CHƯƠNG
SÁU
THIỀN
ĐỊNH
Bấy
giờ Retchung hỏi, “Đạo sư Tôn Quý, khi ngài đến nơi quê
nhà, ngài có thấy mẹ ngài còn sống hay sự việc đúng như
ngài nằm mộng ?”
Đạo
sư trả lời, “Đúng như trong giấc mộng kia, thầy không
may mắn gặp lại mẹ nữa.” Bấy giờ Retchung nói, “Bạch
Đạo sư, xin ngài nói cho chúng con ngôi nhà của ngài ra sao
và ai là người ngài gặp đầu tiên ?” Và Milarepa tiếp tục
:
Người
đầu tiên thầy gặp là những người chăn cừu. Đó là chỗ
thung lũng trên cao từ đó thầy có thể thấy căn nhà của
thầy. Làm như không biết, thầy hỏi tên vùng này và những
ai là chủ đất ở đây. Họ thành thật trả lời. Rồi chỉ
ngôi nhà của mình, thầy hỏi, “Và chỗ dưới kia, gọi là
gì ? Tên người chủ là ai ?”
Một
người chăn cừu trả lời, “Căn nhà đó gọi là Bốn Cột
và Tám Xà. Nó không có chủ, chỉ có hồn ma.”
“Những
người ở đó đã chết hay bỏ làng rồi ?” Thầy hỏi.
“Một
thời chủ của ngôi nhà ấy là một người giàu có nhất
vùng. Ông chết sớm, để lại chỉ có một đứa con trai còn
nhỏ. Bởi vì người cha làm chúc thư không khôn ngoan, những
anh em họ lấy mất toàn bộ tài sản của đứa con trai. Khi
đứa con lớn lên, để trừng phạt họ đã chiếm gia tài,
nó đem lại bất hạnh cho làng bằng cách phóng ra những chú
thuật và làm những trận mưa đá.”
“Có
lẽ người ta sợ thần bảo vệ của anh ta và thậm chí không
dám nhìn ngôi nhà và miếng đất, hãy để tôi một mình đến
đó.” Thầy nói.
Người
chăn cừu nói tiếp, “Ngôi nhà chứa hài cốt của bà mẹ
và có hồn ma của bà. Còn đứa em gái của anh ta bỏ hài
cốt mẹ ở đó rồi ra đi đâu mất, không ai biết. Về phần
anh con trai, anh ta đã chết hay mất tích. Có nghe nói có một
cuốn sách thiêng ở trong nhà. Ẩn sĩ, nếu ông dám, hãy đến
xem tận mắt.”
“Những
biến cố ấy xảy ra đã bao lâu ?”
“Người
mẹ đã chết khoảng tám năm trước. Không ai nhớ gì ngoài
những lời nguyền và mưa đá. Tôi cũng chỉ nghe nói về điều
ấy từ những người khác.”
Quả
là những người dân làng sợ thần bảo vệ của thầy như
vậy.
Thầy
nghĩ họ sẽ không dám làm hại thầy. Nhưng sự biết chắc
rằng người mẹ già nua của thầy đã chết và em gái lang
thang làm lòng thầy ngập đầy buồn đau. Thầy khóc, và tìm
chỗ nấp cho đến khi chiều xuống. Đợi trời tối, thầy
đi vào làng.
Thật
đúng như trong giấc mộng của thầy. Thửa đất lấp đầy
cỏ dại. Thầy vào nhà, trước kia nguy nga như một ngôi chùa.
Mưa và bụi rơi trên những cuốn sách kinh, Lâu Đài Châu Ngọc.
Chuột đã làm ổ ở đó, phân chim phân chuột phủ đầy sách
vở. Thấy cảnh đó, thầy chìm trong suy tưởng và lòng thầy
trĩu nặng buồn rầu.
Thầy
đi vào phòng chính. Những đổ nát của lò sưởi trộn với
rác rưới làm thành một đống đất cỏ dại um tùm. Ở đó
có những ống xương trắng không còn nguyên vẹn. Thầy hiểu
đó là bộ xương của mẹ mình. Nhớ lại mẹ, thầy chấn
động vì xúc cảm và hầu như ngất đi.
Ngay
sau đó, thầy nhớ lại những lời dạy của lama. Hợp nhất
tâm thức thầy với tâm thức của mẹ và với tâm giác ngộ
của chư lama dòng Kagyuš, thầy ngồi trên bộ xương của mẹ
và thiền định với một sự tỉnh giác thanh tịnh không một
khoảnh khắc phóng dật trong thân, ngữ, tâm. Thầy thấy rõ
khả năng giải thoát cho cha và mẹ khỏi sự khổ đau của
sanh tử luân hồi.
