MỤC
LỤC
1.
Sự Giáng Trần Phúc Lợi
2.
Cuộc Viếng Thăm Của Vị Đạo Sư Hiền Đức
3.
Hoàng tử nhân đức
4.
Cuộc Thi Chọn Phò Mã
5.
Những Cung Ðiện Ðầy Thú Vui
6.
Điệu Hát Quyến Rũ
7.
Cảnh Tượng Bất Ngờ
8.
Chuyến Du Ngoạn Lần Thứ Hai
9.
Cảnh Tượng Sửng Sốt Cuối Cùng
10.
Những Lạc Thú Chóng Tàn Phai
11.
Buổi Thiền Quán An Lạc
12.Vua
Tịnh Phạn Lo Lắng
13.
Xuất Gia
14.
Cuộc Tầm Ðạo Bắt Ðầu
15.
Sáu Năm Tu Khổ Hạnh
16.
Tín Nữ Cúng Dường
17.
Cuộc Chiến Ðầu Vĩ Ðại
18.
Giác Ngộ
19.
Thuyết Pháp Cho Ai
20.
Bài Pháp Ðầu Tiên
21.
Nỗi Khổ Ðau Của Bà Mẹ
22.
Con Người Thô Lỗ
23.
Những Lời Tán Dương
24.
Lòng Thương Yêu Loài Vật.
25.
Năng Lực Của Lòng Từ Bi
26.
Trở Về
27.
Nhà Vua Và Ông Thần Cây
28.
Lòng Thương Bình Ðẳng Ðối Với Tất Cả
29.
Những Ngày Cuối Cùng
30.
Giáo Pháp Vẫn Còn Tồn Tại
31.
Chú Thích Của Dịch Giả
1
SỰ GIÁNG TRẦN PHÚC LỢI
Nhiều,
rất nhiều năm trước tại nước nhỏ ở miền bắc Ấn Ðộ,
một biến cố xảy ra đã làm thay đổi toàn thế giới. Hoàng
hậu Ma-Da (Maya) (1), vợ vua Tịnh Phạn (Suddhodana) (2) nhân đức
trong lúc ngủ đã thấy một điềm chiêm bao. Trong giấc
mộng hoàng hậu thấy một luồng ánh sáng rực rỡ từ trên
trời chiếu xuống nơi bà, và trong luồng ánh sáng đó có
hình ảnh một con voi to lớn. Voi màu trắng bạch và có
sáu ngà. Con voi ánh sáng này bay mỗi lúc mỗi tiến lại gần
hoàng hậu và cuối cùng hòa nhập vào trong thân thể của
bà.
Hoàng
hậu Ma-Da thức giấc, lòng tràn ngập niềm vui vô biên, mà
từ trước nay hoàng hậu chưa bao giờ có được.
Hoàng
hậu liền báo cho vua Tịnh Phạn biết, và cả hai đã hỏi
yêu cầu các quần thần thông bác trong triều đình giải thích
về ý nghĩa của điềm chiêm bao. Quý vị trả lời: “Tâu
bệ hạ, đó là một giấc mộng lành. Có nghĩa là hoàng hậu
sắp sinh con, và vị hoàng tử này tương lai sẽ trở thành
một siêu nhân. Không riêng bệ hạ và hoàng hậu, mà toàn
thế giới nhân loại đều hưởng sự phúc lành khi hoàng hậu
hạ sinh một thái tử, đặc biệt như thế.”
Nghe
tin lành như vậy, đức vua và hoàng hậu hết sức vui mừng.
Hoàng thượng rất sung sướng vì Ngài mong ước có một hoàng
nam để tương lai nối ngôi thay ông trị vì đất nước. Và
giờ đây điều ước muốn đó của đức vua có thể trở
thành sự thực.
Theo
phong tục thuở xưa, người phụ nữ trở về quê cha mẹ để
sinh đứa con đầu lòng. Cho nên vào lúc sắp sinh thái tử,
hoàng hậu Ma-Da cùng với các bạn bè và những người hầu
cận đã rời cung điện vua Tịnh Phạn để bắt đầu lên
đường trở về quê ngoại của bà.
Ðoàn
tùy tùng đi một khoảng chưa xa bao nhiêu, hoàng hậu đã bảo
ngừng lại nghỉ ngơi. Bà cảm thấy đứa bé sắp sửa ra
chào đời. Khi đoàn người đến hoa viên Lâm Tỳ Ni (Lumbini)
(3) xinh đẹp, hoàng hậu đi vào trong vườn này để tìm một
nơi thuận tiện cho việc sinh hoàng tử. Các tích chuyện đã
ghi chép rằng, ngay cả loài vật và cây cỏ cũng muốn giúp
đỡ vì chúng biết đứa trẻ hoàng hậu sắp sinh là một
siêu nhân. Một nhánh từ một thân cây lớn cuốn cong xuống,
và hoàng hậu đã nắm chặt nó với bàn tay phải của bà.
Tự chống đỡ trong tư thế này, hoàng hậu đã sinh thái tử.
Những người hầu cận đưa tay bồng em bé và trầm trồ ngợi
khen mặt mày thái tử trông hảo tướng và trang nghiêm làm
sao.
Vào
lúc ấy, khắp nơi trong nước, dân chúng cảm thấy an bình
và hạnh phúc. Mọi người quên hết nỗi ưu phiền, không
còn cải vã tranh chấp và tất cả đều bày tỏ tình thương
yêu bao la thân hữu với nhau. Có người thấy mống ngũ sắc
xuất hiện trên bầu trời, cùng những điềm lành và các
sự việc bất thường khác.
Các
hiền nhân ở toàn vương quốc đều nhận thấy những dấu
hiệu an lành và phúc lợi này, cho nên họ vui mừng nói với
nhau: “Thật là điều đại phước đã xảy ra. Hãy lưu ý
đến những điềm cát tường này! Hôm nay là ngày Rằm tháng
tư. Hẳn chắc đó là một ngày trọng đại!”
Hoàng
hậu Ma Da không ngờ niềm vui của bà hạ sinh hoàng nam vào
lúc ấy lại được toàn dân trong nước đều hân hoan chia
xẻ, và hoàng hậu ẵm trong thay thái tử vừa mới sinh trở
về kinh đô của nhà vua.
2
CUỘC VIẾNG THĂM CỦA VỊ ĐẠO SƯ HIỀN ĐỨC
Với
niềm vui lớn lao, vua Tịnh Phạn chúc mừng hoàng hậu và thái
tử vừa mới đản sinh. Dân chúng tổ chức các buổi hội
hè tưng bừng và treo cờ kết hoa rực rỡ trên toàn quốc.
Ðó là thời kỳ đại hạnh phúc và thanh bình của đất nước.
Vì mọi người khắp nơi đều hân hoan vui mừng cho nên đức
vua và hoàng hậu đặt tên cho thái tử là “Tất Ðạt Ða”
(Siddhartha) (4) nghĩa là “người đã mang lại mọi điều lành”.
Bấy
giờ các hiền nhân đều tiên đoán về thái tử. Họ thưa:
“Tâu bệ hạ, những điềm báo trước trong ngày thái tử
đản sanh rất tốt đẹp. Thái tử sau này sẽ trở thành nhân
vật còn vĩ đại hơn hoàng thượng bây giờ!” Nghe nói vậy,
đức vua rất hãnh diện. Ngài thầm nghĩ: “Nếu các hiền
nhân này nói đúng thì con ta thái tử Tất Ðạt Ða tương
lai có thể là một vị minh quân, không những trị vì vương
quốc nhỏ của ta mà còn cai trị cả toàn thế giới! Thật
là điều vinh dự lớn lao cho riêng ta cũng như hoàng tộc”.
Vài
ngày đầu tiên sau khi hoàng tử ra đời, nhiều người đã
vào cung điện để thăm thái tử vừa mới giáng sanh. Một
trong các vị này là ông tiên A Tư Ðà (Asita) (5). Ông là một
đạo sĩ sống ẩn tu trong rừng sâu, và nổi danh là một con
người rất thánh thiện. Ðức vua và hoàng hậu ngạc nhiên
thấy đạo sĩ A Tư Ðà rời bỏ khu rừng ông đang ở để
vào thăm cung điện, liền nói với sự kính trọng: “Thưa
đạo sư hiền đức, chúng tôi rất hân hạnh được Ngài
đến thăm. Xin cho chúng tôi biết mục đích viếng thăm của
đạo sư, và chúng tôi hân hạnh sẽ phục vụ cho Ngài bất
cứ điều gì Ngài cần đến”.
Ðạo
sĩ A Tư Ðà đáp lời: “Bần đạo xin cám ơn về sự ân
cần tiếp đón của đức vua và hoàng hậu. Bần đạo từ
xa đến viếng thăm quý vị vì bần đạo thấy có những điềm
lạ xuất hiện gần đây. Các điều ấy báo cho bần đạo
biết rằng thái tử mà hoàng hậu vừa mới sinh, tương lai
sẽ thành đạt sự nghiệp kiến thức tinh thần vĩ đại.
Lâu nay, bần đạo đã dành hết cuộc đời tu tập để mong
có được trí tuệ siêu phàm ấy, cho nên bần đạo nóng lòng
đích thân muốn đến sớm để gặp thăm thái tử”.
Hoàng
thượng vui vẻ vội vàng đến nơi thái tử đang nằm ngủ.
Ðức vua cẩn thận bồng thái tử mang đến cho đạo sĩ A
Tư Ðà. Ông ta nhìn hoàng tử một hồi lâu và không nói gì.
Rồi sau cùng đạo sĩ bước lui, buồn bã nhìn lên bầu trời
thở dài và bắt đầu than khóc.
Nhìn
đạo sĩ A Tư Ðà khóc, đức vua và hoàng hậu cảm thấy lo
lắng. Cả hai sợ rằng đạo sĩ đã trông thấy tướng trạng
gì xấu nơi thái tử. Ðôi mắt đầy lệ, vua Tịnh Phạn quỳ
xuống và kêu lên: “Thưa đạo sĩ, Ngài đã thấy gì nơi
hoàng tử khiến Ngài phải khóc? Tất cả những vị hiền
đức khác đều bảo rằng thái tử con của trẩm ra đời
sẽ trở thành một đại nhân, có được trí tuệ siêu phàm.
Nhưng nay, sau khi xem tướng thái tử Ngài lại khóc. Ðiều
ấy có nghĩa là thái tử sẽ chết sớm? Hay có điều gì rất
khủng khiếp sắp xảy ra cho thái tử? Thái tử là đứa con
độc nhất mà trẩm rất yêu quý, xin hãy mau mau cho trẫm biết
Ngài đã thấy gì nơi thái tử vì tâm của trẩm hiện đang
quá hồi hộp đầy sự buồn khổ và lo âu”.
Rồi
với cái nhìn đầy từ ái, đạo sĩ A Tư Ðà trấn an đức
vua cùng hoàng hậu và bảo họ không có gì phải lo sợ. Ðạo
sĩ nói:
“Xin
bệ hạ và hoàng hậu chớ quá phiền muộn. Bần đạo khóc
không phải vì thấy có ẩn dấu gì xấu nơi thái tử. Thật
vậy, điều mà bần đạo đã xem và biết chắc rằng thái
tử khi lớn lên sẽ trở thành một đấng siêu nhân. Bần
đạo đã nhìn thấy nơi thái tử có nhiều tướng tốt đặc
biệt - như ánh sáng phát chiếu ra từ các ngón tay của người
điều ấy báo cho bần đạo biết rằng tương lai của thái
tử sẽ hết sức huy hoàng.
