tại như một trường phái độc lập, giáo
huấn của nó đã bị thu hút vào các trường phái khác. Phái
Kadam phát triển từ hoạt động và giáo huấn của vị thầy
Ấn Độ Atisa Dipankara Srijnana (979-1053) ngài sống mười hai
năm cuối cùng của đời ngài ở Tây Tạng. Atisa rất nhấn
mạnh đến tiệm đạo, con đường tiệm tiến của cả hai
thứ kinh và tantra như tiền đề căn bản cho sự tiến bộ
tâm linh thực sự. Với vài đệ tử thượng căn ngài truyền
giáo lý đặc biệt sâu xa “chuyển hóa tư tưởng” (TT :
blo-sbyong).
Chính
đệ tử của ngài là Dromton đã thực sự tổ chức phái Kadam
như một trường phái. Các vị Kadampa thường xiển dương
triết học Prasangika Madhyamika (Trung Quán phái Prasangika) về
Tánh Không như sự phủ định của mọi xác quyết.
Phái
Gelug được lập nên bởi đại pháp sư Tây Tạng Tsong-khapa
Lozang Dragpa (1367-1419). Thời trẻ, Tsongkhapa học với các vị
thầy của tất cả các dòng phái chính và biểu lộ những
tính cách hoành tráng học giả. Ngài quy tụ nhiều đệ tử
và từ họ có ra phái Gelug. Mối quan tâm chính của phái Gelug
là sự kiên định vào giới luật và con đường tiệm tiến
đến giác ngộ thừa hưởng từ Atisa. Sự nhấn mạnh này
trên giáo huấn của Atisa khiến cho phái Gelug đôi khi được
xem như một phái Kadam mới. Quan điểm triết học riêng là
Trung Quán Pra-sangika như giải thích bởi Tsongkhapa. Về Tantra,
họ nhấn mạnh đến các tantra Guhyasamaja, Vajrabhairava và Cakra-samvara.
Truyền thống Gelugpa được trang hoàng bằng công trình của
nhiều học giả sáng chói như Khedrupje (1385-1438) và Konchog
Jigme Wangpo (1728-1781). Trưởng phái hiện nay là đức Ling Rinpoche,
thầy dạy của đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn, Tenzin
Gyatso (1935-), hiện thân của lòng Đại Bi của đức Quán Thế
Âm.
Thêm
vào các dòng chính này là sự đóng góp của nhiều dòng phụ
cho Phật pháp ở Tây Tạng. Những phụ phái quan trọng là
Shijay và Chod Yul của vị thành tựu Ấn Độ là Dampa Sangye
và đệ tử, nữ thiền giả nổi tiếng Machig Labdronma (1055-1145)
; dòng Urgyen Nyendrup của thành tựu giả Urgyenpa Rinchen Pal (1230-1309),
dòng này rất ảnh hưởng đối với phái Drugpa và Kamtshang
Kagyu và sau đó hòa vào hai phái này ; và phái Shangpa, thành
lập bởi Khyungpo Naljor (990-1140) người kế thừa Đại Ấn
từ các dakini, Niguma (phối ngẫu của Naropa) và Sukhasiddhi.
Một
trong những phái gây nhiều tranh luận nhất là trường phái
Jonang thành lập bởi triết gia uyên bác Dolpopa Sherab Gyaltshan
(1292-1361). Truyền thốmg Jonang chủ trương giáo lý Pháp không.
Quan điểm này xuất phát từ Utta-ratantra của Maitreya, xác
định rằng thực tại rốt ráo, trống rỗng mọi tỳ vết,
mọi bôi nhọ, thì thực hữu. Các nhà Jonangpa sau đó bị nhiều
học giả Prasangika công kích, đặc biệt là các nhà phái Gelugpa
trong khoảng thời gian đức Đạt Lai Lạt Ma thứ năm (1615-1680)
và từ đó không còn hiện hữu như một phái độc lập. Tuy
nhiên, giáo lý của họ còn duy trì và truyền bá bởi vài
khuôn mặt trong phái Kagyu, Nyingma và Sakya, như là Karmapa Rangjung
Dorje, Longchenpa và Sakya Chokden.
