CHƯƠNG
NĂM
THIỀN
ĐỊNH
Bấy
giờ Retchung thưa hỏi, “Bạch Đạo sư, những trường hợp
nào đưa ngài đến việc từ giã Tổ Marpa ? Lama Marpa yêu cầu
ngài ở gần Tổ một vài năm. Ngài đã ở được bao lâu
?”
Đạo
sư trả lời :
Thầy
đã không ở đó nhiều năm. Vài hoàn cảnh đưa thầy về
viếng thăm làng cũ. Trong khi ẩn tu bình thường thầy không
ngủ, nhưng một buổi sáng sớm thầy chợp ngủ và có giấc
mộng như vầy : Thầy đến làng Kya Ngatsa của thầy. Ngôi
nhà Bốn Cột và Tám Xà của thầy xiêu nát như tai một con
lừa già. Mưa xuyên qua khắp nhà và đã làm hư hại những
cuốn kinh, bộ Lâu Đài những Châu Ngọc.(1) Miếng đất của
thầy, Tam Giác Phì Nhiêu lấp đầy cỏ dại. Mẹ thầy và
những bà con đã chết. Em thầy bỏ đi lang thang và xin ăn.
Bởi vì những bà con của gia đình thầy đã như những kẻ
thù chống lại mẹ con thầy, nên từ thuở nhỏ, thầy đã
xa cách mẹ và đã không gặp lại mẹ. Ý nghĩ này gây cho
thầy đau khổ bao la. Thầy gọi tên mẹ và em và khóc. Thầy
thức dậy và gối thầy ướt đẫm nước mắt.
Thầy
trở nên nghĩ ngợi và gợi nhớ kỷ niệm về mẹ thầy. Thầy
khóc nhiều và quyết định làm điều gì cần thiết để
thấy lại bà. Sáng ra, thầy phá bức tường thất ẩn tu và
đến gặp lama. Ngài đang ngủ. Thầy đến gần ngài, và khiêm
hạ cúi mình nơi đầu giường ngài, thầy hát bài ca :
“Ôi
đạo sư, đức Phật Bất Động,
Xin
gởi kẻ ăn mày nghèo khó này trở về quê cũ
Trong
thung lũng Kya Ngatsa
Mẹ
và con, bà con thù ghét,
Chúng
con đã xa cách nhau nhiều năm.
Tình
thương của con không thể chịu đựng nữa chia ly.
Xin
hãy để cho con thấy mẹ chỉ lần này nữa
Và
con sẽ trở lại không chậm trễ.”
Thầy
cầu xin như vậy. Lama tỉnh giấc. Vào lúc đó mặt trời mọc
lên và qua cửa sổ những tia sáng của nó chiếu trên đầu
ngài. Cùng lúc sư mẫu đi vào, mang đến bữa ăn sáng. Lama
nói :
“Này
con, tại sao con thình lình phá vỡ cuộc nhập thất nghiêm
mật của con ? Nó có thể làm nảy sanh nhiều chướng ngại
bên trong và mở cửa cho Ma.(2) Hãy trở lại và ở lại trong
đơn độc.”
Một
lần nữa thầy nói với ngài về giấc mộng của thầy và
nài nỉ ngài :
“Ôi
Đạo sư Bi Mẫn, đức Phật Bất Động,
Xin
gởi kẻ ăn mày nghèo khó này trở về quê cũ.
Trong
làng Kya Ngatsa của con,
Những
tài sản của con không có gì còn lại,
Tuy
nhiên có nhiều điều làm con lo sợ.
Con
muốn nhìn thấy căn nhà của con, Bốn Cột và Tám Xà,
Đã
sụp đổ hay còn đứng vững ;
Thấy
có phải bây giờ mưa rơi từng giọt
Trên
những kinh điển, Lâu Đài những Châu Ngọc ;
Thấy
có phải miếng đất tốt tươi, Tam Giác Phì Nhiêu,
Cỏ
dại mọc đầy như đồng hoang cỏ dại ;
Thấy
có phải thân thể mẹ già
Bây
giờ đang khỏe mạnh ;
Thấy
có phải em con, Peta Che Chở Hạnh Phúc,
Bây
giờ là một kẻ hành khất lang thang ;
Thấy
có phải Zessay, dính dấp với con bằng mối dây nghiệp quả
Bây
giờ có thể đã được gả cho ai ;
Thấy
có phải ông chú của con và hàng xóm, Yung Chiến Thắng,
Còn
sống và đã già nua ;
Thấy
có phải thím con, Quỷ Cái Dữ Như Cọp
Vẫn
còn sống hay đã chết rồi ;
Thấy
có phải thầy tu của gia đình, Konchok Lhabušm,
Có
còn sống ở nơi kia.