“Nếu
thái tử quyết định ở lại với bệ hạ để lên làm vua,
thái tử sẽ trở thành một vị chuyển luân thánh vương trong
lịch sử. Thái tử sẽ trị vì một đất nước rộng lớn
và mang lại cho quốc dân nhiều an lành hạnh phúc. Nhưng nếu
thái tử không muốn lên ngôi hoàng đế, tương lai của người
sẽ còn vĩ đại hơn! Thái tử sẽ trở thành một đấng đại
đạo sư, chỉ bày cho toàn nhân loại phương pháp sống thế
nào để có được tâm an lạc và tình thương. Nhận thấy
thế gian đầy nỗi buồn đau, thái tử sẽ rời bỏ cung điện
đi tu, để tìm ra con đường chấm dứt sự khổ đau. Rồi
người sẽ chỉ dạy cho bất cứ ai muốn tìm học giáo lý
ấy.
“Không,
tâu bệ hạ và hoàng hậu, bần đạo không phải khóc cho thái
tử, mà khóc than cho chính mình. Hoàng thượng xem, bần đạo
đã dùng hết cả cuộc đời để sưu tầm chân lý, tìm ra
con đường chấm dứt mọi khổ đau. Và hôm nay, bần đạo
đã gặp thái tử, người một ngày kia sẽ chỉ dạy những
điều mà bần đạo muốn tu học. Nhưng đến lúc thái tử
có đủ khả năng để dạy dỗ thì bần đạo đã từ trần
rồi. Như vậy bần đạo sẽ không được tu học với
hoàng tử trong kiếp này. Cho nên bần đạo hết sức buồn
khổ. Nhưng bệ hạ và hoàng hậu, thật là đại phước,
không nên buồn lo. Hãy vui mừng đã sinh được một hoàng
nam siêu việt như thế”.
Rồi
đạo sĩ A Tư Ðà nhìn thái tử lần cuối cùng rất lâu, và
từ từ rời khỏi cung điện. Ðức vua nhìn theo đạo sĩ bước
đi rồi, quay lại hướng mắt về thái tử. Ngài rất sung
sướng vì biết rằng không có gì hiểm nguy, đe dọa cuộc
sống của thái tử. Rồi nhà vua thầm nghĩ: “Ðạo sĩ A Tư
Ðà dạy rằng thái tử Tất Ðạt Ða tương lai sẽ trở thành
một đại vương hoặc là một đại đạo sư. Tốt nhất,
trước tiên thái tử sẽ là một vị vua. Hãnh diện biết
bao khi ta có được một hoàng tử nổi danh và đầy quyền
uy như thế! Rồi khi thái tử đến tuổi già như đạo sĩ
A Tư Ðà, người có thể xuất gia để trở thành một đạo
sư hiền đức nếu thái tử muốn”.
Suy
nghĩ điều như vậy, vua Tịnh Phạn sung sướng đứng bồng
thái tử trong tay, ước mơ tưởng nghĩ đến danh vọng mà
con của mình một ngày nào sẽ có.
3
HOÀNG TỬ NHÂN ĐỨC
Trong
lúc thái tử đang còn quá bé thì thân mẫu của thái tử,
hoàng hậu Ma Da từ trần.
Không
lậu trước ngày hoàng hậu qua đời, bà ta nói với cô em
gái: “Sắp đến ngày chị không còn có thể chăm sóc cho
em bé mới sinh của chị nữa. Dì thân mến, sau khi chị mất,
xin dì nuôi nấng thái tử Tất Ðạt Ða giúp chị”. Em của
hoàng hậu hứa sẽ làm điều đó. Bà rất yêu thương và
nuôi dạy thái tử giống như con riêng của mình.
Thái
tử lớn lên và trở nên một đứa bé thông minh, dễ thương
và nhân từ. Phụ hoàng đã mời các danh sư tài giỏi nhất
trong nước để dạy cho thái tử, và thái tử nhanh chóng chứng
tỏ là rất mực thống minh. Sau vài ngày đầu tiên dạy dỗ,
các giáo sư đều báo cáo với nhà vua:
“Tâu
bệ hạ, thái tử không cần đến chúng tôi nữa. Chỉ sau
vài bài học, thái tử đã biết hết mọi điều chúng tôi
muốn dạy. Thực vậy, thái tử đã dạy lại chúng tôi những
điều mà chính chúng tôi chưa bao giờ biết từ trứơc!”
Nghe
nói thế niềm hảnh diện nơi đức vua về thái tử lại càng
tăng trưỡng thêm lên. Hoàng thượng suy nghĩ: “Với tánh
thông minh của con ta thái tử lớn lên, chắc sẽ trở thành
một vị vua tài đức và hùng mạnh”, và điều này làm cho
nhà vua rất sung sướng.
Nhưng
thái tử còn có những điểm đặc biệt hơn cả sự thông
minh. Bản tính của thái tử là rất tốt, hiền lành và có
lòng từ bi. Những bạn cùng lứa với thái tử đã thích chơi
các trò chơi vật lộn sôi nổi của trẻ con hay giả làm lính
và đánh lẫn nhau. Nhưng thái tử Tất Ðạt Ða đã dùng hết
thì giờ cho cuộc sống thầm lặng của mình. Thái tử thương
yêu những con vật nhỏ sống trong vườn ở hoàng cung và kết
bạn thân thiết vơi chúng. Loài vật biết thái tử không bao
giờ sát hại chúng cho nên chúng cũng không cảm thấy sợ
hãi thái tử. Ngay cả thú dữ thường hay bỏ chạy khi thấy
người lại gần, nhưng chúng đến chào mừng khi thấy thái
tử bứơc vào công viên. Chúng tiến lại gần không chút sợ
sệt và nhận lấy từ bàn tay thái tử các thức ăn mà thái
tử luôn mang theo cho chúng.
Ngày
nọ, đang ngồi trong hoa viên, thái tử trông thấy một đàn
thiên nga bay trên trời. Thình lình một mũi tên bắn lên không
trung và một con bị trúng. Nó rớt từ trên không xuống nơi
chân của thái tử với mũi tên đang còn dính nơi cánh của
chim.
Thái
tử Tất Ðạt Ða nhẹ nhàng ôm con chim bị thương lên và
nói nhỏ với nó: “Ồ, Thiên nga tội nghiệp con của ta. Con
đừng sợ. Ta sẽ chăm sóc cho con nhé. Này, hãy để ta rút
mũi tên ra.” Rồi, thái tử dùng bàn tay dịu dàng vuốt ve
để chim hết sợ. Và tay kia thái tử từ từ lấy mũi tên
ác nghiệt ra. Thái tử dùng thuốc đặc biệt thoa vào cánh
của chim, và luôn luôn nói với giọng nhỏ nhẹ, trìu mến
để nó không còn sợ hãi. Sau cùng thái tử lấy chiếc áo
lụa của mình bao quanh giữ cho thân chim được ấm.
Giây
lát sau, một thiếu niên trẻ khác chạy vào trong vườn. Ðó
là Ðề Bà Ðạt Ða (Devadatta) (6), anh em bà con với thái tử.
Thiếu niên này tay mang cung tên và vui vẻ la lớn: “Này Tất
Ðạt Ða, Tất Ðạt Ða, có tin mừng! Em bắn trúng con thiên
nga! Anh thấy tài chưa, chỉ một phát đầu em bắn trúng đích
liền! Nó rơi xuống gần đâu đây. Anh giúp em tìm nó đi.”
Rồi
Ðề Bà Ðạt Ða thấy mũi tên của mình đang còn dính máu
rớt nằm trên mặt đất gần chân của thái tử. Nhìn cạnh
đó, Ðề Bà trông thấy thái tử đang ôm chặt vật gì trong
tay, và nhận ra đó là con thiên nga mà anh ta đang tìm kiếm.
Ðề Bà la lên: “Ê, anh giữ con thiên nga của em. Anh đưa
nó cho em. Em bắn trúng thiên nga nó là của em.” Ðề Bà chụp
giật lấy con chim, nhưng thái tử giữ chặt không cho người
em giận dữ sờ chạm đến nó.
Thái
tử nói với giọng cương quyết: “Anh tìm thấy con chim bị
thương rỉ máu rơi nằm ở đây, và anh nhất định không
trao chim cho bất cứ ai, khi nó chưa lành vết thương.”
Ðề
Bà lại to tiếng: “Nhưng chim là của em. Vì rõ thực là do
em đã bắn rơi nó, và anh đã lấy cắp chim của em. Vậy anh
hãy trả chim cho em hoặc em sẽ bắt lại nó.”
Hai
hoàng tử đứng cãi cọ như vậy trong giây lát, Ðề Bà mỗi
lúc càng nổi giận, nhưng Tất Ðạt Ða từ chối nhất định
không trao chim cho Ðề Bà. Cuối cùng thái tử nói: “Khi hai
người có việc tranh cãi như thế này, chúng ta nên giải quyết
vấn đề tại pháp đình. Trước một số các quần thần
sáng suốt, mỗi bên sẽ trình bày sự việc xảy ra như thế
nào. Rồi quý vị hiểu biết đó sẽ phán quyết ai đúng ai
sai. Tôi nghĩ chúng ta nên làm như vậy.”
Ðề
Bà không thích ý kiến này lắm, nhưng đây là phương cách
duy nhất để Ðề Bà bắt lại con thiên nga cho nên anh ta chấp
thuận. Cả hai vào hoàng cung, đến trước phụ vương và các
triều thần. Mọi người tại pháp đình đều nhìn nhau cười
khi họ nghe trình bày điều mà hai hoàng tử muốn. Các quần
thần suy nghĩ bảo rằng: “Cả hai chúng muốn dùng thì giờ
của chúng ta cho việc phân xử chỉ vì một con chim.” Nhưng
đức vua nói: “Tất Ðạt Ða và Ðề Bà Ðạt Ða đều là
thai tử của hoàng tộc, và trẫm vui mừng thấy cả hai mang
việc tranh chấp của chúng đến cho chúng ta giải quyết. Trẫm
nghĩ đó là đều rất quan trọng vì sau khi trở thành các
nhà cầm quyền tương lai, chúng sẽ cần đến sự phán quyết
của pháp đình này. Hãy bắt đầu phiên tòa đi”.
Rồi
lần lượt mỗi hoàng tử lên trình bày về sự việc đã
xảy ra. Các triều thần cố gắng phân xử để xem ai phải
thì người đó có quyền giữ con thiên nga. Có vị bảo rằng
“Ðề Bà bắn rơi con chim cho nên nó thuộc của Ðề Bà”.
Người khác lý luận: “Tất Ðạt Ða tìm thấy con thiên nga,
do đó nó thuộc của người”. Các quần thần đã bàn thảo
và tranh luận khá lâu về nội vụ.
Cuối
cùng, giữa pháp đình xuất hiện một ông lão già mà không
ai nhớ là đã gặp ông ta từ trước bao giờ. Nhưng vì trông
thấy ông rất đức độ, các quần thần đã trình bày cho
ông rõ đầu đuôi câu chuyện về con thiên nga của hai hoàng
tử. Sau khi nghe xong, ông lão tuyên bố: “Mọi người nam nữ
ai cũng quý trọng sự sống của mình hơn bất cứ vật thể
gì khác trên thế gian cho nên, tôi nghĩ con thiên nga thuộc
về người đã hết lòng cứu mạng sống cho chim, chứ không
thuộc về kẻ đã cố tâm hủy diệt sự sống của nó. Hãy
trao thiên nga cho Tất Ðạt Ða”.