Dòng
phái các vị Karmapa
Trường
phái Karma Kagyu có một lịch sử lâu dài và rực rỡ, nó là
phái Kagyu tối cao dưới sự lãnh đạo của các vị Gyalwa
Karmapa. Nó trải rộng từ Ladakh đến Trung Hoa, và giờ đây
ở Tây phương. Dòng Mũ Đen của các vị Karmapa được nâng
đỡ và duy trì bởi ba dòng tái sanh chính của phái : Mũ Đỏ
Shamar, Situ và Gyaltshap Tulku. Thêm vào đó, nhiều học giả
khác, các thiền giả yogi và các nhà thấu thị đã góp phần
vào sự rực rỡ của truyền thống. Đáng nhớ giữa những
vị này là các tulku Jamgon Kongtrul và Pawo.
Truyền
thống Kamtshang Kagyu được lập nên bởi vị Karmapa thứ nhất,
Dusum Khyenpa, được truyền thừa dòng Kagyu từ Gampopa. Sau khi
đạt đến giác ngộ, ngài được các vị kiệt xuất đương
thời xem là “Con Người của Hoạt Động của Phật” (Karma-pa)
được tiên tri bởi đức Phật trong kinh Sama-dhiraja và cũng
là hiện thân của đức Quán Thế Âm, hình thái Đại Bi của
Phật tánh. Dusum Khyenpa về sau lập ra ba trung tâm chính của
phái Karma Kagyu ở Todlung Tsurphu gần Lhasa, Karma Gon ở tỉnh
Kham và Kampo Nenang cũng ở Kham, và như thế tổ chức Karma
Kagyu như một trường phái riêng biệt.
Chính
trong thời ngài Karmapa thứ hai, Karma Pakshi (1204-1283) mà sự
truyền rộng phái Kamtshang bắt đầu. Nổi tiếng là một thành
tựu giả, Karma Pakshi được mời đến Mông Cổ bởi hoàng
tử Kublai, nơi đây ngài trở thành guru của Mongka Khan, và
sau đó, dầu cho không phải không có những vấn đề lúc ban
đầu, là guru của người kế vị là Kublai Khan. Khi ở Trung
Hoa, trong một vài dịp Karma Pakshi đã biểu lộ các năng lực
thần thông để phụ trợ cho công việc hoằng pháp. Sự biểu
lộ của hoạt động thần thông của Karma Pakshi và các vị
Karmapa khác là phương tiện hiển xuất của tự do tối hậu
của giác ngộ. Vượt khỏi những giới hạn của nhận thức
nhị nguyên, hoạt động từ giác ngộ mặc lấy hình thức
của thần thông. Bản chất của thần thông bên ngoài phát
xuất từ sự đáp ứng tuyệt đối tự nhiên đối với nhu
cầu của chúng sanh và hoàn cảnh đặc biệt gặp phải.
Vị
Karmapa thứ ba, Rangjung Dorje (1284-1339), ngài là một bậc thầy
hoàn hảo cả lý thuyết lẫn thực hành, là đặc biệt quan
trọng do chỗ ngài đã dung hợp hai dòng vốn riêng rẽ trước
kia là Đại Ấn của Kagyu và Maha Ati (Đại Toàn Thiện) của
Nyingma. Ngài nhận giáo huấn “tự tính bổn nguyên” của
Đại Toàn Thiện từ Rigdzin Kumararaja (1266-1343), vị này cũng
là thầy của Longchenpa. Thêm vào đó, Rangjung Dorje soạn ra
luận văn cực kỳ quan trọng và gây ảnh hưởng Zabmo Nangdon,
đề cập đến những giáo huấn tinh tế của tantra yoga tối
thượng.