Bảy
ngày trôi qua và thầy ra khỏi thiền định. Thầy bắt đầu
tư duy về sự phù phiếm của sanh tử. Thầy sẽ làm một
di tích để thờ bằng xương cốt mẹ thầy, và thầy bán
bộ sách Lâu Đài Châu Ngọc để làm việc ấy. Sau đó, thầy
sẽ đến Núi Răng Ngựa Trắng và hiến mình cho thiền định
ngày đêm trong suốt quãng đời còn lại của mình và sẽ
tự tử nếu nghĩ đến Tám Mối Bận Tâm của Thế Gian. Nếu
thầy thua quy luật của dục lạc, nguyện những hộ pháp hãy
lấy đi mạng sống của thầy. Thầy lập đi lập lại lời
thề này từ đáy sâu của lòng mình.
Thầy
gom xương của mẹ thầy và những cuốn sách lại, và lễ
bái chúng, sau khi đã phủi sạch bụi và phân chim. Sách không
bị hư hại nhiều và còn đọc được. Trên lưng, thầy vác
phần đầu của bộ sách không bị hư hại, xương mẹ thầy
mang trước ngực. Lòng thầy tràn ngập sự phù du vô ích của
sanh tử. Vượt khỏi sự đau buồn mênh mông, thầy hát lên
Bài Ca Bình Thản này, cam kết hiến trọn đời mình cho Phật
tánh, mục tiêu cốt lõi của Pháp :
“Ôi
bậc Tôn Quý, Bi Mẫn và Bất Động,
Đúng
như lời tiên tri của Marpa Dịch Giả,
Ở
đây trong ngục tù ma quỷ của quê hương con
Con
tìm thấy một vị thầy của huyễn ảo phù du.
Xin
ban phước cho con, để con có thể hấp thụ những
sự
thật
Do
vị thầy này ban cho.
Mọi
sự vật hiện hữu
Đều
vô thường và chuyển động thường trực.
Và
đặc biệt thế giới sanh tử này
Thì
không tự tánh, không mục tiêu, không giá trị.
Hơn
là dấn thân vào những hoạt động phù phiếm
Con
phải hiến mình cho mục tiêu cốt lõi của Pháp.
Trước
tiên, khi có một người cha,
Thì
không có đứa con.
Khi
đã có đứa con, thì cha không có nữa,
Sự
gặp gỡ của chúng ta chỉ là hư huyễn.
Tôi,
đứa con ấy, sẽ thực hành Thật Pháp.
Tôi
đi thiền định ở Núi Răng Ngựa Trắng xa kia.
Khi
có một bà mẹ, đứa con không có.
Giờ
con đến đây, mẹ đã mất rồi,
Sự
gặp gỡ của chúng ta chỉ là hư huyễn.
Tôi,
đứa con ấy, sẽ thực hành Thật Pháp.
Tôi
đi thiền định ở Núi Răng Ngựa Trắng xa kia.
Khi
có một em gái, thì người anh không có.
Nay
anh đã đến, em gái lại lang thang
Sự
gặp gỡ của chúng ta chỉ là hư huyễn.
Tôi,
người anh ấy, sẽ thực hành Thật Pháp.
Tôi
đi thiền định ở Núi Răng Ngựa Trắng xa kia.
Khi
có những cuốn kinh, thì không có sự tôn kính.
Giờ
tôi tôn kính những cuốn kinh, chúng đã hư hại vì mưa,
Sự
gặp gỡ của chúng ta chỉ là hư huyễn
Tôi,
người con ấy, sẽ thực hành Thật Pháp.
Tôi
đi thiền định ở Núi Răng Ngựa Trắng xa kia.
Khi
có ngôi nhà, thì không có chủ.
Nay
chủ đã đến, nó lại sập nát rồi,
Sự
gặp gỡ của chúng ta chỉ là hư huyễn.
Tôi,
người con ấy, sẽ thực hành Thật Pháp.
Tôi
đi thiền định ở Núi Răng Ngựa Trắng xa kia.
Khi
có miếng đất phì nhiêu, thì không người làm.
Nay
người làm đến, nó đã thành rừng,
Sự
gặp gỡ của chúng ta chỉ là hư huyễn.
Tôi,
người con ấy, sẽ thực hành Thật Pháp.
Tôi
đi thiền định ở Núi Răng Ngựa Trắng xa kia.
Này
đất, này nhà, này quê hương đất tổ
Đều
thuộc về một thế giới không sanh,
Hãy
để ai ngu mê nhận lấy chúng.
Là
ẩn sĩ, Thật Tánh tôi tìm.