Mọi
người đồng ý rằng điều mà ông lão hiền đức nói là
đúng sự thật, cho nên các triều thần phán quyết để cho
thái tử Tất Ðạt Ða giữ con thiên nga. Sau đó, đức vua
cố tìm gặp để ban thưởng cho ông già về ý kiến sáng
suốt của ông, nhưng không thấy ông đâu cả. Nhà vua liền
suy nghĩ: “Thực là điều hết sức kỳ lạ, ta chẳng rõ
từ đâu ông ta đến và từ chốn nào ông đã ra đi”. Mà
không ai biết cả. Ðây là một trong những sự việc bí ẩn
đã xảy ra liên quan đến thái tử, cho nên nhiều người tưởng
nghĩ rằng thái tử đúng hẳn là một đứa trẻ rất siêu
phàm.
4
CUỘC THI CHỌN PHÒ MÃ
Thái
tử ngày càng lớn với tánh tình hiền hậu khiến mọi người
quen biết ai cũng mến yêu. Nhưng phụ hoàng lại rất lo âu.
Nhà vua nghĩ: “Tất Ðạt Ða rất hiền lành, và hay ưu tư.
Ta muốn thái tử lớn lên sẽ trở thành một đại vương,
và vị quốc vương nào cũng cần phải dũng lược và hùng
mạnh. Nhưng thái tử lại chỉ thích ngồi trầm tư một mình
trong vườn hơn là học tập để trở thành một nhà lãnh
đạo quốc gia. Ta sợ rằng con ta sẽ muốn sớm rời cung điện
sống đời xuất gia của những bậc ẩn tu như đạo sĩ A
Tư Ðà. Nếu hành động như thế, thái tử sẽ không bao giờ
trở thành một đại vương”.
Những
ý tưởng này đã khiến đức vua rất phiền muộn. Ngài cho
mời các quan đại thần thân tín nhất đến để vấn kế
họ phải làm sao bây giờ. Cuối cùng, một trong các vị này
đề nghị: “Tâu bệ hạ, thái tử chỉ ngồi và mơ tưởng
đến những thế giới khác, bởi vì chưa có điều gì ở
thế giới này khiến cho lòng ủa thái tử phải đắm say.
Hãy đi kén vợ, để thái tử lập gia đình và có con; rồi
người hết mơ mộng cũng như sẽ ham thích học hỏi các việc
điều khiển quốc gia”.
Ðức
vua nghĩ rằng đó là một ý kiến rất hay. Ngài ra lệnh tổ
chức một dạ tiệc lớn tại hoàng cung. Nhiều thiếu nữ
trẻ đẹp thuộc các gia đình quý phái được mời tham dự.
Vào cuối bữa tiệc, ban tổ chức yêu cầu thái tử tặng
quà cho từng thiếu nữ, và các quần thần chú ý xem thử
cô nào thái tử tỏ vẻ ưa thích nhất.
Các
thiếu nữ kiều diễm xinh đẹp tất cả đều tỏ ra bối
rối khi ra mắt thái tử. Thái tử trông rất đẹp trai, nhưng
có vẻ lãnh đạm đứng cạnh chiếc bàn với đầy những
quà tặng đắt tiền. Các thiếu nữ từng cô rụt rè tiến
lên, và e lệ nhìn xuống khi đến gần thái tử. Tất cả
im lặng nhận món đồ nữ trang, chiếc vòng tay hay một tặng
phẩm khác và vội vàng quay về chỗ ngồi của mình.
Sau
cùng, chỉ còn lại một thiếu nữ. Ðó là công chúa Da Du
Ðà La (Yasodhara), (7) con gái của vị vua nước láng giềng.
Không như các tiểu thư khác, cô tỏ ra rất dạn dĩ khi đến
gần cạnh thái tử. Tại dạ vũ này lần đầu tiên vị hoàng
tử trẻ đã nhìn thẳng vào thiếu nữ đứng trước mặt.
Cô ta rất tuyệt vời diễm lệ, khiến thái tử tức thì say
đắm nàng ngay.
Cả
hai đứng yên lặng trong giây lát và đưa mắt nhìn nhau. Rồi
Da Du Ðà La nói: “Tâu điện hạ, quà dành cho em đâu?” Thái
tử giật mình, như người tỉnh thức sau giấc chiêm bao. Thái
tử nhìn xuống và thấy trên bàn không còn gì cả. Mọi quà
thưởng đã tặng hết cho các giai nhân. “Ðây, em hãy nhận
lấy vật này”. Thái tử vừa nói vừa cởi lấy chiếc nhẫn
nơi ngón tay của mình ra. “Ðây là quà anh cho em”. Da Du Ðà
La vui mừng cầm lấy chiếc nhẫn và chậm rãi đi trở về
chỗ của nàng.
Các
quan đại thần chứng kiến mọi việc xảy ra vội vàng đến
yết kiến đức vua. Họ sung sướng thưa: “Tâu hoàng thượng
hạ thần chúng tôi đã chọn được một người vợ tuyệt
hảo cho thái tử. Nàng là công chúa Da Du Ðà La, con gái vua
Thiện Giác (Suprabuddha) (8) nước kế cận. Chúng tôi sẽ qua
thăm đức ua này ngay để lo việc xin cưới công chúa cho thái
tử”.
Vua
Tịnh Phạn đồng ý và không lâu sau đó đã sang viếng thăm
thân phụ của Da Du Ðà La. Ông được vua Thiện Giác ân cần
tiếp đón và nói: “Tôi chắc hoàng tử của đại vương
là một thanh niên trẻ toàn hão, nhưng tôi không thể cho không
con gái tôi cho bất cứ ai. Nhiều hoàng tử khác muốn kết
hôn với nàng và tất cả họ đều là những thanh niên trẻ
xuất chúng. Họ giỏi cỡi ngựa bắn cung và các môn thể
thao khác. Cho nên, nếu con của Ngài muốn kết hôn với con
gái tôi, thái tử sẽ phải dự cuộc thi tranh tài với những
người cầu hôn khác, vì đó là tập tục của nước chúng
tôi”.
Rồi
một cuộc đại thi tài được tổ chức với giải thưởng
là công chúa Da Du Ðà La xinh đẹp. Vua Tịnh Phạn lo lắng.
Ngài suy nghĩ: “Con ta chưa bao giờ bày tỏ cho thấy có một
chút gì thích thú trong các môn thể thao của người chiến
sĩ. Vậy làm sao thái tử có thể thắng được trong cuộc
tranh tài này?” Nhưng thái tử biết được nỗi lo lắng của
phụ hoàng nên đã thưa: “Xin phụ vương đừng lo. Con đã
chuẩn bị làm bất cứ gì cần thiết để chiếm giải Da
Du Ðà La về phần con”.
Cuộc
thi đầu tiên là bắn cung. Các thanh niên dự thi những tấm
bia để bắn cách một khoảng xa, nhưng mỗi người đều đã
bắn trúng đích tâm điểm trên tấm bia. Khi đến phiên Ðề
Bà Ðạt Ða–vì người em bà con với Tất Ðạt Ða cũng là
một trong những người cầu hôn – ông ta không chỉ bắn
trúng đích mà mũi tên của Ðề Bà còn xuyên thủng qua tấm
bia để rơi cắm phía bên kia. Ðám đông dự xem reo hò, nhưng
Da Du Ðà La kinh hoàng nhắm mắt. Nàng nghĩ: “Làm sao Tất
Ðạt Ða yêu quý của ta có thể bắn được một phát như
vậy, và thật là ghê sợ nếu ta phải lấy Ðề Bà Ðạt
Ða!”
Nhưng
Tất Ðạt Ða rất vững tin. Tới lượt mình, thái tử để
tấm bia rất xa đến nỗi phần đông người đứng xem không
thể nhìn thấy nó. Rồi thái tử lấy một mũi tên từ nơi
ống tên lắp vào cái cung và kéo ra sau. Tuy nhiên thái tử
kéo quá mạnh đến nỗi cây cung gãy làm đôi, và người đã
ném nó ra phía sau rất xa!
Thái tử yêu cầu: “Xin mang lại cho tôi cây cung khác, nhưng
lần này hãy chọn cây nào rắn chắc hơn để nó khỏi bị
gãy như cây cung trước”. Một vị đại thần nói lớn: “Tâu
điện hạ, có một cây cung rất cổ để trong cung điện.
Nó thuộc quyền của một trong các chiến sĩ anh hùng nhất
thời xưa. Nhưng từ khi ông ta qua đời nhiều năm trứơc,
không ai có đủ sức mạnh để sử dụng và ít người bắn
với cây cung ấy.”
Thái
tử nói: “Ta sẽ dùng nó”, và mọi người đều kinh ngạc.
Khi thái tử cầm cây cung, người cẩn thận uốn cong và kéo
giây cung dễ dàng. Thái tử đặt mũi tên vào trên giây kéo
nó ra phía sau xa đến nỗi hai đầu cây cung gần chạm sát
vào nhau, rồi nhắm và bắn mũi tên đi. Toăng! Tiếng kêu phát
ra từ cây cung lớn đến nỗi dân chúng ở các làng xa đều
nghe tiếng. Mũi tên bắn đi quá nhanh. Khiến sau khi trúng đích–ngay
giữa tâm điểm tấm bia–nó đã không rơi xuống đất mà
còn tiếp tục bay xa cho tới khi mất hút không còn trông thấy.
Ðám
đông đứng xem vui mừng reo hò! “Thái tử đã thắng! Thái
tử đã thắng!”. Nhưng bắn cung chỉ là cuộc thi đầu tiên
trong ngày, cuộc tranh tài kế tiếp là thuật múa kiếm.
Mỗi
thanh niên trẻ chọn một thân cây và biểu diễn sức mạnh
bằng cách dùng thanh kiếm của mình chém vào thân cây ấy.
Người
cầu hôn đầu tiên chặt một thân cây dày sáu in-sờ (inches)
rồi chín in-sờ và lần thứ ba chỉ dùng một nhát gươm chặt
vào cây dày một phút (foot).
Ðến
phiên thái tử. Người chọn một cây có hai thân mọc sát
canh nhau. Thái tử vung lưỡi kiếm quá nhanh đến nỗi khi nó
cắt vào thân cây không ai kịp thấy. Lưỡi gươm của thái
tử quá bén và bằng phẳng khiến thân cây đã chặt đứt
nhưng không ngã xuống. Mà vẫn hoàn toàn giữ được thăng
bằng đứng yên. Khi thấy cây còn đứng thẳng, đám đông
dự xem, nhất là Da Du Ðà La Ðều la lên: “Thái tử đã thua.
Lưỡi gươm của thái tử không chặt được ngay cả thân
cây đầu tiên”.
Nhưng
một làn gió nhẹ lướt qua và thổi các thân cây này ngã
xuống. Ðám đông dân chúng trở nên vui mừng và lại reo hò:
“Thái tử đã thắng cuộc”.
Cuộc
tranh tài cuối cùng là thi cỡi ngựa. Một con ngựa dữ chưa
ai cỡi từ trước bao giờ, được kiềm giữ bởi những người
lực lưỡng, trong khi một thanh niên dự thi cố gắng leo lên
cưỡi nó. Nhưng con ngựa nhảy lên và đá một cách hăng máu
khiến không ai có thể ngồi lâu trên lưng nó hơn vài giây.