Nhưng
trên tất cả là thấy mẹ của con
Người
sinh ra con, thân thể và tâm thức,
Lòng
mong nhớ đối với người không thể nào chịu nổi.
Xin
để cho con đi về quê hương chỉ một lần thôi,
Và
con sẽ nhanh chóng trở lại với Thầy.”
Thầy
cầu khẩn như vậy và lama trả lời :
“Con
nói gì thế, hỡi con ? Khi lần đầu tiên con đến với ta
con đã nói rằng con không còn dính dáng với quê hương hay
họ hàng. Bây giờ thì con muốn các thứ. Nếu con đi về làng
không chắc con sẽ gặp mẹ con. Về phần những người khác,
thầy e ằng họ không còn ở đó. Con đã sống vài năm trong
vùng UŠ và Tsang, và nhiều năm ở đây với thầy. Nếu con
muốn đi, thầy sẽ để cho con đi. Nhưng nếu con nghĩ đến
việc trở lại, thì hãy biết rằng khi con đến đây xin thầy
và thấy thầy đang ngủ, đó là điềm báo trước rằng chúng
ta sẽ không gặp nhau lại trong đời này nữa.
“Tuy
nhiên, mặt trời mọc lên trong không gian báo trước rằng
con sẽ làm cho Phật pháp chiếu sáng rực rỡ như mặt trời.
Quan trọng hơn hết, những tia sáng mặt trời chiếu vào đầu
thầy nói cho biết rằng Giáo Pháp Kagyuš sẽ truyền bá rộng
xa. Sư mẫu mang bữa ăn đến nghĩa là con được nuôi dưỡng
bằng thực phẩm tâm linh. Bây giờ, chỉ có thầy chịu trách
nhiệm để cho con đi. Này Dakmema, hãy dọn một lễ cúng đặc
biệt.”
Lama
sửa soạn mạn đà la và sư mẫu sắp xếp đồ cúng. Lama
truyền cho thầy lễ Quán Đảnh Con Đường của sự Thức
Tỉnh theo khẩu truyền bí mật nhất của những dakini và cũng
ban cho thầy toàn bộ giáo huấn về con đường Giác Ngộ.
Những cái này chỉ được trao truyền từ một thầy đến
một trò và bởi thế những người khác không thể biết.
Rồi lama nói :
“Thật
ra những giáo huấn này do Đạo sư Naropa ban cho thầy, ngài
dặn phải trao truyền chúng lại cho con. Và đến phiên con,
con phải truyền giáo pháp khẩu truyền này cho một người
trong những đệ tử thân cận nhất của con, do những dakini
chỉ định, và đặt y dưới sự cam kết phải duy trì dòng
truyền một thầy một trò liên tục trong mười ba thế hệ.
Nếu con cho những giáo huấn này để đổi lấy thực phẩm,
giàu có hay chỉ để làm vui lòng người khác thì con sẽ chịu
sự trừng phạt của những dakini. Hãy giữ chúng trong lòng,
và tự mình thực hành. Nếu bao giờ có một đệ tử tiền
định đến với con, thì dù y không có lễ vật gì để cúng
dường, cũng phải kết nối nó với con bằng quán đảnh và
giáo huấn để bảo toàn giáo pháp. Thử thách, điêu luyện
một đệ tử, như Tổ Tilopa làm với Tổ Naropa, hay như thầy
làm với con, sẽ không lợi lạc cho những tâm thức chưa phát
triển. Hãy ban những giáo pháp với sự phân biệt khéo léo.