Giống
như hai vị tiền bối và các vị tiếp nối mình cho đến
vị Karmapa thứ mười, Karmapa thứ năm Dezhin Shegpa (1384-1415)
là guru của vua Trung Hoa. Trong một buổi lễ đặc biệt do
ngài cử hành, vua Yung Lo thấy hình của vương miện kim cương
đen trên đầu ngài. Vương miện kim cương là biểu tượng
của đức đại bi của Bồ tát Quán Thế Âm, luôn luôn hiện
diện trên đầu của mọi hậu thân Karmapa. Vị Karmapa đầu
tiên, Dusum Khyenpa, đã được các dakini cúng dường vương
miện trong giây phút ngài giác ngộ. Hình thể tâm linh của
vương miện được nói là dệt bằng tóc của một trăm ngàn
dakini. Khi, bằng sự kính ngưỡng với Dezhin Shegpa, Yung Lo thấy
được vương miện kim cương, vua quyết định phải làm một
bản sao, trang hoàng bằng ngọc quý và vàng, để cho mọi người
có thể phát tâm khi thấy thực chất tính tâm linh của Karmapa.
Khi nhận phiên bản này, Dezhin Shegpa đã làm một buổi lễ
trong ấy ngài đội vương miện kim cương hiện thân của lòng
bi mẫn của đức Quán Âm. Các vị Karmapa nối tiếp đều
theo tục lệ và lễ nghi này, nó có sức mạnh truyền thông
nguồn mạch đạo lực không cùng của dòng Karmapa, và đã
trở thành một trong những mô thức thiêng liêng và đặc biệt
nhất trong hoạt động của các vị Karmapa.
Vị
Karmapa thứ tám, Mikyo Dorje (1507-1554) là một học giả sáng
chói và là một tác giả sung mãn. Ngài tạo ra hơn ba mươi
luận văn, gồm công trình tâm lý học a tỳ đạt ma, triết
học Trung Quán, Bát nhã ba la mật, luật bộ, Nhân minh học,
Đại Ấn, tantra, văn phạm Sanskrit, nghệ thuật và thơ ca.
Trong
đời vị Karmapa thứ mười, Choying Dorje (1604-1674) dòng Karma
Kagyu bị kéo vào chính trị một cách không tránh khỏi(2) bởi
vì mối ác cảm đối với phái Gelugpa do ảnh hưởng của
các “ủng hộ viên” cư sĩ như là Desi Karma Tenkyong, vua của
tỉnh Tsang.
Vị
Karmapa thứ mười bốn, Thegchog Dorje (1798-1868) có một vai trò
chính yếu trong sự phục hưng tôn giáo và văn hóa thế kỷ
thứ mười chín cùng với phong trào Rime (không biên giới).
Các đệ tử của ngài gồm có ba khuôn mặt chính của Rime
: Chogyur Dechen Lingpa (1829-1870) Jamyang Khyentse Wangpo (1820-1892)
và Jamgon Kongtrul Lodro Thaye (1811-1899).
Vị
Karmapa hiện tại, Rangjung Rigpe Dorje (1923-) là vị thứ mười
sáu của dòng. Ngài đã thống lãnh trường phái Karma Kagyu
qua giai đoạn này của sự thay đổi lớn lao cho chính trường
phái lẫn cho cả Tây Tạng. Được huấn luyện bởi các vị
thầy lãnh đạo phái Kagyu và các truyền thống khác, ngài
đã biểu hiện những tính cách phi thường của Đại Bi và
Trí Huệ tự nhiên của các vị Gyalwa Karmapa. Sau cuộc phế
bỏ văn hóa Phật giáo ở Tây Tạng năm 1959, ngài đem các
đệ tử lưu vong qua Sikkim ở đó ngài lập một bổn tự mới
ở Rumtek. Ngài đã cố gắng không ngừng để duy trì ngọn
đèn chánh pháp Kagyu và trong những năm gần đây đã hai lần
viếng thăm Tây phương theo lời mời của các đệ tử truyền
giáo ở ngoài. Được khơi nguồn cảm hứng bởi sự việc
này mà ngày nay truyền thống Karma Kagyu đã hiện diện trên
khắp thế giới.