Cuối cùng một thanh niên trẻ cố gắng giữ chặt và những
người khác kiềm chế dắt con ngựa đi. Nhưng nó nhảy lên
và chồm ra phía trước với sự điên cuồng, và giận dữ
khiến người cỡi nó rơi xuống đất. Và con ngựa sẽ lồng
lộn giẫm đạp nếu không có nhiều người nhảy xô vào kiềm
giữ bắt nó đứng yên.
Đám
đông bắt đầu la lớn: “Hãy ngừng cuộc thi! Ðừng để
thái tử đến gần con ngựa đó! Thực quá nguy hiểm, nó sẽ
giết thái tử!”. Nhưng Tất Ðạt Ða không sợ. Thái
tử suy nghĩ :
“Sự
nhu hoà có thể chinh phục thú tánh hung bạo”, và chậm rãi
tiến gần nắm chùm lông bờm trên đầu ngựa. Bằng giọng
nhỏ nhẹ, dịu dàng vừa âu yếm xoa đầu và hai bên má của
con ngựa hung hăng, thái tử làm dịu cơn giận dữ, cuồng
điên và sợ hãi của nó.
Con
ngựa tức thì trở nên hiền lành và bắt đầu liếm bàn
tay của Tất Ðạt Ða. Rồi tiếp tục thỏ thẻ nói ngọt
ngào với ngựa, thái tử trèo lên lưng nó. Giữa lúc dân chúng
vui mừng reo hò thái tử biểu diễn con chiến mã trước các
vị quốc vương và đại thần cũng như cúi chào giải thưởng
dịu dàng của mình, nàng Da Du Ðà La yêu quý. Cuộc thi tài
đã kết thúc, thanh niên Tất
Ðạt
Ða đã thắng! Và thái tử chứng tỏ là con người không chỉ
toàn năng về sức mạnh vĩ đại, mà còn bởi đức tính hiền
hòa và lòng thương bao la.
5
NHỮNG CUNG ĐIỆN ĐẦY THÚ VUI
Không
lâu sau đó, Thái Tử Tất Ðạt Ða làm lễ thành hôn với
công chúa Da Du Ðà La. Vua Tịnh Phạn mong chắc rằng con của
mình sẽ không bao giờ muốn rời xa vương quốc nên Ngài đã
ra lịnh cho xây dựng không chỉ một mà đến ba lâu đài tráng
lệ cho cặp vợ chồng mới cưới này. Ðức vua bảo với
nhà thầu khoán chính rằng: “Hãy kiến tạo chúng càng xinh
đẹp càng tốt. Trẫm muốn người xây các cung điện thực
vô cùng tráng lệ để khi mọi người vào trong ấy sẽ nghĩ
tưởng như họ lạc vào cảnh thiên đàng.
“Trẫm
muốn xây một cung điện dành cho mùa hè bằng loại đá cẩm
thạch mát mẻ và bao bọc xung quanh với các hồ và suối nước
trong. Thứ hai là cung điện mùa đông ấm áp và tiện nghi.
Và cung điện thứ ba dành cho mùa mưa. Các lâu đài này nên
thiết lập ngay giữa một công viên lớn với cảnh trí tươi
đẹp nhìn từ mọi hướng. Bao quanh hoa viên là một bức tường
cao để ngăn chận không có cảnh vật buồn phiền nào ở
thế giới bên ngoài xâm nhập vào được trong ấy. Mọi sự
vật đều thật toàn hảo để thái tử Tất Ðạt Ða sẽ
không bao giờ có ý định từ bỏ cung điện.”
Phụ
hoàng bằng mọi cách ra lịnh cho xây cất các lâu đài mới
này thực hấp dẫn lôi cuốn thái tử. Ngài đã cho tuyển
mộ các nhạc công tài danh nhất trong nước vào nơi đó để
trình diễn suốt ngày lẫn đêm. Tất cả những kẻ hầu hạ
là các vũ nữ xinh đẹp và nhiều đầu bếp chính được
chỉ bảo nên nấu dọn thường xuyên dâng cho thái tử các
món ăn cao lương mỹ vị.
Nhà
vua ngăn cấm đưa vào cung điện bất cứ điều gì có thể
gây sự phiền muộn nơi tâm hồn thái tử khiến người muốn
rời bỏ hoàng cung.
Trải
qua nhiều năm thái tử Tất Ðạt Ða đã sống trong cảnh giới
thần tiên này. Từ sáng đến tối, thái tử thụ hưởng hàng
ngàn thú vui. Thái tử không bao giờ chứng kiến những cảnh
tượng xấu xa, cũng chưa từng nghe bất cứ âm thanh nào không
dịu ngọt hay êm đềm. Chẳng hạn, nếu một trong các thị
nữ ốm bịnh, cô phải rời khỏi cung điện, và chỉ trở
lại sau khi cô đã bình phục. Bằng cách này thái tử không
bao giờ nhìn thấy cảnh bệnh hoạn hay bất cứ điều gì
có thể gây ảnh hưởng sầu não nơi tâm hồn nhạy cảm của
thái tử. Nhà vua ra lịnh không ai được kể cho thái tử nghe
những chuyện buồn hay phiền lụy. Ngay cả trong hoa viên khi
có cây nào bắt đầu khô gãy hay tàn úa, nhân viên làm vườn
tức thì cắt bỏ nó đi. Do đó, thái tử không bao giờ nhìn
thấy một cành hoa héo tàn hay khô chết. Bởi vậy, thái tử
không biết đến sự khổ đau và buồn phiền ở thế gian.
Thời
gian qua nhanh như giấc mộng. Da Du Ðà La hạ sinh hoàng nam La
Hầu La (Rahula) (9) và mọi việc diễn tiến tốt đẹp. Phụ
vương rất vui mừng sung sướng thấy những kế hoạch giúp
thái tử quan tâm đến cuộc sống hoàng gia đã tiến hành
một cách toàn hảo. Nhưng điều ấy không có nghĩa rằng Tất
Ðạt Ða, mà sự ra đời của người nhằm mang lại phúc lành
cho nhân loại thế gian sẽ an phận sống một cuộc đời ăn
không ngồi rồi như vậy. Cuối cùng, khi gặp cơ duyên thuận
tiện, thái tử sẽ khám phá ra mục đích chân thực về cuộc
sống của mình.
6
ĐIỆU HÁT QUYẾN RŨ
Một
chiều, sau buổi ăn tối, thái tử Tất Ðạt Ða nằm nghỉ
trên giường đầu kê trên đầu gối của Da Du Ðà La. Các
nhạc công đang dạo những khúc nhạc du dương và các thị
nữ đang cười giỡn nói chuyện thì thầm với nhau. Buổi
tối như nhiều buổi tối khác mà thái tử đã trải qua từ
khi vào ở các cung điện lạc thú này. Nhưng đêm nay, thái
tử thao thức không ngủ được. Quay sang một trong các nữ
ca sĩ thân yêu, thái tử yêu cầu: “Hãy ca một bài để ru
ta vào giấc ngủ. Nên chọn bản nhạc nào mà ngươi chưa bao
giờ hát cho ta nghe từ trước đến giờ”.
Người
nữ ca sĩ nhã nhặn vâng lời và ca một bài hát mới với
lời réo rắt phát ra từ tâm tư của nàng, trong lúc cô ta
vừa tự đàn theo. Bản nhạc cô hát diễn tả những cảnh
đẹp của thế giới, các vùng đất xa xôi, nơi lúc còn là
đứa trẻ cô đã đến viếng thăm; và những thành phố hoa
lệ nơi dân chúng đang sống hạnh phúc.
Bài
hát đã làm thái tử say mê, và khi nó vừa chấm dứt, người
hỏi nàng ca sĩ: “Hãy nói cho ta biết, phải chăng thực sự
có những nơi chốn đẹp đẽ bên ngoài các bức thành của
hoa viên này. Dân chúng trong kinh thành đã sống những cuộc
sống ra sao? Trên thế gian còn có nhiều cảnh vật hấp dẫn
hơn những điều mà ta đã nhìn thấy ở trong các cung điện
này? Hãy kể cho ta nghe tất cả những điều mà cô biết”.
Nàng
đáp: “Tâu điện hạ, những lâu đài này hẳn nhiên là tráng
lệ nhất, nhưng còn nhiều cảnh vật đẹp đẽ khác trên
thế giới rộng lớn hiện nay. Có nhiều đô thị, thành
phố, núi đồi và thung lũng, cũng như các vùng đất xa xôi
nơi mọi người nói những ngôn ngữ xa lạ. Có nhiều điều
con đã thấy, và những việc khác mà con đã nghe. Các cung
điện và hoa viên của thái tử thực là đẹp, nhưng vẫn
còn nhiều cảnh vật để xem bên ngoài những bức thành này”.
Nghe
nói vậy, thái tử rất mong tự mình đi xem những cảnh vật
khác thường và kỳ lạ đó vì nhiều năm qua, thái tử đã
bằng lòng sống trong các hoa viên và cung điện đầy thú vui
và hoàn toàn không biết đến thế giới bên ngoài. Nhưng giờ
đây, thái tử muốn dạo chơi ra ngoài thành nên người đã
gửi thư thỉnh cầu phụ hoàng tổ chức một cuộc du ngoạn
ra ngoài thành của công viên.
Phụ
vương nhận thư của thái tử và thầm nghĩ: “Nay con ta muốn
đi xem đất nước này. Mong cho điều ấy xảy ra! Thái tử
đã sống khá lâu trong các cung điện lạc thú rồi. Ðây là
lúc thái tử nên ra ngoài xem vương quốc mà tương lai thái
tử có thể trị vì”.
7
CẢNH TƯỢNG BẤT NGỜ
Vua
Tịnh Phạn muốn chắc rằng con của mình trong chuyến du ngoạn
ra ngoài thành sẽ không gặp thấy bất cứ cảnh tượng gì
có thể gây xáo trộn nơi tâm hồn thái tử. Vì điều này
sẽ khiến người quyết định rời bỏ vương quốc để theo
đuổi cuộc sống ẩn tu. Cho nên trước ngày thái tử dự
tính ra dạo chơi ngoài thành, đức vua phái các triều thần
và quân lính đi loan báo: “Do lịnh của đức vua, ngày mai
thái tử Tất Ðạt Ða sẽ viếng thăm kinh thành Ca Tỳ La Vệ
(Kapilavastu) (10). Dân chúng, để bày tỏ sự tôn kính, hãy
trang hoàng nhà cửa, đường sá và treo đèn kết hoa rực rỡ
khắp nơi. Những người già và bệnh hoạn sức khỏe yếu
kém ngày mai, nên ở trong nhà. Tại kinh thành đừng để thái
tử trông thấy những cảnh tượng già nua, xấu xí, cũng như
không đẹp đẽ”. Và, rất từ tốn, các tên lính đã bắt
những kẻ hành khất ngoài đường và mang họ tập trung về
ở một nơi trong thành phố, mà thái tử sẽ không tới viếng
thăm được.
Sáng
hôm sau, tên hầu cận Xa Nặc (Channa) (11), sửa soạn con ngựa
Kiền Trắc (Kantaka) (12) thân yêu của thái tử, và đánh xe
đưa người ra khỏi các cổng thành.
Ðây
là lần đầu tiên mà thái tử, kể từ khi còn là một đứa
trẻ thơ, được nhìn thấy thành Ca Tỳ La Vệ, và cũng là
lần đầu tiên phần đông dân chúng trong thành gặp mặt vị
hoàng tử của họ. Mọi người đều vui mừng và đứng dọc
theo những đường phố được trang hoàng mới mẻ để mong
nhìn thấy vị thái tử trẻ đẹp.
