CHƯƠNG
TÁM
NHỮNG
CHỐN ẨN TU
Bấy
giờ Retchung hỏi, “Bạch Đạo sư, không có cái gì kỳ diệu
hơn tinh túy cuộc đời Thầy, nó thật là một chất liệu
cho hoan hỷ và an vui. Nhưng hình thức bên ngoài của nó lại
gây ra đau thương và nước mắt. Xin Thầy nói cho chúng con
về những mặt của cuộc đời Thầy đem lại nụ cười hoan
hỷ.”
Đạo
sư trả lời, “Hình thức của đời thầy gây ra nụ cười
hoan hỷ là nỗ lực kiên trì của thầy trong thiền định
đưa đến sự phụng sự của thầy cho Pháp bằng cách hướng
dẫn những chúng sanh người và chẳng-phải-người đến giải
thoát.”
Retchung
hỏi, “Bạch Đạo sư, ai là những đệ tử người và chẳng-phải-người
đầu tiên ấy ?”
Đạo
sư trả lời, “Trước hết, là những chúng sanh chẳng-phải-người
đến quấy phá thầy và sau họ là những đệ tử người
đầu tiên. Rồi thì thiên nữ Tseringma(1) đến gặp thầy trong
hình thức con người. Cuối cùng những đệ tử người khác
xuất hiện. Bây giờ thầy thấy trước rằng thiên nữ Tseringma
và đệ tử Upa Tonpa (Gampopa) từ vùng UŠ sẽ truyền rộng
giáo pháp của thầy.” Đạo sư nói như vậy.
Repa
xứ Seban bấy giờ thưa hỏi, “Bạch Đạo sư, những chỗ
ẩn tu chính yếu là Lachi và Chuwar. Ngoài những hang núi Thầy
đã nói ở trước, Thầy còn thiền định ở những chỗ nào
khác ?”
Milarepa
trả lời, “Núi Yolmo Gangra ở Nepal ; sáu ngoại động nổi
tiếng ; sáu nội động vô danh, sáu động bí mật, và hai
cái khác, tất cả là hai mươi hang động. Ngoài ra có bốn
động lớn nổi danh và bốn động lớn vô danh. Đó là tất
cả chỗ thiền định của thầy, trừ một số nhỏ hơn nhưng
điều kiện thì tiện lợi. Một kết quả của thiền định
là thầy đã hoàn thành sự thức tỉnh toàn triệt, trong đó
đối tượng để thiền định, hành động thiền định và
chủ thể người thiền định tan hòa thành một, đến độ
bây giờ thầy không biết làm sao thiền định nữa.”
Bấy
giờ Retchung nói, “Bạch Đạo sư, bởi vì Thầy đã hoàn
toàn xóa sạch những nhiễm ô của phân biệt, những đệ
tử tầm thường này của Thầy biết ơn Thầy sâu xa vì niềm
vui do đã thành tựu cái hiểu chân thật và kinh nghiệm đích
thực. Vì lợi lạc tâm linh của những đệ tử đời tương
lai, xin Thầy kể cho từng hang động thuộc loại nổi danh,
ít nổi danh, và vô danh cũng như những động lớn.”
Đạo
sư trả lời :
“Sáu
ngoại động nổi danh là : động loại trung Dakar Taso Umadzong
(Núi Răng Ngựa Trắng), Minkyud Dibma (Bóng Thất Tinh), Lingpa
Dakmor Dzong (Núi Đỏ), Ragma Jangchub Dzong (Động Ragma của Giác
Ngộ), Kyangphen Namkha Dzong (Cờ của Bầu Trời), Dagkya Dorje
Dzong (Kim Cương Núi Xám).
“Sáu
nội động vô danh là : Chonglung Kyung (Kên Kên xứ Chonglung),
Kyipuh Nyima Dzong (Lâu Đài Trên của Niềm Vui), Khujuk Enpa Dzong
(Chim Cu Cô Đơn), Shelpunhk Chushing Dzong (Cây Tre Pha Lê), Betse
Doyon (Lạc Thú Giác Quan xứ Betse), Tsikpa Kangthil Dzong (Nền
Tường).