Giáo
huấn của truyền thống Karma Kagyu
Chủ
đề chính của giáo huấn Kagyu là Mahamudra (Đại Ấn), sự
chứng ngộ bản chất thật sự của tâm và sự chiếu diệu
của nó trong Trí Huệ và Đại Bi. Nó là nền tảng, con đường
và mục đích của tâm linh. Dingo Khyentse Rinpoche ví dụ Đại
Ấn với một vị vua đóng khuôn dấu của mình lên tài liệu
và như thế là dấu hiệu sự xác nhận của mình. Tương tự,
hành giả Đại Ấn chứng ngộ rằng Phật tánh là thực tại
nền tảng của mọi hiện tượng, và bất cứ cái gì khởi
lên đều được đóng dấu (Skt : mudra) bằng tánh viên mãn
đồng khởi (Skt : sahaja) bổn nguyên.
Giáo
huấn và phương pháp của con đường tâm linh Kagyu thoát thai
từ sự kết hợp của Gampopa giữa “tiệm đạo” phái Kadam
và tantra của các đại thành tựu giả. Nền tảng triết lý
của nó là Uttaratantra của Maitreya và luận giải về sách
ấy của Vô Trước. Chủ đề Đại Ấn gồm trọn mọi đa
thù bề ngoài của các nguyên tắc và thực hành này.
Ở
trong sanh tử luân hồi, Phật tánh chỉ hiện hữu như một
tiềm năng ẩn bị che mờ bởi vô minh và phiền não nhiễm
ô. Con đường tâm linh là sự giải phóng Phật tánh này và
mục đích là sự viên mãn của nó như là Pháp thân. Như Gampopa
nói trong Sự trang hoàng ngọc ngà của giải thoát : Cái nguyên
do chính là Phật tánh. Con đường chuyển hóa này có ba cấp
bậc chính hay ba thừa : Tiểu thừa, Đại thừa và Kim Cương
thừa. Đại Ấn là cực điểm hay vương miện của con đường.
Tiểu
thừa
Điểm
bắt đầu của con đường tâm linh là Tiểu thừa. Tiểu thừa
nhắm vào sự mê lầm thấm khắp các mặt của kinh nghiệm
chúng ta, do vì bám chấp vào vọng tưởng về một bản ngã
thường còn và độc lập. Sự nhận biết này phát xuất từ
lời tuyên bố của đức Phật về Tứ Đế : 1/ Khổ. 2/ Nguyên
nhân của khổ : chấp ngã. 3/ Giải thoát. 4/ Nguyên nhân của
giải thoát, tức là con đường tám lối (Bát chánh đạo).
Giáo huấn này cung cấp sự chẩn đoán căn bệnh của chúng
ta, nguyên nhân bệnh và phương pháp để lành bệnh. Bằng
cách áp dụng sự chính xác đơn giản và phẩm cách của Tiểu
thừa trong thiền định và cuộc sống hằng ngày, hành giả
phát triển một sự hiểu biết nó xem thực tại là vô thường,
khổ và vô ngã. Từ hiểu biết đó, dẫn đến một sự từ
bỏ tự nhiên, không giả tạo. Đây là quan niệm then chốt
của con đường Tiểu thừa.
Trong
truyền thống Kagyu, một số lời dạy được biết như “bốn
tưởng niệm xoay tâm về với Pháp” được dùng như phương
tiện đặc biệt hữu hiệu để thực hiện Tứ Đế. Bốn
tưởng niệm là : 1/ đời người đáng quý 2/ cái chết và
sự vô thường 3/ nhân và quả 4/ lỗi lầm của sanh tử. Chúng
được kế tục từ truyền thống của Atisa và được Gampopa
và các bậc thầy Kagyu nối tiếp nhau nghiên cứu.
Tưởng
niệm thứ nhất là sự suy nghĩ về tình trạng độc nhất
tích cực của cuộc đời quý giá với sự tự do và khả
năng của nó. Trong các loại đời sống, đời con người là
cực kỳ hiếm vì tương đối được tự do hơn, ít bị giới
hạn, ràng buộc. Hơn nữa, đời người trở nên quý giá qua
sự tiếp xúc với Phật pháp. Một cơ may như thế tạo thành
sự quý giá cho đời người, là nền tảng độc nhất cho
nỗ lực tâm linh.
Tưởng
niệm thứ hai là nghĩ về sự vô thường của mọi hiện tượng.