Khi
xe ngựa của người đi qua, họ trầm trồ với nhau: “Thái
tử dáng người trông cao ráo và đẹp mã làm sao! Cặp mắt
và vầng trán của thái tử quá sáng sủa! Chúng ta thực có
phước một ngày nào đó thái tử sẽ là vua của chúng ta”.
Và
thái tử cũng rất vui mừng. Kinh thành đâu cũng sáng ngời,
sạch sẽ, và thái tử thấy dân chúng khắp nơi đều vui cười,
hớn hở và nhảy múa. Các đường phố thái tử đi qua đều
tràn ngập những cánh hoa do dân chúng hân hoan ném tung vào
vị hoàng tử thân yêu. Thái tử sung sướngg tưởng nhớ lại:
“Bài hát diễn tả thật đúng. Rõ ràng đây là một kinh
thành rực rỡ tráng lệ và kỳ lạ!”.
Nhưng
thái tử và tên hầu cận Xa Nặc đang đánh xe ngựa bất chợt
nhìn thấy trong giữa đám đông dân chúng vui vẻ này có một
ông lão già lưng còng với nét mặt buồn thảm. Do sự tò
mò vì từ trước nay thái tử chưa từng thấy bất cứ hình
ảnh nào như thế bao giờ, nên thái tử quay lại và hỏi:
“Này Xa Nặc, ông già đó là ai vậy? Tại sao ông đi khom
lưng và không nhảy múa như các bạn trẻ? Tại sao da mặt
ông nhăn nheo và không sáng sủa như mọi người khác mà nó
lại xanh mét và khô cằn? Tại sao ông lại quá khác biệt
với thiên hạ?”.
Xa
Nặc chỉ vào ông già đang đứng mà mọi người không ai nhìn
thấy và trả lời: “Tại sao, tâu điện hạ, vì đó là một
ông già”.
Thái
tử hỏi: “Già? Người này luôn luôn già như vậy từ hay
mới xảy ra gần đây?”.
Xa
Nặc trả lời: “Tâu điện hạ, dạ không. Nhiều năm trứơc
ông lão già ấy cũng trẻ và khỏe mạnh như mọi người khác
mà thái tử nhìn thấy tại đây hôm nay. Nhưng sức lực của
ông dần dần kém sút. Lưng ông khòm xuống, màu da nơi má
đã phai nhạt, phần lớn những răng của ông đều rụng hết,
và hiện nay trông ông lão già nua như vậy.”
Hết
sức ngạc nhiên và buồn rầu, thái tử Tất Ðạt Ða lại
hỏi: “Phải chăng chỉ có mình ông lão đó phải chịu cảnh
khổ ốm đau vì sự già nua? Hay những người khác đều giống
như ông?”
“Tâu
điện hạ, như Ngài biết, chắc chắn rằng tất cả mọi
người ai cũng phải trải qua tuổi già. Ngài, con, Da Du Ðà
La, vợ của điện hạ, và La Hầu La, mọi người sống nơi
cung điện – chúng ta đang già lần trong từng giây phút. Một
ngày nào đó tất cả chúng ta đều trông già nua như ông lão
ấy.”
Những
lời nói này của Xa Nặc đã làm cho thái tử sửng sốt, khiến
người ngồi im lặng rất lâu không nói năng gì. Thái tử
trông như người mất hồn, sợ hãi vì bị một tia sét đánh
bất ngờ. Sau cùng thái tử lại lên tiếng và nói: “Này
Xa Nặc, hôm nay ta chứng kiến những điều mà ta không bao
giờ ước mong được thấy. Giữa những người trẻ hạnh
phúc này, cảnh tượng của sự già nua đã làm ta kinh hoàng.
Thôi ngươi hãy đánh xe quay trở về hoàng cung, mọi niềm
vui của ta trong chuyến du ngoạn này đã tiêu tan hết. Hãy
trở về. Ta không muốn nhìn thấy gì nữa.”
Xa
Nặc vâng lịnh thái tử. Khi trở về hoàng cung, thái tử đi
vào cung điện mà không chào hỏi ai cả, thái tử vội vã
lên lầu vào phòng riêng của mình, và ngồi im lặng rất lâu.
Mọi người ngạc nhiên trước hành động lạ lùng của thái
tử, và họ đều cố gắng giúp cho thái tử vui lên. Nhưng
hoàn toàn thất bại. Vào bữa ăn tối, thái tử không thiết
tha dùng đến thức ăn, mặc dù người đầu bếp chính đã
nấu các món ăn đặc biệt cho thái tử. Thái tử cũng không
còn ham muốn thưởng thức âm nhạc và xem; vũ múa mà luôn
ngồi một mình suy nghĩ đến “sự già, sự già, sự già”.
8
CHUYẾN DU NGOẠN LẦN THỨ HAI
Vua
cha được biết thái tử không mấy gì vui và ngạc nhiên về
kế hoạch của mình có thể đã thực hiện sai lầm. Ðức
vua suy nghĩ: “Thái tử cần đi xem nhiều cảnh nữa. Ta sẽ
sắp đặt chuyến đi du ngoạn khác cho thái tử, nhưng lần
này nên đưa người đến xem cảnh trí nào xinh đẹp hơn trong
thành phố”.
Rồi
Xa Nặc lại chuẩn bị ngựa Kiền Trắc, và cả hai cỡi xe
ngựa ra ngoài thành Ca Tỳ La Vệ. Các đường phố được
trang hoàng như trước, và dân chúng vui mừng nhìn thấy lại
vị hoàng tử của họ. Nhưng vào dịp này, chỉ riêng thái
tử Tất Ðạt Ða và Xa Nặc trông thấy một người bệnh
tật hiện ra trong giữa đám đông dân chúng vui cười.
Thái
tử kêu lên: “Xa Nặc, hãy nhìn kia. Người đó là ai vậy
mà họ đang lên cơn ho dữ dội, với toàn thân rung chuyển
và kêu rên thảm thiết như thế?”
“Tâu
điện hạ, đó là một người đang đau bệnh”.
Thái
tử lại hỏi: “Tại sao ông ta bị ốm đau?”
“Tâu
điện hạ, người ta mắc bệnh tật vì nhiều lý do. Có thể
họ dùng phải thức ăn không tốt, hoặc bị nhiễm thời tiết
quá lạnh. Lúc ấy thân thể họ mất quân bình và có thể
bị cảm sốt”.
“Phải
chăng ngay cả những người sung sướng trong đám đông dân
chúng đó cũng có thể bị đau ốm?”
Người
đánh xe ngựa trả lời: “Dạ, thưa vâng. Người ta hôm nay
lành mạnh, ngày mai có thể ốm đau. Không ai thoát khỏi bệnh
tật”.
Lần
thứ hai, thái tử vô cùng sửng sốt. Người nói: “Ta không
thể hiểu nổi, làm sao một con người không phải lo lắng
gì hết và sung sướng như thế lại có thể ngã bệnh bất
cứ lúc nào. Thôi, ngươi hãy đánh xe quay trở về. Ngày nay
ta xem như vậy là quá đủ rồi”.
Khi
trở về cung điện, thái tử cảm thấy không mấy gì vui vẻ
hơn lần trứơc. Không người nào có thể làm cho thái tử
vui cười và thái tử không muốn nói chuyện với ai. Vua cha,
sau khi thấu rõ sự bất hạnh của con mình, ông vô cùng lo
lắng và phân vân: “Ta đã cố gắng bằng mọi cách để
làm cho con ta hạnh phúc, nhưng cuối cùng tâm hồn thái tử
vẫn chứa chan phiền muộn. Chắc ta nên tham vấn các quần
thần thử xem có cách gì giúp cho thái tử trở nên lạc quan
yêu đời hơn không”.
Họ
khuyên lần sau, thái tử muốn dạo chơi ra ngoài thành, đừng
cho thái tử đi một mình. Tốt hơn, cùng đi với thái tử
nên có các nhạc công, vũ nữ và những quan lại trong triều
đình. Họ cần tổ chức đến thăm một hoa viên được trang
hoàng đặc biệt để tại đây thái tử có thể giải trí
và bị quyến rũ bởi đủ loại các thú vui.
Do
đó, khi thái tử Tất Ðạt Ða một lần nữa muốn ra ngoài
thành du ngoạn mọi sự sắp xếp đã được thực hiện hầu
giúp cho chuyến đi của người càng gặp nhiều điều vui càng
tốt. Thành phố được trang hoàng đẹp đẽ hơn trước. Những
cảnh trí buồn thảm được che giấu và một hoa viên đặc
biệt được sửa soạn với tất cả màu sắc tươi vui rực
rỡ.
9
CẢNH TƯỢNG SỬNG SỐT CUỐI CÙNG
Thái
tử Tất Ðạt Ða và Xa Nặc lại rời cung điện bằng xe ngựa.
Tháp tùng theo họ còn có các triều thần, nhạc công và người
hầu cận đông đảo trông giống như một đám rước lễ.
Dân chúng như trước kia, đứng dọc theo các đường phố,
mắt nhìn vào đoàn diễn hành rực rỡ của hoàng gia.
Nhưng,
lần thứ ba, một cảnh tượng hiện ra mà cũng chỉ một mình
thái tử và người đánh xe ngựa trông thấy. Ðó là một
nhóm người mặt buồn bã đang khiêng một chiếc hòm dài bên
trong đặt một xác người chết có quấn bao vải trắng, xuất
hiện từ trong khu nhà ở đi chậm rãi hướng xuống một con
đường phố.
“Này
Xa Nặc. Tại sao người đó nằm trong hòm không cử động
như thế? Ông ta ngủ phải không? Tại sao các người đi theo
lại than khóc? Họ mang người ấy đi đâu?”.
“Tâu
điện hạ, đó là xác một người chết. Họ đang khiêng ông
ta ra bờ sông để hỏa thiêu”.
Thái
tử ngạc nhiên hỏi: “Nhà ngươi nói 'chết' là nghĩa thế
nào? Nếu thân xác người ấy bị đốt, ông ta có đau đớn
gì không? Này Xa Nặc, hãy giải thích điều đó cho ta hiểu”.
Và
Xa Nặc giải đáp, nói cho Thái tử biết hết sự thật mà
vua cha đã giấu thái tử trong nhiều năm qua: “Trứơc đây
người ấy đã sống như Ngài và con bây giờ. Họ sinh ra,
lớn ên như một đứa trẻ, và trở thành một thanh niên.
Ông
ta hưởng thụ nhiều lạc thú và khổ đau trong cuộc đời,
thành lập gia đình, đi làm kiếm sống và trở nên già nua.
Rồi cơ thể cũa ông ta ngày càng yếu lần. Ông phải nằm
liệt trên giường. Ít lâu sau, ông không thể nhận biết các
bạn bè thân thiết nhất của mình. Sức khỏe cũa ông ta ngày
càng suy yếu hơn, và rồi ông không còn hít thở được nữa.
Với hơi thở cuối cùng này, năng lực cũa sự sống và cảm
giác hiểu biết cũng xa lià khỏi thân xác ông. Giờ đây ông
ta đã qua đời. Mọi thứ ông để lại còn nhìn thấy là
cái thân xác bất động mà ông đã vô cùng chăm sóc trong
lúc còn sống. Nó nằm đó lạnh cứng và không có cảm giác.
Khi gia đình thân quyến hỏa thiêu thân xác ấy, ông không
còn biết gì nữa; vì ông đã chết”.