“Sáu
động bí mật là : Gyadak Namkha Dzong (Núi và Trời), Takpuhk
Senge Dzong (Sư Tử và Cọp), Beypuhk Mama Dzong (Động Bí Mật
của Thiên Nữ), Lapuhk Pema Dzong (Hoa Sen của Động), Lango Ludu
Dzong (Cửa Voi của chư Long), Trogyel Dorje Dzong (Vua Kim Cương
Hung Nộ).
“Hai
động khác là : Kyipušhk Nyima Dzong (Lâu Đài Mặt Trời của
Niềm Vui), và Potho Namkha Dzong (Bầu Trời của những Chót Đỉnh).
“Bốn
động lớn nổi danh là : Nyanang Dopa Puhk (Động Nyanang như
cái Bao Tử), Lachi Dudal Puhk (Người Chinh Phục Ma xứ Lachi),
Dringi Diche Puhk (Lưỡi Dri vùng Drin). Tisi Dzutrul Puhk (Động
Phép Lạ của Núi Kailas). Bốn động vô danh là : Tsai Kangtsuk
Puhk (Động Gốc Rễ Kiên Cố), Rongi Osey Puhk (Tịnh Quang của
Ron), Ralai Zaok Puhk (Động Lụa của Núi Dê), Kuthangi Puhkron
Puhk (Động Bồ Câu xứ Kuthang).
“Nếu
các con thiền định trong những hang động này các con sẽ
có được hoàn cảnh hoang vắng và thuận lợi. Hãy đến đấy
và thiền định, các con sẽ có những ban phước của dòng
phái.”
Khi
Đạo sư nói vậy, mọi đệ tử và tín đồ cảm thấy một
ghê sợ đối với sanh tử và một sự khẩn thiết cần giải
thoát, và xúc động sâu xa bởi niềm tin và lòng bi không bờ
bến.
Vì
một sự chán ghét sâu xa đối với những phù phiếm của
Tám Phản Ứng Thế Gian, họ hồi hướng toàn thể thân, ngữ,
tâm mình cho Phật pháp và sự lợi lạc của chúng sanh. Họ
thệ nguyện dừng những chuyến đi đây đó và thiền định
trong núi hoang vu với quyết tâm, kiên trì và khổ hạnh mãnh
liệt. Những vị thần hộ pháp hứa bảo vệ giáo pháp.
Những
người thiện căn nhất trong hàng tại gia từ bỏ cuộc đời
thế gian, và nhiều người nam nữ theo Đạo sư thiền định
và tỉnh ngộ bản tánh chân thật của thực tại. Những tín
đồ kém hơn thì nguyện thiền định vài tháng hay vài năm.
Ngay cả những người mới tu cũng phát nguyện từ bỏ ít
nhất một tật xấu và thực hành ít nhất một đức hạnh
trong quãng đời còn lại của họ. Mọi người đều hoàn
thành những lời nguyện của mình.
Tôi
đã ghi chép lại đúng những lời Đạo sư đã nói, tỏ bày
Ngài đã làm lợi lạc lớn lao cho tất cả những người theo
con đường thiền định như thế nào.
Bây
giờ tôi sắp mở rộng ra một ít về cuộc đời của Đạo
sư.
Có
ba nhóm lớn những tín đồ : những chúng sanh chẳng phải
người hung ác mà Đạo sư đã hàng phục ; những đệ tử
hành giả mà Đạo sư đã dẫn dắt đến giải thoát và những
tín đồ tại gia ở mọi cấp độ từ những vùng khác nhau
mà vì họ Đạo sư đã chuyển Bánh Xe Pháp.
Thứ
nhất, về sự thu phục những chúng sanh chẳng phải người
: Đạo sư đã ban cho Quỷ Vương Binakaya ở Núi Đỏ miền
Chonglung giáo pháp Sáu Cách Thức Giác Lama Của Mình.(2) Theo
những chỉ dạy của Lama Marpa, Đạo sư đã đi Lachi để thiền
định. Khi đại Thần Ganesha (Vua của những Lực Lượng Ngăn
Ngại) chấp nhận những điều luật, Đạo sư hát về Lachi
Chuzang. Năm sau, khi Ngài đi đến Neti ở Lachi, Ngài hát Bài
Ca Tuyết nổi tiếng. Thuận theo những chỉ dạy của Lama,
và muốn đến núi Peybar ở Mangyul và đến Yolmo Gangra ở Nepal,
Ngài đi qua Gungthang. Thấy Động Lingpa hấp dẫn, Ngài ở lại
đó một thời gian và hát một bài ca cho Nữ Quỷ của Động
Lingpa. Ở Ragma, Động của Giác Ngộ, sát núi Peybar, Ngài hát
bài ca làm bình lặng Nữ Thần Trái Đất và một thần linh
địa phương ở tại Động Ragma.