Như đức Phật đã nói : “cuối cùng của mọi gặp gỡ là
chia lìa.” Bản ngã rút ra ý nghĩa về sự an toàn của nó
từ ý niệm thường còn của riêng nó, từ những mối tương
giao và sở hữu của nó. Thực hiện vô thường trong thiền
định và cuộc sống hằng ngày cắt đứt sự lười biếng
và tự thỏa mãn của cái tâm loạn thần và chuẩn bị cho
hành giả tiến bộ trên đường đạo.
Thứ
ba là suy nghĩ về nhân và quả. Hành động quá khứ của thân
khẩu ý đem đến những kết quả hiện tại. Tình thế hiện
tại cung cấp cho một số lựa chọn để hành động, từ
đó tương lai được phát triển. Tổng quát, hành động được
chia thành ba phạm trù : thiện, bất thiện và vô ký, chúng
sẽ có kết quả tương ứng thiện, bất thiện, vô ký trong
tình huống và hoàn cảnh sẽ đến. Tưởng niệm thứ ba này
giúp cho hành giả biết trách nhiệm về mọi mặt của đời
mình và triển khai một tâm rộng mở thích hợp cho phát triển
tâm linh.
Thứ
tư là tưởng niệm về các lỗi lầm hiểm nguy của sanh tử
luân hồi. Mọi chúng sanh đều bị nhốt trong lưới khổ đau.
Sanh tử là thù nghịch, hấp dẫn và làm thất vọng nhưng
trong nó không có sự thỏa mãn tối hậu hay sự an toàn cho
bản ngã. Hiểu biết điều này đem lại một sự chuyển hướng
khỏi sanh tử và mong mỏi con đường giải thoát, biểu hiện
là Tam Bảo, Phật, Pháp, Tăng.
Đại
thừa
Sự
thực hành Tiểu thừa đưa tới sự xa lìa khỏi sự trụ bám
vào bản ngã, một sự rỗng rang và khoáng đạt tự nhiên
phát triển. Đây là bình minh của con đường Đại thừa.
Ý niệm then chốt của nó là Bodhicitta, Bồ đề tâm, sự kết
hợp của Trí Huệ và Đại Bi khởi từ tính trùm khắp của
Phật tánh. Trí huệ cốt ở thâm nhập trực tiếp vào Tánh
Không của ngã và pháp. Đại bi cốt ở sự đáp ứng với
nhu cầu của người khác.
Truyền
thống Kagyu có nhiều giáo huấn cho cả Bồ đề tâm tương
đối và tuyệt đối. Đặc biệt nó thừa hưởng các giáo
huấn về Bồ đề tâm tương đối từ trường phái Kadam,
như là “bảy bậc chuyển hóa tư tưởng” nổi tiếng qua
đó người ta phát triển sự vô bố úy của Bồ đề tâm
khi đổi phận mình để lấy phận người.
Thực
hành Bồ đề tâm tối hậu là sự thiền định về Tánh Không,
trong đó hành giả thấy tánh Không như hư không của thực
tại, vượt ngoài mọi đối đãi có không. Từ giáo huấn
Trung Quán của pháp sư Long Thọ và giáo huấn của các thành
tựu giả, Gampopa đem lại nhiều giáo huấn về thiền định
Bồ đề tâm tối hậu. Ngài mệnh danh sự tiếp cận này là
truyền thống kinh điển của Mahamudra.
Sự
gợi hứng toàn năng của Bồ đề tâm lan khắp mọi phương
diện của đời sống như là hoạt động của sáu ba la mật
: cho, đạo đức, nhẫn nhục, quyết chí, thiền định và
trí huệ.
Kim
cương thừa
Kim
Cương thừa hay là “thừa tantra” là mức độ cao nhất
của con đường Phật. Trong các thừa thấp, hành giả theo
một con đường dẫn đến giác ngộ ở tương lai. Tuy nhiên,
trong Kim Cương thừa hành giả xem chính mục đích như là con
đường. Sự rộng mở của Đại thừa làm nảy sanh một tri
kiến Kim Cương thừa về vũ trụ như là trò chơi biến hóa
của các năng lực Phật kết bện nhau, bởi thế, ở mức
độ tantra, thân, miệng và tâm chuyển hóa thành thân, miệng
và tâm của Phật. Ý niệm then chốt của Kim Cương thừa là
samaya, nó là sự ủy thác của hành giả cho tính thanh tịnh
hoàn toàn của quan kiến Kim Cương thừa.