“Này
Xa Nặc hãy nói cho ta rõ, phải chăng rất hiếm trường hợp
người ta chết như thế?” Người đánh xe ngựa trả lời:
“Tâu điện hạ, không hẳn vậy đâu. Thực ra có người
không bao giờ chóng già và rất ít khi họ bị đau ốm. Tuy
nhiên, mọi người, không trừ ai, một ngày nào đó, tất cả
đều phải chết”.
Những
lời này, Xa Nặc phát biểu một cách hồn nhiên khiến cho
thái tử vô cùng sửng sốt. Người hỏi một cách cuồng nhiệt:
“Phải chăng ngươi muốn nói, một ngày nào đó, vợ con ta,
các bạn bè và chính ta tất cả đều phải từ giã cõi đời?
Và những người ta thấy hôm nay tại đây, họ ăn mặc đẹp
đẽ, cũng sẽ phải nhắm mắt xuôi tay? Than ôi, thật là mê
mờ làm sao cho con người ở thế gian này lại có thể vui
vẻ múa hát khi biết rằng sự chết chóc đang chờ đón họ!
Tại sao con người phải quá bận tâm lo nghĩ đến việc phục
sức diêm dúa, thanh lịch trong khi biết rằng một ngày kia
vào lúc chết thân xác của họ cũng chỉ được quấn bọc
với mảnh vải trắng thô sơ?
Phải
chăng con người có trí nhớ kém nên họ đã quên không biết
đến sự chết? Hay là ý chí con người quá cứng rắn khiến
họ không còn lo lắng suy nghĩ đến sự chết? Lại đây, Xa
Nặc,
hãy quay xe lui. Ta muốn trở về hoàng cung để suy tư”.
Tuy
nhiên, Xa Nặc, đánh xe đến một hoa viên đẹp đẽ. Tại
đây, những ca sĩ và vũ nữ kiều diễm nhất trong cung điện
đang chờ đợi cùng với các nhạc công, quần thần và một
đại yến tiệc được tổ chức bởi những đầu bếp của
hoàng gia. Tất cả mọi người đều niềm nở và vui mừng
chào đón khi thái tử vừa bước ra khỏi xe ngựa. Nhưng thái
tử đã không cười, và cũng không thốt ra một lời nào.
Thái tử đang hoàn toàn suy nghĩ đến cảnh tượng mà người
đã nhìn thấy trong ngày hôm đó.
10
NHỮNG LẠC THÚ CHÓNG TÀN PHAI
Mọi
người đều cố gắng hết sức để mang lại niềm vui cho
thái tử. Các cô vũ nữ tán tỉnh mong tạo nên một nụ cười
trên khuôn mặt đẹp trai đầy sầu muộn của thái tử. Nhưng
Tất Ðạt Ða tỏ ra không mấy chú ý đến họ. Thái tử không
thể xua đuổi ra khỏi tâm trí của mình những cảnh tượng
già, bệnh, và hết.
Một
trong các quần thần nhận thấy thái tử không thích thú tham
dự các tiệc vui linh đình được tổ chức dành riêng cho
người, nên đã đến gặp thái tử. Bằng lối đùa cợt của
một thân hữu, ông ta nói: “Này Tất Ðạt Ða, thực là điều
không hợp lý nếu thái tử chẳng biết đến các cô vũ nữ
đáng yêu xinh đẹp này, và từ chối không tham dự các tiệc
vui. Hãy lại đây! Hoàng tử còn trẻ trung và đầy sinh lực,
nên chính mình thụ hưởng đi chớ. Tại sao như vậy? Các
thiếu nữ này không khá xinh đẹp đối với thái tử hay sao?”
Nhưng
thái tử đã trả lời với ông ta bằng một giọng vừa cứng
rắn và hoà dịu như tiếng sấm rền: “Nhà ngươi đã hiểu
lầm ta. Không phải ta không thích nhìn ngắm những người
và cảnh vật đáng yêu ở đây. Tuy nhiên khi ta nghĩ tưởng
đến các vẻ đẹp sẽ chóng tàn phai và sự biến đổi vô
thường của vạn ật ta không còn cảm thấy vui thú gì nữa.
“Nếu
không có sự già, bệnh và chết, thì ta cũng vậy, sẽ tìm
thấy nhiều lạc thú khi nhìn vào các hình ảnh đáng yêu đó.
Nhưng giữa cảnh khổ đau, và biết rằng điều ấy đang chờ
đợi tất cả chúng ta trong tương lai, làm sao ta có thể thỏa
mản với các thú vui mà chúng sẽ nhanh chóng trôi qua?
“Này
ông bạn của ta, nếu ngươi có một trái tim sắt đá hơn
ta thì ngươi có thể dễ dàng thụ hưởng các thú vui ấy.
Nhưng đối với ta mọi vật ta nhìn thấy đều đang bị thiêu
đốt trong ngọn lửa khổ đau. Bao lâu ta chưa tìm ra con đường
giải thoát sự đau khổ này thì mọi thú vui trần thế không
làm sao quyến rũ ta được.”
Vì
không thể nào làm cho thái tử lạc quan yêu đời, nên mọi
người đều buồn bã trở về hoàng cung. Khi các quần thần
báo cho phụ hoàng biết không có điều gì có thể khiến thái
tử ham thích hay vui vẻ được, đức vua vô cùng lo lắng đến
mất ngủ. Hoàng thượng thầm nghĩ: “Này, con yêu quý của
ta, điều gì có thể giữ con ở lại với ta nơi vương quốc
này? Có thú vui khác nào mà ta có thể cung cấp để con ta
sẽ khỏi phải ra đi?” Với những ý tưởng lo buồn sợ
rằng sẽ sớm mất vị hoàng tử độc nhất của mình, đức
vua đã sống qua một đêm trong tuyệt vọng.
11
BUỔI THIỀN QUÁN AN LẠC
Thái
tử ngày càng chìm sâu trong cảnh bi quan yếm thế. Hình như
người không còn ham thích điều gì nữa. Thái tử biếng lười
ăn uống và kết quả là người thái tử trở nên xanh xao,
gầy ốm. Hoàng thượng và mọi người đều rất phiền muộn
vì những thay đổi bất hạnh này đã xảy đến cho thái tử
Tất Ðạt Ða thân yêu của họ.
Ngày
nọ, thái tử đến gặp vua cha và bày tỏ: “Thưa phụ vương,
gần đây, tâm con luôn bị xáo trộn. Con cảm thấy bất an
và xin cha cho phép con một lần nữa du ngoạn ra ngoài thành.
Sự thay đổi cảnh trí này có thể giúp con an lạc”.
Vua
cha đồng ý nghe theo lời yêu cầu của thái tử ngay vì nhà
vua muốn thực hiện bất cứ điều gì để làm thái tử vui
lòng và có được hạnh phúc.Cũng như trước đây, phụ hoàng
căn dặn các quan triều thần thân tín nhất nên đi sát bên
cạnh và trông chừng thái tử.
Lần
này, Tất Ðạt Ða tự mình cỡi ngựa Kiền Trắc đi ra ngoài
thành tìm những cảnh thôn quê xinh đẹp. Cuối cùng, thái
tử tiến đến một bờ ruộng và xuống ngựa. Các quần thần
đi theo sau bên cạnh. Họ cố gắng giúp thái tử vui bằng
cách kể những câu chuyện vui tin tức và tin đồn nhảm nhí
ở triều đình. Nhưng thái tử không thích nghe những câu chuyện
tầm phào đó; nên các quầnthần để thái tử ở lại một
mình, rồi họ bỏ đi, chuyện trò vui vẻ với nhau.
Thái
tử Tất Ðạt Ða đửng nhìn ra cánh đồng. Bác nông phu đang
cày ruộng với những con bò, chim muông ca hát dưới ánh mặt
trời chiếu sáng rực rỡ. Hoàng tử thầm nghĩ: “Cảnh nơi
đây thật là đẹp. Các luống cày ở đồng ruộngtrông giống
như các gợn sóng nơi mặt hồ”.
Thái
tử ngồi xuống, và lần đầu tiên tâm hồn người cảm thấy
thoải mái trong giây lát. Nhưng khi nhìn kỹ hơn vào cảnh tượng
trước mặt, thái tử bắt đầu nhận ra đó là những sự
vật mà người chưa được mục kích trước đây. Lưỡi cày
cắt đất thành luống tới đâu, thái tử trông thấy thân
mình của hàng trăm côn trùng bé nhỏ bị giết chết đến
đó. Thái tử nhìn thấy vô số loài sâu bọ khác bò lui bò
tới hỗn loạn trong cảnh tổ ấm của chúng bị tàn phá.
Thái
tử cũng nhận biết rằng chim chóc không còn hót ca vui vẻ
nữa. Chúng đang liên tục tìm kiếm thức ăn, bay sà xuống
để mổ gắp những con sâu sợ hãi. Và nhiều chim nhỏ hơn
lo lắng sợ đàn diều hâu và các chim lớn khácđang đói ăn
bay lượn vòng quanh bên trên chúng.
Thái
tử chứng kiến những con bò làm việc khổ nhọc đang cố
gắng kéo chiếc cày nặng nề trên thửa ruộng. Bác nông phu
quất những làn roi làm phồng da đau đớn trên lưng con bò.
Và người nông dân cũng lao động cực nhọc. Như loài vật,
thân hình chai cứng và sạm nắng mặt trời của ông ta cũng
nhễ nhại mồ hôi.
Thái
tử suy nghĩ: “Ðó là vòng luân hồi khổ đau. Người nông
dân, những con vật của ông ta, các loài chim chóc, côn trùng
- chúng làm việc suốt ngày mong tìm cuộc sống hạnh
phúc, đầy tiện nghi và có đủ miếng ăn. Nhưng kỳ thực,
chúng đang thường xuyên giết chóc, tự hủy diệt mình và
sát hại lẫn nhau! Ta cảm thấy quá tội nghiệp cho cuộc sống
trần gian làm sao”.
Lòng
thái tử ngập tràn tình thương bao la đối với những sinh
vật bất hạnh này. Thái tử không muốn nhìn thấy chúng khổ
đau. Người tìm đến một nơi bóng mát ngồi dưới cây hồng
táo và bắt đầu chú tâm thiền định suy tưởng đến mọi
cảnh vật mà thái tử đã chứng kiến. Khi thái tử quán chiếu
sâu xa thấu suốt bản chất của sự khổ mà người đã thấy,
tâm thức thái tử càng trở nên yên lặng và định tĩnh.
Thái tử cảm thấy tâm mình hoàn toàn vắng lặng mà trước
đây chưa từng có được.
Với
tâm thanh tịnh, giờ đây thái tử bắt đầu quán tưởng:
“Mọi chúng sanh đều mong tìm hạnh phúc. Nhưng hầu hết
đều bị che lấp bởi vô minh và ái dục khiến họ thấy
cuộc đời không có gì khác ngoài sự khổ đau. Sự lo âu,
phiền muộn, đói nghèo, già, bệnh và chết–đây là những
phần thưởng mà con người nhận lãnh trong cuộc sống trầm
luân của họ!
“Giờ
đây, ta đã nhận thức rõ điều đó, ta không còn thích sống
trong thế giới dục lạc nhỏ bé và luôn thay đổi này. Ta
phải đi tìm chân lý mà nó sẽ mang lại cho ta niềm vui và
sự an lạc vĩnh cửu. Nhưng làm sao ta có thể an lòng chỉ
biết tìm sự giải thoát khổ đau cho riêng mình? Ta phải tìm
ra con đường cứu độ cho mọi chúng sanh khác nữa. Những
người ấy đều thân thiết với ta, và họ đang quá khổ
đau! Ta phải đi tìm ra con đường chấm dứt sự đau khổ
này và chia xẻ sự giải thoát đó với những người khác”.