Khi
sống ở Kyangphen Namkha Dzong (Cờ của Bầu Trời), Đạo sư
đã làm việc cho lợi lạc của nhiều chúng sanh người và
chẳng-phải-người. Từ đây, Ngài đi đến Núi Yolmo Gangra
và sống trong Động Takpuhk Senge Dzong (Động của Sư Tử và
Cọp) trong rừng của Singala, làm lợi lạc cho nhiều chúng
sanh người và chẳng-phải-người. Thời gian đó Ngài nhận
được một dấu hiệu bảo Ngài trở lại Tây Tạng, để
thiền định trong núi vắng và làm việc cho lợi lạc của
chúng sanh. Trở lại Tây Tạng, Ngài ở trong một cái Động
ở Gungthang và hát Bài Ca của những Chim Bồ Câu.
Thứ
hai, về việc Ngài gặp những đứa con tâm linh : Khi Đạo
sư đang sống ở Động Dagkya Dorje Dzong (Kim Cương Núi Xám)
và thiền định vì lợi lạc của chúng sanh, yidam báo trước
cho Ngài biết tất cả những đệ tử sẽ đến, đặc biệt
là Retchung Dorje Drakpa, người có sứ mạng đem về giáo pháp
truyền khẩu của những dakini từ những địa điểm đặc
biệt. Và khi Đạo sư ở Ralai Zaok Puhk (Động Lụa của Núi
Dê) ở Gungthang, Ngài gặp đứa con tâm linh Retchung. Về sau
Retchung đi Ấn Độ để chữa một bệnh và khi trở về, Đạo
sư và đệ tử đã gặp lại nhau.
Trong
Động Ronpuhi Osey Puhk (Động Tịnh Quang) Ngài gặp Tsakuph Repa,
và khi đi đến Ragma Jangchub Dzong (Động Giác Ngộ), Ngài gặp
Sangye Kyab Repa (Người Che Chở Giác Ngộ). Rồi ngài đến Động
Nyanang, nơi đó Ngài gặp Shakyaguna xứ Kyo, người trước kia
đã là một tín đồ, và đưa ông vào con đường giải thoát
bằng cách ban cho quán đảnh và giáo huấn.
Trên
đường đến Tago phía bắc, Ngài gặp một phụ nữ là Pey
Dar Bum (Trăm Ngàn Ngọn Cờ Vinh Quang) ở Losum phía dưới Chung.
Trên
đường trở về Ngài gặp Repa xứ Seban ở Yeru trong vùng bắc.
Khi
đến Gyalgyi Sri xứ Latoš, Ngài gặp Repa xứ Digom.
Khất
thực trong mùa thu, Ngài gặp Shiwa OŠ Repa (Ánh Sáng Bình An)
ở Chumig Ngulchu Bum (Một Trăm Ngàn Chuỗi Hạt Thủy Ngân).
Rồi,
ở Bachak Gora xứ Chenlung, Ngài gặp Repa xứ Ngan-dzong (Động
Ác).
Khi
sống ở Lachi, những dakini yêu cầu Ngài thực hiện một lời
tiên tri của lama. Trên đường đến Núi Kailas, Ngài gặp Dampa
Kyakpuhwa. Khi đến Núi Lowokere, Ngài gặp Repa xứ Karchung. Khi
trải qua mùa đông trên những sườn tuyết của Ditse (Đỉnh
Di) ở Purang, Ngài gặp Darma Ouangchuk Repa. Trong mùa xuân, đi
đến Núi Kailas, Ngài hát về Kailas, nơi Ngài hàng phục tu
sĩ đạo Bošn Naro Bošnchung trong một cuộc so tài về thần
thông.