Hỡi
Cha bi mẫn, Dịch Giả Marpa,
Xin
ban phước cho kẻ ăn mày này để nó có thể thiền định
trong đơn độc.”
Sau
khi hát bài ca này, thầy bỏ đi đến nhà thầy dạy ngày xưa
chỉ cho thầy học đọc. Ông đã chết, thế nên thầy trao
phần đầu Lâu Đài Châu Ngọc cho con của thầy giáo, nói,
“Tôi sẽ đưa cho anh phần còn lại của bộ sách thiêng liêng
này. Hãy làm những tượng nhỏ bằng xương của mẹ tôi.”
Anh
ta trả lời, “Những vị thần bảo vệ của ông chắc chắn
theo sách của ông, thế nên tôi không muốn sách đâu, nhưng
tôi sẽ làm giúp ông những tượng nhỏ.”
“Những
thần bảo vệ của tôi không giữ gìn những cái gì tôi đã
tặng.”
“Thế
thì được”, anh ta nói.
Với
sự phụ giúp của thầy, anh làm những tượng nhỏ bằng xương
của mẹ thầy.(1) Rồi hai người cử hành lễ cúng và an vị
những tượng vào trong một cái tháp. Sau đó thầy sửa soạn
rời bỏ.
Người
con của thầy giáo nói, “Hãy ở lại đây vài ngày chuyện
trò, và tôi sẽ đưa cho ông những đồ cần thiết.”
Thầy
trả lời, “Tôi không có thời giờ để trò chuyện. Tôi
khát khao chuyện thiền định.”
“Vậy
thì hãy ở lại đêm nay. Ngày mai khi ra đi tôi sẽ cho ông
lương thực.”
Thầy
bằng lòng ở lại, và anh ta nói tiếp, “Khi ông còn trẻ,
ông đã đánh bại những kẻ thù của ông bằng huyền thuật.
Nay ông đang thời kỳ sung sức nhất của cuộc đời, ông
thuyết giảng một giáo lý kỳ diệu. Một ngày nào ông sẽ
trở thành một đại Bồ tát. Từ lama nào ông đã nhận những
giáo huấn, các ngài ấy là ai ?” Anh ta hỏi thầy nhiều câu
hỏi rất chi tiết.
Thầy
trả lời, “Tôi đã có được giáo huấn Đại Toàn Thiện.
Nhưng trên tất cả, tôi đã gặp ngài Marpa.”
“Kỳ
diệu thay ! Nếu là thế, quả tốt đẹp nếu ông sửa sang
lại nhà cửa, cưới cô Zessay, và tiếp tục theo bước chân
của lama của ông.”
Thầy
trả lời, “Lama Marpa lập gia đình là vì lợi lạc cho tất
cả chúng sanh. Nhưng tôi không có ý định cũng như có khả
năng làm như ngài. Làm như vậy mà không có công đức hạnh
nguyện như ngài thì cũng giống như một con thỏ tưởng tượng
mình có thể theo dấu chân một con sư tử. Nó sẽ rơi vào
vực sâu và chắc chắn chết. Buồn chán vòng sanh tử luân
hồi, tôi không muốn gì ngoài thiền định và tuân theo những
lời dạy của lama. Nền tảng căn bản nhất của giáo pháp
của ngài là sự thiền định thực hành trong hoang vắng. Chính
trong cách thức ấy mà tôi sẽ tiếp tục con đường của
ngài. Chỉ bằng thiền định tôi mới có thể đáp ứng được
những hy vọng của ngài. Nó sẽ phụng sự mục tiêu của
giáo lý và giúp đỡ tất cả chúng sanh. Thậm chí nó cứu
độ cha và mẹ tôi, và sẽ đem lại sự thành tựu cho mục
đích của tôi. Tôi chỉ biết làm thế nào để thiền định,
và tôi không thể làm gì khác.
“Tôi
không có ý nghĩ nào khác. Tôi trở về làng cũ chủ yếu bởi
vì cha mẹ tôi có một ngôi nhà và tài sản ở đó. Sự biến
mất tất cả tài sản thế gian của tôi đã làm mạnh thêm
ước muốn thiền định của tôi đến độ bây giờ nó giống
như một ngọn lửa cháy hừng hực trong lồng ngực.
“Những
người khác không biết đến những bất hạnh như vậy. Với
những ai không nghĩ đến những khổ đau của cái chết và
những cõi thấp, những lạc thú cảm giác của cuộc đời
có thể là đủ. Về phần tôi, mọi thứ đó thúc đẩy tôi
hiến mình cho thiền định với sự hoàn toàn chẳng màng đến
thực phẩm, áo quần hay sự công nhận.”