Sau
buổi tọa thiền quán tâm từ bi này kết thúc, thái tử Tất
Ðạt Ða liền mở mắt. Bấy giờ hiện ra trước mặt thái
tử là một đạo sĩ phục sức giống như kẻ hành khất nghèo,
mà từ trước nay thái tử chưa từng gặp thấy. Cặp mắt
của vị đó rất hiền từ và trong sáng với khuôn mặt lộ
vẽ hết sức bình an.
Thái
tử hỏi: “Hãy cho ta biết ngươi là ai?”.
Vị
đạo sĩ trả lời: “Ta là người cảm thấy ghê sợ trước
những khổ đau của trần thế. Ta nhàm chán các thú vui dục
lạc mà mọi kẻ khác đang mong tìm; cho nên giờ đây ta đi
lang thang một mình. Ta đã rời bỏ ngôi nhà của ta; hiện
ta sống và ngủ nơi các hang động, trong rừng hoặc bất cứ
nơi nào mà ta gặp thấy. Nguồn vui duy nhất của ta là mong
đạt được sự an lạc toàn hão và giải thoát cùng tột
nhất”. Vừa nói xong những lời này, vị đạo sĩ như có
phép lạ liền biến mất, bỏ mình thái tử ở lại với sự
kinh ngạc và lòng ngập tràn niềm vui.
Thái
tử thầm nghĩ: “Cuối cùng ta đã tìm thấy ý nghĩa chân
thật của sự sống. Ta cũng sẽ từ giã cung điện của ta
để bắt đầu đi tìm chân hạnh phúc và con đường chấm
dứt mọi khổ đau”.
Với
tâm nguyện dõng mãnh và ý chí cương quyết, thái tử leo lên
ngựa Kiền Trắc và trở về hoàng cung.
12
VUA TỊNH PHẠN LO LẮNG
Sau
khi về đến cung điện, thái tử liền đi thẳng vào phòng
của vua cha. Thái tử chấp tay lại vì theo tục lệ khi muốn
thỉnh cầu một việc quan trọng, và thưa: “Con muốn trở
thành người du sĩ không nhà để mong tìm ra con đường chấm
dứt mọi khổ đau. Xin phụ vương, cho con được phép rời
hoàng cung”.
Từ
khi thái tử còn nhỏ, đức vua đã lo sợ một ngày nào đó
Ngài sẽ được nghe lời thỉnh cầu khủng khiếp này. Cho
nên vua cha hết sức kinh hoàng khi nghe thái tử thốt ra câu
nói như vậy. Bằng giọng nói nghẹn ngào trong nước mắt,
vua cha trả lời: “Con yêu quý, đừng nghĩ đến việc rời
cung điện. Con đang còn quá nhỏ để có thể theo đuổi cuộc
sống không gia đình của một thánh nhân. Hãy chờ tới ngày
con lớn khôn. Hiện tại, con nên ở lại kinh thành Ca Tỳ La
Vệ và cai trị vương quốc này”.
“Thưa
phụ vương, con sẽ chỉ ở lại nơi đây, nếu cha có thể
hứa giúp con đạt được bốn điều sau đây: Hãy quyết chắc
rằng con sẽ không bao giờ trở nên già; con sẽ không bao giờ
mắc bịnh tật; con sẽ không bao giờ chết và con sẽ không
bao giờ khổ đau. Nếu phụ hoàng không thể giúp con thực
hiện các điều trên, thì con sẽ phải rời cung điện ngay”.
Vua
Tịnh Phạn sửng sốt khi nghe thái tử bày tỏ những ý tưởng
lạ lùng này, và Ngài bắt đầu giận dữ. Ðức vua la lớn:
“Này Tất Ðạt Ða, hãy quên đi những ý tưởng điên rồ
đó”.
Nhưng
thái tử vẫn cương quyết nói: “Thưa phụ vương, nếu cha
không thể cứu con thoát khỏi những sự khổ vì cảnh già,
bệnh, chết và bất an, thì cha nên để con ra đi hầu mong
tìm con đường tự cứu lấy mình. Thật là vô lý nếu phụ
hoàng cứ giam giữ con mãi như tù nhân ở đây”.
Tuy
nhiên, hoàng thượng không muốn nghe gì nữa, và ông nổi cơn
thịnh nộ, quát tháo om sòm truyền lịnh cho các quần thần:
“Ðừng để thái tử vượt thành ra đi! Hãy mang quân lính
đến vây kín hoàng thành!”
13
XUẤT GIA
Thái
tử Tất Ðạt Ða rời cung điện của phụ hoàng và trở về
phòng của mình. Thái tử đi ngang qua các dãy phòng trang hoàng
đẹp đẽ, những hành lang rực, rỡ, các vòi nước lấp lánh,
và tiến vào phòng của mình ở lầu trên. Thái tử đi ngang
qua giữa các nhạc công lừng danh và những thị nữ xinh đẹp.
Nhưng không một cảnh trí lộng lẫy nào gây được sự chú
ý nơi tâm hồn thái tử. Người chỉ có một ý tưởng duy
nhất là phải vượt thành ra đi.
Ðêm
ấy, sau buổi cơm tối, hình như một quyền phép lạ nào đã
xâm nhập vào hoàng cung. Các nhạc công, vũ nữ và thị nữ
từng người một lần lượt đều cảm thấy mỏi mệt, và
nằm lăn ra ngủ say. Cuối cùng, ngay cả công chúa Da Du Ðà
La cũng ngủ thiếp đi bên cạnh hài nhi La Hầu La của nàng.
Thái tử nhìn vợ và đứa con thơ đang nằm ngủ và thầm
nghĩ: “Ta nên ẵm con ta vào lòng lần cuối cùng trước khi
ta vượt thành xuất gia nhưng làm vậy có thể khiến Da Du
Ðà La thức giấc. Như thế rất khó cho ta ra đi. Không được,
ta phải nhanh chóng, và yên lặng rời khỏi cung điện, trước
khi bất cứ ai có thể thức dậy”.
Bước
đi nhẹ nhàng giữa những thân người đang say ngủ, thái tử
đến cửa sổ, trèo qua mái nhà và tuột xuống đất. Thái
tử đến nơi Xa Nặc, người đánh xe ngựa đang ngủ và nhẹ
nhàng đánh thức anh ta dậy: “Nhanh lên, Xa Nặc, thắng yên
cương vào ngựa cho ta. Ta muốn ra đi đêm nay”.
Xa
Nặc rất ngạc nhiên việc thái tử muốn vượt thành xuất
gia vào giữa đêm khuya, nhưng y vẫn làm theo lời yêu cầu
của thái tử. Xa Nặc sửa soạn ngựa Kiền Trắc và mang đến
cho thái tử. Tất Ðạt Ða vỗ về con ngựa và khẽ nói: “Này
Kiền Trắc, bạn thân của ta, chúng ta nên giữ im lặng. Ta
không muốn làm thức giấc bất cứ tên lính gác nào. Ðêm
nay là một đêm rất trọng đại”.
Thái
tử, Xa Nặc và ngựa Kiền Trắc, khi cả ba ra tới các cổng
thành vững chắc gần những công viên, các cửa tự động
mở ra. Họ yên lặng tiến ra ngoài thành trong đêm tối. Khi
họ đến cạnh một thành phố, thái tử nhìn lui và phát nguyện:
“Chừng nào ta chưa tìm ra được con đường giải thoát mọi
khổ đau, ta sẽ không trở về lại kinh thành Ca Tỳ La vệ
rực rỡ này!”
Cả
ba đi suốt đêm. Khi mặt trời sắp mọc, họ tới một khu
rừng yên tĩnh, tại đây có nhiều đạo sĩ đang ẩn tu. Thái
tử sung sướng và tự nghĩ: “Giờ đây chuyến đi tầm đạo
thực sự của ta mới bắt đầu”. Rồi thái tử quay sang
nói với Xa Nặc: “Này Xa Nặc thân mến, ta cám ơn sự giúp
đỡ của con. Ta đã tới nơi ta mong muốn. Bây giờ ta nhờ
con mang con ngựa của ta trở về hoàng cung”.
Xa
Nặc không tin rằng Thái tử sẽ không cùng với mình đi trở
về cung điện. Cho nên anh ngạc nhiên đứng nhìn, mắt chứa
chan đầy lệ. Thái tử thấu hiểu nỗi đau buồn của người
hầu cận và rất dịu dàng nói với anh ta lần nữa: “Này
Xa Nặc trung thành của ta, con chớ nên khóc lóc. Sớm muộn
gì rồi chúng ta cũng sẽ phải chia tay. Ðây, hãy nhận giữ
lấy những đồ trang sức mà ta đang dùng; ta sẽ không cần
thiết đến chúng nữa. Con hãy trở về hoàng cung và báo cho
phụ vương ta biết rằng ta đã không ra đi trong sự giận
hờn. Không phải ta không mến yêu gia đình ta nữa. Nhưng vì
quá yêu thương thân quyến hoàng tộc của ta mà nay ta đành
phải tạm xa lià tất cả. Nếu ngày nào ta tìm ra con đường
giải thoát, chấm dứt mọi khổ đau, ta sẽ trở về thăm
quê hương. Nếu không thành công thì việc rời bỏ kinh thành
của ta hôm nay vẫn phải xảy ra một ngày nào. Vì sớm muộn
gì thì sự chết sẽ đến để bắt chúng ta chia lìa. Giờ
đây chúng ta hãy đi để ta bắt đầu công cuộc tầm đạo”.
Xa
Nặc nhận thấy rằng không làm sao có thể lay chuyển được
ý chí của thái tử. Người cầm lấy giây cương ngựa Kiền
Trắc từ nơi tay thái tử và chậm rãi hướng dẫn cho ngựa
cất bước. Xa Nặc và ngựa Kiền Trắc nhiều lần nhìn lui
thái tử với những cặp mắt đầy lệ. Cuối cùng cả hai
về đến thành Ca Tỳ La Vệ, tại đây Xa Nặc có bổn phận
đau buồn trong việc thuật lại cho mọi người biết rằng
thái tử Tất Ðạt Ða đã vĩnh viễn từ bỏ cuộc sống nơi
hoàng cung.
14
CUỘC TẦM ÐẠO BẮT ÐẦU
Ðứng
một mình trong rừng, chuẩn bị khởi đầu cho cuộc tầm đạo
cao cả của mình, Tất Ðạt Ða thầm nghĩ: “Từ nay trở
đi ta không còn là một hoàng tử nữa. Cho nên, thực là không
thích hợp, nếu ta tiếp tục sống và phục sức như một
vương tử”. Thái tử lấy dao cắt đứt mái tóc dài và óng
mướt của mình, biểu tượng cho vương quyền. Rồi thái tử
đến tiếp xúc, nói với người thợ săn nghèo khổ: “Này
ông bạn, tôi không cần dùng các xiêm lụa là này nữa. Nếu
muốn sống ẩn tu trong rừng, tôi chỉ cần mặc loại áo vải
thô sơ như ông. Vậy chúng ta hãy cởi bỏ y phục ra để trao
đổi”. Ông thợ săn mừng rỡ và nhanh chóng bằng lòng theo
lời đề nghị của Tất Ðạt Ða trao đổi quần áo tồi
tàn của mình để nhận nơi thái tử những y phục sang trọng
đắc tiền.