Rồi
Ngài trở về Dagkya Dorje Dzong (Kim Cương Núi Xám) nơi Ngài
Gặp Repa xứ Rongchung. Trên đường đi được những dakini
hướng dẫn, Ngài đến Beypuhk Mamo Dzong (Động Bí Mật của
các Thiên Nữ). Ở đó vài ngày, một người chăn cừu tên
là Lukdzi Repa tìm ra Ngài, người này về sau trở thành một
nhà hiền triết. Rồi Ngài gặp Repa Ẩn Giả xứ Shen ở Lapuhk
Pema Dzong (Hoa Sen của Động). Hai người này về sau phục vụ
Ngài, khi Ngài sống ở Động Lango Ludu (Cửa Voi của chư Long)
và ở Động Bí Mật của các Thiên Nữ.
Khi
du hành đến Chorodig, Ngài gặp một phụ nữ tên là Retchungma.
Và ở Nyishang Gurta xứ Mon, Ngài gặp Repa Người Thợ Săn.
Chính ông là người đã làm cho Đạo sư nổi danh ở Nepal.
Do một thông điệp của thiên nữ Tara,(3) Vua xứ Khokhom tôn
vinh Ngài.
Khi
đi đến Chuwar, Ngài dạy những đệ tử về ba nghi thức làm
lành để triệu thỉnh thiên nữ Tseringma. Đi xuống Drinding,
Ngài gặp Dorje Ouangchuk Repa. Khi Đạo sư và những đệ tử
ở trong Động Beypo ở Nyanang, Ngài gặp vị thánh Ấn Độ
Dharma Bodhi, vị này tôn kính Ngài. Bởi vì danh tiếng của
Milarepa tăng trưởng, Darlo, một pháp sư về giáo nghĩa ganh
tỵ và thách Ngài tranh luận. Đạo sư đã trả lời trong chiến
thắng với trí huệ cao cả và với sự thực hiện những
việc thần thông. Sau đó Ngài hát những bài ca về Retchung
và Tibu. Trong thời gian này Ngài gặp Repa xứ Megom ở Động
Như Cái Bao Tử. Ở Naktra (Những Dãi Đen), một động của
xứ Nyanang, Ngài gặp một thiếu nữ trẻ tên là Sallay OŠ
Rema (Ánh Sáng Chiếu Soi).
Rồi
Đạo sư rút về Động Núi Đỏ trên một gờ núi cao. Ngài
đã biết trước Retchung đang về từ Ấn Độ và đi gặp
ông. Đây là một dịp đặc biệt cho Bài Ca Sừng Trâu Yak
và Bài Ca Con Lừa Hoang Dã.
Rồi
khi đến Chuwar, Ngài gặp Repa Ẩn Sĩ xứ Len đến từ Dagpo.
Trên ngọn đồi Trode Tashigang (Hạnh Phúc Được Ban Phước),
Ngài gặp Gampopa Dao Shonnu, nhà sư không gì sánh làm y sĩ ở
Dagpo, vị này là một Đạo sư của Kim Cương thừa. Là một
Đại Bồ tát, ngài tái sanh trong hình thức con người cho lợi
lạc của chúng sanh, như đã được đức Phật huyền ký.
Gampopa trở thành đệ tử vĩ đại nhất của Đạo sư.
Đạo
sư đang ở Omchung (Cây Thánh Liễu Nhỏ) vùng Chuwar, Ngài gặp
nhà sư Lotošn, vị này ban đầu chống đối Ngài và sau trở
thành đệ tử của Ngài. Rồi khi sống ở Động Kyipušhk Nyima
Dzong (Lâu Đài Mặt Trời của Niềm Vui), Ngài gặp Dreton Trashibar.
Trong thời gian Đạo sư đi vào thực tập những thần lực
yoga vĩ đại, một nhà sư tên là Charuwa xứ Likor theo hầu
hạ Ngài.
Như
đã được những dakini tiên tri, Đạo sư đã có trong hàng
đệ tử tám đứa con tâm linh, mười ba đệ tử thân thiết
và bốn nữ đệ tử. Tất cả hai mươi lăm vị này trở thành
những Đạo sư Giác Ngộ. Có một bản liệt kê nói rộng
về những cuộc gặp gỡ của Ngài với mỗi người trong số
này, rất phong phú về trao đổi và kinh nghiệm (Một Trăm
Ngàn Bài Ca của Milarepa).