Trong
Kim Cương thừa, Phật tánh biểu lộ trực tiếp trong ba cội
gốc : vị guru, hóa thần (devata, TT : yi-dam), dakini và hộ pháp
(dharmapala). Ba cội gốc ấy là ba phương diện của Tam Bảo.
Bậc guru là cội gốc của sự gia trì (adhisthana) và ngài là
người vén mở sự hiện diện của Phật trong tâm chúng ta.
Hóa thần (Devata) là cội gốc của sự thành tựu (siddhi),
vì Phật tánh biểu hiện trong vô số hình thức để làm lợi
lạc cho mọi tính cách, xu hướng khác nhau. Bởi thế nhà yogi
làm các thực hành tâm linh về chư thần, họ là hiện thân
cho sự chuyển hóa thành giác ngộ của xu hướng riêng của
thiền giả. Các dakini (người du hành trên trời) và hộ pháp
cùng gồm trong cội gốc của hoạt động (Skt : karma). Các
dakini hiện thân cho năng lực nữ tính của giác ngộ như trong
những tình huống để hướng dẫn và lập lại quân bình
cho nhà yogi. Các hộ pháp, cả hai phương diện nam và nữ,
hoạt động trong cùng một cách thức để giữ gìn sự phát
triển tâm linh của yogi và giữ gìn các ban phước thu thập
được của các dòng phái Phật pháp khác nhau.
Trong
truyền thống Kagyu, vị guru chính là Gyalwa Karmapa, ngài không
tách lìa với Vajradhara. Hóa thần chính yếu là Vajravarahi,
mẹ của tất cả chư Phật, và hộ pháp chính là Mahakala Kim-Cương-áo-choàng-đen
và Mahakali, Bà Hoàng Tự Sanh.
Thực
hành tantra chuyển hóa thân khẩu tâm thành ba thân của Phật
tánh, Pháp Thân, Báo Thân và Hóa Thân. Các tantra gồm các thực
hành liên hệ đến mỗi một của ba phương diện này. Thực
hành thuộc về thân gồm lễ lạy, dâng cúng, thiền đi bộ
và các tư thế ngồi thiền. Thực hành về khẩu gồm thần
chú và lễ nghi tụng niệm. Thực hành về tâm gồm quán tưởng
trong đó tri kiến nhị nguyên chủ thể và khách thể được
thanh tịnh hóa bằng sự tạo ra hóa thần và thế giới chung
quanh của thần. Phương diện khác của Kagyu là thiền định
vô tướng, tức là thiền định Đại Ấn.
Trong
trường phái Kagyu, Gelug và Sakya, chúng đều thuộc về truyền
thống “tantra mới”, có bốn cấp của tantra, trong khi trong
“truyền thống cũ” có sáu cấp. Bốn bực thứ tự là kriya,
upa, yoga và anuttarayoga. Các giáo trình khác nhau của tantra,
luận giải và tu tập được ấn định cho một cái thích
ứng trong bốn cấp, về phương diện mức độ năng lực tâm
linh của chúng.
Kriya
tantra là cấp đầu tiên của Kim Cương thừa, trong ấy sự
nhấn mạnh nằm ở sự trong sạch bên ngoài và gây sợ của
năng lực Phật. Nhà Yogi liên hệ với hóa thần như người
giúp việc với chủ và chú ý nhiều đến hoạt động lễ
nghi và sự thanh tịnh. Quán Thế Âm là một kiểu mẫu của
hóa thần Kriya tantra.
Bậc
thứ hai của tantra là upa hay carya. Ở đây nhà yogi cảm nhận
năng lực Phật ở bên ngoài lẫn bên trong. Điều này được
so sánh với sự liên hệ giữa hai người bạn. Ít nhấn mạnh
đến hoạt động nghi thức trong mức độ này. Một ví dụ
của hóa thần thuộc về upa tantra là Tỳ Lô Giá Na.