Giờ
đây phục sức như một nhà tu, khổ hạnh, thái tử Tất Ðạt
Ða bắt đầu đi tìm một vị thầy có thể chỉ bày cho người
con đường chấm dứt được tất cả mọi khổ đau. Thái
tử du hành qua những khu rừng mong tìm gặp các thánh nhân
để học hỏi đạo lý. Ngài được mọi người khắp nơi
niềm nở tiếp đóan với sự kính trọng. Mặc dù thái tử
mặc áo quần rách rưới và dùng thức ăn thanh đạm mà người
xin được, nhưng hình dáng thái tử trông vẫn còn đẹp trai
và hấp dẫn. Các đạo sĩ trong rừng khi nhìn thấy thái tử
đi tới họ liền nói với nhau: “Ðây tới thêm một nhân
vật rất đặc biệt. Khuôn mặt của ông ta trông sáng quắc
và đầy cương quyết! Con người đó mà đi tìm Chân lý, chắc
thế nào cũng chứng đạo”.
Tất
Ðạt Ða tìm gặp nhiều đạo sư để học hỏi, nhưng người
không thỏa mãn với những điều đã học được nơi họ.
Thái tử suy nghĩ: “Những điều các đạo sĩ chỉ dạy rất
bổ ích, nhưng không hướng dẫn con người đến cảnh giới
hạnh phúc hoàn toàn”. Cuối cùng, thái tử hay tin có vài
đạo sĩ thấu triệt chân lý đang sống ở vương quốc Ma
Kiệt Ðà (Magadha) (13), dưới quyền trị vì của vua Tần Bà
Sa La (Bimbisara) (14). Cho nên thái tử quyết định du hành xa
về phía nam và đông để tìm gặp họ.
Ngày
nọ, lúc thái tử đến thành vương xá (Rajagriha) (15), thủ
đô nước Ma Kiệt Ðà, người đi ngang qua gần cổng thành.
Một quan đại thần của vua Tần Bà Sa La nhìn thấy thái tử
liền chạy đến gặp đức vua.
Ông
nôn nóng thưa rằng: “Tâu hoàng thượng, hạ thần vừa trông
thấy một đạo sĩ hết sức lạ thường xuất hiện trong
thành phố. Ông ta mặc áo quần rách rưới và đến từng
nhà xin thức ăn, nhưng hạ thần quyết chắc rằng đạo sĩ
đó là một vĩ nhân. Khuôn mặt của người trông rất từ
bi với dáng đi hết sức trang nghiêm. Và hầu như nơi đạo
sĩ toả ra một ánh sáng đặc biệt.”
Nhà
vua rất vui mừng cho mời đạo sĩ Tất Ðạt Ða đến gặp.
Cả hai đàm luận trong giây lát, đức vua vô cùng khâm phục
trước sự sáng suốt, đức tính khiêm cung và lòng từ tâm
của vị đạo sĩ. Rồi đức vua nói: “Trẫm chưa bao giờ
gặp một nhân vật nào mà trẫm có thể đặt trọn niềm
tin vào họ hơn đạo sĩ. Xin Ngài hãy ở lại thành Vương
Xá để giúp trẫm cai trị vương quốc này”.
Nhưng
Tất Ðạt Ða lễ phép trả lời:“Thưa Ðại Vương, bần
đạo đã có dịp cai trị một vương quốc, nhưng bần đạo
đã từ chối. Bần đạo không thích sống trong cảnh phú quý
và có quyền lực mà chỉ muốn đi tìm chân lý. Bần đạo
cám ơn về sự dâng hiến của Ngài nhưng bần đạo đến
xứ sở này chỉ mong gặp các vị minh sư có thể giúp bần
đạo tìm ra chân lý”.
Rồi
đức vua cúi đầu chào vị đạo sĩ mặc y phục rách rưới
và nói: “Trẫm cầu chúc đạo sĩ gặp nhiều may mắn trên
đường tầm đạo. Nếu ngày nào Ngài chứng ngộ được chân
lý mà Ngài đang đi tìm, xin Ngài trở lại đây để chỉ dạy
cho trẫm hiểu cái đạo lý ấy. Ngay cả trường hợp nếu
đạo sĩ không thành công, trẫm cũng luôn luôn mong được
tiếp đón Ngài trở lại kinh đô vương quốc này”.
Tất
Ðạt Ða cám ơn nhà vua rất nhiều và đạo sĩ tiếp tục
cuộc hành trình.
15
SÁU NĂM TU KHỔ HẠNH
Rồi
sa môn Tất Ðạt Ða đến khu rừng nơi có các đạo sĩ thông
bác đang tu tập. Ðầu tiên ông học đạo với Ngài A La La
(Arada)(16) và sau đó với Ngài Uất Ðầu Lam Phất (Udraka)(17).
Trong thời gian ngắn, ông đều thông hiểu hết mọi điều
mà các đạo sư này chỉ dạy. Nhưng ông vẫn chưa thỏa mãn,
và tự nghĩ: “Thầy của ta mặc dù là những đạo sư thánh
thiện, song mọi lời chỉ giáo của họ vẫn không giúp con
người chấm dứt được những sự khổ đau. Cho nên ta phải
cố gắng tự mình đi tìm ra chân lý.”
Sa
môn tiếp tục cuộc hành trình cho tới khi đến dòng sông
Ni Liên Thuyền (Nairangana)(18), gần thành phố linh thiêng Ca
Da (Gaya)(19). Sa môn vượt qua sông và đi vào khu rừng bên kia
bờ sông. Tại đây ông gặp nhóm năm đạo sĩ đang tu tập.
Cuộc sống của họ thật hết sức giản dị. Họ dùng rất
ít thức ăn, sống ngoài trời, và ngồi yên tĩnh thiền định
nhiều giờ mỗi ngày.
Sa
môn hỏi những đạo sĩ này:
“Tại
sao quý vị tự hành hạ làm đau đớn thân xác mình như vậy.”
Họ
trả lời: “Phần đông mọi người trên thế gian đều nuông
chìu quý mến thân thể của mình, cho nên họ đang còn chịu
nhiều đau khổ. Chúng tôi nghĩ rằng nếu chúng ta có thể
khống chế sự đau đớn chúng ta sẽ tìm ra phương pháp khắc
phục được những khổ đau”.
Sa
môn Tất Ðạt Ða thầm nghĩ: “Nhiều năm qua, ta sống trong
các cung điện đầy thú vui dục lạc. Ta đã quá nuông chìu
thân xác của mình cho nên tâm ta không tìm thấy sự an lạc.
Có thể những đạo sĩ này nói đúng. Ta sẽ tham dự cùng
với họ thực hành để thử xem phương pháp này dẫn đến
chấm dứt được sự khổ hay không.”
Rồi
ông bắt đầu thực tập những phương cách tu hành vất vả
và khó nhọc nói trên. Sa môn ngồi liên tục nhiều giờ tại
một chỗ. Mặc dù chân và lưng của người rất đau đớn,
nhưng ông vẫn không lay động. Sa môn tự thiêu đốt thân
mình dưới ánh nắng hè cháy bỏng và làm tê cóng da thịt
bởi những làn gió đông lạnh buốt. Sa môn chỉ dùng vừa
đủ thức ăn để duy trì sự sống. Và cho dù khổ nhọc đến
đâu, ông vẫn tự bảo: “Ta phải tiếp tục để tìm ra con
đường chấm dứt mọi khổ đau”.
Năm
người bạn cùng tu nhìn sa môn Tất Ðạt Ta, đầy kinh ngạc.
Họ nói với nhau: “Chúng ta chưa thấy ai có quyết chí tu
hành như vị này. Ông ta luôn tinh tấn và không bao giờ thối
tâm. Người sắp thành công bằng lối tu khổ hạnh này sẽ
là Tất Ðạt Ða. Chúng ta nên đến ngồi sát cạnh sa môn
để khi người tìm ra được con đường chánh đạo, chúng
ta sẽ có thể tu học với ông”.
Sa
môn Tất Ðạt Ða ngày càng hành hạ thân xác mình nhiều hơn.
Ban đầu ông chỉ ngủ vài giờ mỗi đêm; nhưng sau đó người
chấm dứt hoàn toàn không ngủ nghỉ gì hết. Thường khi sa
môn dùng mỗi ngày một bữa ăn thanh đạm, nay người cũng
không ăn nữa. Ông chỉ dùng vài hạt ngũ cốc cốc và trái
nạc do gió thổi vào vạt áo của người.
Sa
môn ngày càng trở nên ốm gầy. Thân thể của ông mất đi
vẻ đẹp trong sáng, bao phủ đầy bụi đất và bẩn thỉu.
Nhìn sa môn chẳng khác gì một bộ xương đang sống. Nhưng
người vẫn không từ bỏ sự tu hành khổ hạnh.
Sáu
năm dài trôi qua. Khi rời cung điện và từ bỏ mọi thú vui
trần tục, sa môn Tất Ðạt Ða đúng hai mươi chín tuổi.
Nay ông được ba mươi lăm trải qua sáu năm tu hành khắc khổ
trong sự ăn uống, ngủ nghỉ, ẩn trú và phục sức. Ngày
kia, sa môn thầm nghĩ: “Nay ta có tiến gần chút nào đến
mục đích tầm đạo giải thoát của ta hơn sáu năm trước
chăng? Hay ta vẫn đang còn mê mờ như xưa? Khi làm thái tử
sống trong cảnh giàu sang phú quý, ta thụ hưởng đủ mọi
điều mà một vị hoàng tử có thể mong ước có được.
Ta đã phung phí nhiều năm trong các ngục tù lạc thú đó.
“Rồi
ta xuất gia đi tu và bắt đầu công cuộc tầm đạo. Ta đã
sống trong rừng, các hang động và chưa gặt hái được kết
quả gì ngoài sự nhịn ăn và hành hạ xác thân. Nhưng ta vẫn
không tìm ra con đường chấm dứt mọi khổ đau. Giờ đây
ta có thể nhận thấy đó là một sự sai lầm trong việc tự
hủy hoại thân thể của mình như thế này, chẳng khác gì
sự nhầm lẫn là ta đã phí phạm nhiều thì giờ trước kia
trong các cung điện hoàng gia. Ðể tìm ra chân lý, ta nên theo
con đường trung đạo nằm giữa hai cuộc sống quá dục lạc,
và quá ép xác khổ hạnh”.
Sa
môn nhớ lại nhiều năm trứơc, sau khi nhìn thấy cảnh một
người chết, ông đã ngồi thiền định dưới gốc cây hồng
táo. Sa môn thầm nghĩ: “Sau lần tham thiền đó, tâm ta trở
nên rất định tinh. Lần đầu tiên ta có thể sáng suốt nhìn
thấy rõ ràng các sự vật. Giờ đây ta sẽ cố gắng thiền
định trở lại như thế”.
Nhưng
khi nhìn lại mình, sa môn nhận thức rằng: “Ta đã ngồi
đây tu tập nhịn ăn trong nhiều năm hiện giờ thân ta mệt
mỏi, đầy dơ bẩn và suy yếu. Ta ốm gầy đến nỗi chỉ
còn da bọc xương. Làm sao ta có thể thiền định sáng suốt,
quán sát sự vật khi thân mình dơ nhớp và quá đói khát”.
Sa
môn từ từ đứng dậy đi xuống sông tắm. Nhưng người quá
yếu sức gần như muốn ngã chìm nước. Sa môn nỗ lực cố
gắng vươn mình để tiến lên bờ. Rồi Ngài ngồi trong giây
lát, nghỉ ngơi.
16
TÍN NỮ CÚNG DƯỜNG