“Ở
Ấn Độ hiện có chín loại khẩu truyền của chư dakini, chúng
không quá chặt chẽ như sự trao truyền một người qua một
người giữa thầy và trò. Những cái này thầy đã cho con
bốn cái. Năm cái kia, một người nào trong dòng chúng ta sẽ
đi và thỉnh cầu từ những đệ tử của Tổ Naropa. Chúng
sẽ lợi lạc cho chúng sanh. Con hãy cố gắng học chúng.
“Nếu
con nghĩ rằng con chưa nhận hết toàn bộ giáo pháp của thầy
vì con có ít lễ vật để dâng thầy, thì hãy biết rằng
thầy chẳng lưu ý gì đến lễ vật. Chính sự cúng dường
lòng nhiệt thành tinh tấn đối với chứng ngộ và sự siêng
năng của con mới đem lại cho thầy niềm vui. Hãy nhiệt tình
và giương cao ngọn cờ của sự hoàn thiện.
“Trong
những giáo huấn của bậc Tôn Kính Naropa, có sự khẩu truyền
bí mật của chư dakini mà không có ai trong số những đại
đệ tử khác đã nhận được. Thầy đã trao tất cả nó
cho con như rót từ một bình đầy.”
Đạo
sư của thầy xin bổn tôn yidam chứng giám cho những giáo pháp
của ngài không sai lầm và những giáo huấn của ngài không
thiếu sót. Đã thề như vậy, ngài Marpa hát :
“Con
lễ lạy và cầu nguyện trước mặt Ngài, bậc đại bi toàn
mãn.
Chiêm
nghiệm cuộc đời của những Đạo sư, người ta thấy rằng
Dầu
một tham muốn có thêm giáo huấn cũng là một phóng dật.
Hãy
hộ trì tinh túy của giáo pháp toàn vẹn trong lòng con.
Nhiều
giải thích luận bàn mà không có bản tánh tinh túy
Thì
giống như nhiều cây mà không quả.
Dù
chúng có tất cả hiểu biết, chúng không phải là chân lý
tối hậu.
Biết
tất cả chúng không phải là biết chân lý.
Nhiều
minh giải chẳng đem lại lợi lạc tâm linh gì
Cái
đem lại lợi lạc là kho tàng thiêng liêng trong tâm của chúng
ta
Nếu
con muốn giàu, hãy tập trung vào đó.
Pháp
là phương tiện thiện xảo để hàng phục nhiễm ô.
Nếu
con muốn được bảo đảm, hãy trụ trong đó.
Một
tâm thức không bám luyến là Đạo Sư Mãn Nguyện.
Nếu
con muốn có một đạo sư tuyệt vời, hãy tập trung vào đó.
Cuộc
đời thế gian gây ra nước mắt ; hãy bỏ hết biếng lười.
Một
động đá hoang vu là ngôi nhà của người cha tâm linh của
con.
Một
nơi chốn vắng vẻ và đơn độc là chỗ ở thiêng liêng.
Tâm
thức cỡi trên tâm thức là một con ngựa không mệt mỏi.
Thân
của con là một chánh điện và là một lâu đài cõi trời.
Thiền
định và hành động không phóng dật là phương thuốc tốt
nhất của ba cõi.
Với
con, kẻ có mục tiêu thực sự là Giác Ngộ
Thầy
đã ban cho giáo huấn không một chút dấu che.
Bản
thân thầy, giáo huấn của thầy, và tự thân con,
Cả
ba được đặt trong bàn tay con, hỡi con thương quý.
Nguyện
chúng phồn vinh như lá, cành và quả,
Không
hư thối, không tản mác hay héo khô.”
Ngài
hát như thế. Rồi đặt hai tay lên đầu thầy, ngài nói, “Con
ơi, sự ra đi của con làm trái tim thầy tan vỡ. Vô thường
là dấu ấn của mọi sự duyên sanh, chúng ta chẳng thể làm
gì cho chúng. Nhưng hãy ở đây ít ngày. Hãy nghiền ngẫm những
giáo huấn và nếu con có vài chỗ không chắc, hãy làm sáng
tỏ chúng.”
Và
như vậy thầy ở lại vài ngày theo lệnh của lama và làm
sáng tỏ những phần chưa rõ và nghi ngờ về giáo huấn. Rồi
lama nói, “Sư mẫu, hãy sửa soạn một lễ cúng với những
đồ cúng tốt nhất. Bây giờ Mila sắp ra đi và tôi phải
nói lời từ biệt.”