Yoga
tantra là cực điểm của kriya và upa tantra. Ở đây nhà yogin
đồng thể với năng lực Phật, bởi thế ông thiền định
về chính ông như đồng nhất với hóa thần. Hoạt động
nghi lễ chỉ nhấn mạnh ít. Giáo trình Sarvavid (TT : kun-rig)
là một ví dụ của yoga tantra.
Bậc
cao nhất của tantra là anuttarayoga, vô thượng du già, nó khác
một cách căn bản với ba bực thấp ở chỗ nhấn mạnh đến
bản tính vô thượng, toàn khắp của năng lực Phật. Anuttara
chia làm hai bậc : giai đoạn “phát triển” (TT : bskye-rim)
và giai đoạn “viên mãn” (TT : rdzogs-rim). Trong giai đoạn
phát triển, nhà yogi đồng hóa chính mình và quang cảnh xung
quanh mình với hình thể linh thiêng của hóa thần và cõi giới
của hóa thần. Giai đoạn viên mãn hoàn thiện cuộc chuyển
hóa và chính nó cũng có hai phương diện, một dựa trên hình
tướng và một dựa trên vô tướng. Phương diện hình tướng
là yoga về kinh mạch (nadi) ; hơi thở, khí (prana) và chủng
tử (bindu). Phương diện vô tướng là thiền định về sự
đồng khởi của quang minh và Tánh Không của trí huệ tự
nhiên.
Trong
truyền thống Kagyu các vị hóa thần thuộc về anuttara là
Vajravarahi và nhóm năm thần : Cakrasamvara, Vajrabhairava, Hevajra,
Mahamaya và Guhyasamaja. Năm
vị
này tạo thành mạn đà la Heruka ngũ phần của vô thượng
du già. Vajravarahi vừa là mẹ vừa là phối ngẫu của tất
cả Heruka.
Đại
Ấn
Đại
Ấn vừa là cực điểm của Kim Cương thừa vừa là sợi dây
chạy xuyên suốt con đường tâm linh của Kagyu. Dầu về căn
bản nó thoát ngoài mọi sự đóng khung, nhưng người ta có
thể xem nó có ba phương diện : kiến (TT : lta-ba), thiền (TT
: bsgom-pa) và hành (TT : Spyod-pa). Tuy nhiên ba phạm trù này chỉ
là các phân biệt bên ngoài, vì thực ra chúng nảy sanh từ
sự nguyên thể của Đại Ấn.
Kiến
: Bản tính chân thật của tâm là sự hòa hợp nguyên thủy
của Quang Minh và Tánh Không. Như thế, nó không sanh và không
diệt. Tuy nhiên, do sự sanh khởi của vô minh, cái thanh tịnh
tự nhiên bị che ám và hình thái của sanh tử với năm nhiễm
ô, năm uẩn của nó hiện khởi. Tuy thế, thực tại nền tảng
của sanh tử và Niết Bàn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của
sự thanh tịnh bản nhiên của tâm, có tên là Phật tánh. Như
vị đại thành tựu giả Saraha nói trong sách Dân Doha : “Tâm
là chủng tử độc nhất của mọi sự. Từ nó mà thế giới
biến chuyển và Niết Bàn sanh khởi.”
Trong
bản tánh rỗng rang của cái kiến này, bất cứ cái gì khởi
ra đều tự nó là giải thoát, bởi vì bất cứ gì sanh khởi
đều được đóng dấu ấn bởi “sự đồng khởi.” Tính
nhị nguyên bề ngoài của chủ thể và đối tượng được
hòa giải trong bản tánh không sanh không diệt của tâm. Pháp
tánh của tâm là trung đạo của hai cực đoan là xác nhận
và phủ nhận, có và không. Như Tipola tuyên bố : “tâm Đại
Ấn không trụ ở đâu cả.” Mọi hiện tượng sanh ra và
biến mất trong không gian của tâm, tự nó là trống không
muôn thuở.