Thứ
ba, về những đệ tử và những tín đồ tại gia từ nhiều
vùng, Đạo sư nói Ngài đã gặp những đại đệ tử ở những
động vô danh và bí mật như thế nào. Ngài kể lại những
cuộc gặp gỡ này, nhưng không chỉ rõ thứ tự xảy ra. Trong
đó gồm những câu trả lời của Đạo sư cho các câu hỏi
của những nhà sư và cư sĩ. Khi Ngài ở với Gampopa, Ngài
kể câu chuyện Ngài đã gặp gỡ một thầy tu đạo Bošn(4)
như thế nào. Rồi đi đến Nyanang, Ngài đã ban cho những quán
đảnh và hướng dẫn buổi lễ truyền pháp và thụ phong.
Ở Tsarma, Ngài gặp hai đệ tử phụ nữ, Shen Dormo và Legse
Bušm. Ở đây Ngài ban cho giáo huấn Chidroš Thigtsakma(5) để
tự sửa soạn cho cái chết.
Rồi
Ngài đi với Retchung đến Lachi, dừng lại ở Động Dudul Puhk
(Người Chinh Phục Quỷ Ma), và lang thang ở vùng lân cận.
Ngài
tiếp tục cuộc du hành và thăm Động Nampuhkma xứ Ramdig (Đâm
Thủng Bầu Trời).
Cuối
cùng, khi ở Động Như Cái Bao Tử miền Nyanang, theo sự thỉnh
cầu của hàng cư sĩ, Đạo sư kể lại vài giai đoạn trong
đời Ngài và bài ca về chuyến đi Tỉnh UŠ của Retchung. Do
dakini Sengdhongma (Mặt Sư Tử), Ngài gặp Dampa, một vị thánh
Ấn Độ, ở Thongla.
Ở
Leshing Ngài cử hành cho mẹ mình một lễ đặc biệt có tên
là Hướng Dẫn Một Cách Bi Mẫn Người Chết Qua Trạng Thái
Trung Ấm. Ở Tsarma Ngài ban những giáo huấn cuối cùng của
Ngài cho những đệ tử cư sĩ và những người dân khác của
xứ Nyanang. Trong chuyến du hành đến Chuwar, Ngài gặp Lhaje
Yangde, một người dân Dingri. Khi đến Chuwar, Ngài hát về
chuyến đi thứ hai của Retchung đến Tỉnh UŠ. Ngài gặp thí
chủ Tashi Tsek ở Lharo vùng Drin. Ở Dakkhar vùng Drin, Ngài gặp
Zessay Bušm (người trước kia ngài đã đính hôn), Khujuk và
những tín đồ cư sĩ khác.
Trên
đỉnh Núi Đỏ, Ngài hàng phục bốn Ma. Ở đó Ngài trả lời
những câu hỏi của một người sùng mộ Kim Cương thừa.
Ngài đem lại niềm vui bao la cho tất cả những đệ tử và
thực hiện những sự biến thân.
Vô
số người đã nhận những giáo lý, công khai và bí truyền,
trong thời gian Đạo sư chuyển Bánh Xe Pháp. Được Đạo sư
hướng dẫn, những đệ tử phát triển cao nhất đã đạt
Giác Ngộ. Những đệ tử kém phát triển hơn được đưa
đến giai đoạn đầu của sự thức tỉnh và được chỉ
cho con đường giải thoát. Người kém phát triển nhất thì
Ngài cũng đưa vào con đường Bồ đề tâm. Qua một sự áp
dụng chuyên cần những điều luật Bồ tát, họ đưa được
đến một cấp độ trí huệ vững chắc. Thậm chí với người
rất kém phát triển nhất, Ngài cũng gieo hạt giống thiện
căn và bảo đảm cho họ đạt được bình an của những cảnh
giới cao hơn trong đời của họ.
Với
lòng bi vô biên như bầu trời, Đạo sư che chở cho vô số
chúng sanh khỏi khổ cảnh của sanh tử và những cõi thấp
bằng cách đem đến cho họ ánh sáng của Phật pháp.
Tất
cả những mặt này của cuộc đời Đạo sư được trình
bày rộng rãi trong Gur Bušm (Trăm Ngàn Bài Ca).
Đây
là chương thứ tám, trong đó Đạo sư phụng sự cho Phật
pháp và cho tất cả chúng sanh qua quả của thiền định của
Ngài.