Với
giọng xúc động, thầy hát bài ca này :
“Con
lạy dưới chân Thầy Marpa, bậc Toàn Thiện.
Xin
ban phước cho kẻ ăn mày này để nó thoát khỏi những bám
luyến thế phàm.
Than
ôi ! Than ôi ! Khổ thay, khổ thay !
Khi
tôi nghĩ đến những người tin vào những sự vật thế gian,
Lòng
tôi ngập đầy đau buồn.
Vui
thích với những sự vật thế gian làm khơi dậy khốn khổ
tận ngọn nguồn của nó.
Và
người ta bị ném vào xoáy nước sanh tử cuồn cuộn không
ngừng.
Họ
có thể làm gì, những người bị mắc lưới muộn phiền
và thống khổ ?
Không
có cách hành động nào khác ngoài sự sùng mộ Pháp.
Marpa
Tôn Quý, Bất Động, bậc Nắm Giữ Chân Lý Tối Hậu,
Xin
ban phước cho kẻ ăn mày này để nó có thể sống trong cô
liêu.
Trong
thành phố của huyễn ảo phù du,
Người
lữ khách từ phương xa đã đau lòng cảm xúc.
Trong
miền Gungthang tuyệt vời đẹp đẽ
Những
đàn cừu, bãi cỏ xanh tươi
Bây
giờ chỉ còn là nơi hoang vu ma quỷ.
Đấy,
thêm nữa một thí dụ của huyễn ảo phù du,
Một
tấm gương đẩy dồn tôi vào thiền định.
Căn
phòng chính của ngôi nhà Bốn Cột và Tám Xà
Bây
giờ đổ nát xù xì như bờm một con thú.
Ngôi
nhà tôi với bốn góc, bốn tường và tháp nhọn
Ngày
hôm nay tả tơi như một cái tai lừa.
Đấy,
thêm nữa một thí dụ của huyễn ảo phù du,
Một
tấm gương đẩy dồn tôi vào thiền định.
Miếng
đất tốt tươi của tôi, Tam Giác Phì Nhiêu,
Bây
giờ cỏ dại thôn tính.
Anh
em họ và bà con thân thuộc
Ngày
nay là những kẻ thù ghét tôi,
Mở
cuộc chiến chống lại chúng tôi.
Đấy,
thêm nữa một thí dụ của huyễn ảo phù du,
Một
tấm gương đẩy dồn tôi vào thiền định.
Bây
giờ người cha tốt của tôi, Mila Ngọn Cờ Trí Huệ,
Không
còn nữa, không còn dấu vết.
Mẹ
của tôi, Bạch Ngọc, dòng dõi Nyang,
Không
là gì ngoài một đống xương tàn.
Đấy,
thêm nữa một thí dụ của huyễn ảo phù du,
Một
tấm gương đẩy dồn tôi vào thiền định.
Thầy
tu của gia đình, Những Viên Ngọc của Cõi Trời,
Bây
giờ đi làm đầy tớ.
Những
cuốn sách thiêng, Lâu Đài Châu Ngọc,
Ngày
nay là tổ của đám chuột hoang.
Đấy,
thêm nữa một thí dụ của huyễn ão phù du,
Một
tấm gương đẩy dồn tôi vào thiền định.
Người
cậu bên ngoại của tôi, Yung Chiến Thắng,
Ngày
nay sống giữa kẻ thù của tôi.
Em
gái tôi, Peta Che Chở Hạnh Phúc
Lưu
lạc nơi đâu không một dấu tích nào.
Đấy,
thêm nữa một thí dụ của huyễn ảo phù du,
Một
tấm gương đẩy dồn tôi vào một cuộc đời thiền định.
Marpa
Tôn Quý, bậc Bất Động và Đại Bi,
Xin
ban phước cho kẻ ăn mày này để nó thiền định trong cô
quạnh.”
Buồn
sầu, thầy hát bài ca ấy.
Người
con của thầy giáo kêu lên, “Lạ lùng thay, nhưng đó là sự
thật !” Và anh ta thở dài. Vợ anh ta nức nở khóc ròng.
Thầy đã thấy cảnh hoang tàn của làng mình, và thầy không
thể làm gì khác ngoài việc lập đi lập lại quyết tâm tiếp
tục thiền định. Thầy giữ sự mong muốn này sâu tận đáy
lòng mình và thường trực thực hành thiền định, thầy không
còn lý do nào để hối tiếc.
Milarepa
nói như thế. Đây là chương thứ sáu, trong đó Milarepa được
tính phù phiếm huyễn ảo của sanh tử thuyết phục, quyết
định hiến mình cho thiền định.