Thiền
: Trái tim của Đại Ấn là kinh nghiệm không có nỗ lực,
không gia thêm vọng tưởng của tâm. Khi sự che mờ như các
đám mây tan biến, Pháp thân vô sanh vô diệt hiện bày. Karmapa
Rangjung Dorje nói :
Nền
tảng của sự tịnh hóa là Minh và Không đồng khởi.
Người
tịnh hóa vajra yoga của Đại Ấn.
Cái
được tịnh hóa là vọng tưởng và nhiễm ô sát na.
Nguyện
quả thanh tịnh của Pháp thân vô nhiễm được chứng thấy.
Sự
chứng ngộ tối hậu này thường đạt được, trừ người
đặc biệt thiện căn, như là kết quả của sự tu hành vừa
cả hai thứ, bình thường (TT : thun-mong) và đặc biệt (TT
: thun-mong-ma-yin-pa) của Đại Ấn.
Như
mọi giáo trình chỉ dạy, để bắt đầu tu hành Đại Ấn,
nhà yogi phải nhận cái lễ truyền pháp (TT : dbang) thích hợp,
truyền bản văn (TT : lung) và giáo huấn (TT : khrid) từ vị
guru. Đặc biệt hành giả phải nhận được lễ truyền pháp
thứ tư tức là lễ truyền pháp “trí giác” trong đó sự
gặp gỡ của hai tâm Thầy và trò xảy ra và bản tánh của
tâm được chỉ bày, khai thị rõ ràng.
Sự
chuẩn bị cho cả hai thứ Đại Ấn bình thường và đặc
biệt là sự thực hành bốn pháp tiên khởi. Bốn pháp tiên
khởi là : 1/ Quy y và Bồ đề tâm hòa hợp với lễ lạy.
2/ Thiền định và trì chú về Vajrasattva. 3/ Dâng cúng mạn
đà la. 4/ Guru yoga. Bằng sự hoàn tất mỗi thứ một trăm
ngàn lần, hành giả đã chín cho sự thực hành chính.
Trong
Karma Kagyu, các guru yoga, đặc biệt là với Karmapa thứ tám
Mikyo Dorje và Karmapa thứ hai Karma Pakshi, được cử hành để
nhận sự gia trì của dòng Karmapa.
Thực
hành bình thường Đại Ấn thực ra là thiền định vô tướng.
Trong mức độ đầu của Chỉ, hành giả trụ trong sự nhất
tâm không cố gắng. Khi giai đoạn Chỉ này hoàn thành, vị
guru nhập môn cho học trò về bản tánh của tự tâm học
trò (TT : ngo-bo-sprod-pa). Quán khởi lên, trong đó bản tánh
của trí giác được hiển bày như là tánh bất nhị của
Quang Minh và Tánh Không. Tư tưởng là thân thể của chính
Pháp Thân. Đây là sự thành tựu tối hậu của Đại Ấn.
Thực
hành đặc biệt Đại Ấn gồm có các thiền định của “giai
đoạn phát triển” như là Vajrayogini và Cakrasamvara và các
thiền định của “giai đoạn viên mãn” tiếp theo như là
“Sáu giáo pháp của Naropa” : nội hỏa, huyễn thân, giấc
mộng, quang minh, chuyển thức, và trung ấm. Sự thành tựu
các pháp này dẫn đến sự hòa hợp của “Đại Lạc và
Tánh Không,” từ đó sự thành tựu Đại Ấn phát triển
một cách tự nhiên.
Hành
: Tính đặc biệt của hành Đại Ấn là sự không cố gắng,
không ra sức. Vì nó có từ Tánh Không và Đại Bi trọn vẹn
của Kiến và Thiền, nó cũng vượt khỏi ý niệm về một
kỹ luật được đặt định. Từ đó, nhà yogi mahamudra có
thể một đôi khi xử sự theo một đường lối bề ngoài
có vẻ gây chấn động. Loại hành động này được xem như
một thái độ của nhà yogi điên cuồng (TT : smyon-pa). Saraha
nói :
Nếu
tôi giống như một con heo
Thèm
muốn vũng lầy thế gian