Sư
mẫu dâng một lễ cúng cho lama và yidam, những đồ cúng cho
chư dakini và những thần hộ pháp, và sửa soạn một bữa
tiệc cho huynh đệ nhập môn. Giữa đại chúng, lama biểu lộ
thành những hình tướng Yidam Hevajra, Chakrasamvara, Guhyasamaja
và những pháp khí khác : chày kim cương và chuông, bánh xe
quý báu, hoa sen, cây kiếm... ; ba chữ OM, AH, HUM(3) màu trắng,
đỏ và xanh, và mọi ánh sáng thấy được và không thấy
được.
Rồi
ngài nói, “Đây là những sự biến hóa tâm vật lý kỳ diệu.
Phô diễn chúng mà không có mục đích chân thật là điều
không tốt. Thầy đã biểu lộ chúng vì dịp ra đi của Milarepa.”
Đã
thấy lama là một vị Phật Sống, thầy tràn đầy đại hỷ
lạc. Thầy nghĩ thầy cũng phải cố gắng để thành tựu
những năng lực thần diệu như thế qua thiền định của
mình.
Lama
hỏi thầy, “Con đã thấy và con có tin vào những biến hóa
này không ?”
“Bạch
thầy, con quá tràn ngập đến độ con không chỉ tin. Con nghĩ
rằng con sẽ cố gắng để có thể làm như vậy qua thiền
định.”
“Tốt,
nếu như thế, con ơi, bây giờ con có thể ra đi. Bởi vì thầy
đã thấy mọi sự là như huyễn, con hãy thực hành theo như
vậy. Hãy nương náu trong đơn độc của núi cao, tuyết trắng
hay những khu rừng. Trong các núi non hoang vu, có Gyalgyi Sri (Chiến
Thắng Vinh Quang) vùng Latoš, nó đã được những vị thánh
vĩ đại nhất của Ấn Độ ban phước. Hãy đến đó thiền
định. Có Núi Tisi (Kailas)(4) đã được đức Phật nói đến
với tên Ganchen (Núi Tuyết) và là cung điện của Yidam Chakrasamvara.
Hãy đến đó thiền định. Có Lachi Gangra, nó là Gandavari,
một trong hai mươi bốn thánh địa. Hãy đến đó thiền định.
Có Riwo Palbar vùng Mangyul và Yolmo Gangra của Nepal, đó là những
chỗ thiêng liêng có tiên tri trong những kinh điển Đại thừa.
Hãy đến đó thiền định. Có Drin Chuwar, chỗ ở của những
dakini bảo vệ toàn miền. Hãy đến đó thiền định.
“Hãy
thiền định bất cứ nơi hoang vắng nào khác thích hợp. Hãy
giương cao ngọn cờ thiền định ở mỗi nơi.
“Kế
cận nhau ở phía đông có hai đại thánh địa là Devikoti và
Tsari. Nhưng chưa đến lúc khai mở chúng. Trong tương lai những
con cháu tâm linh của con sẽ trụ ở đó. Nhưng chính con, trước
hết hãy đi đến thiền định trong những nơi chốn thiêng
liêng đã nói ở trên. Nếu con thiền định, tức là con phụng
sự cho đạo sư của con, con sẽ biểu lộ lòng biết ơn của
con cho cha và mẹ ; và con sẽ thành tựu những mục tiêu của
tất cả chúng sanh. Nếu con không thể thiền định, thì đó
sẽ chỉ là sự tăng thêm những hoạt động xấu trong suốt
cuộc đời. Vì lý do ấy, hãy hiến mình cho thiền định,
hoàn toàn từ khước những ràng buộc đam mê của cuộc đời
này, và hãy từ bỏ những liên hệ với những người tìm
kiếm lạc thú.”
Khi
ngài nói những lời này, nước mắt chảy đầy trên má ngài.
“Cha con chúng ta sẽ không còn gặp lại nhau trong kiếp sống
này. Thầy sẽ không quên con. Con chớ bao giờ quên thầy. Và
như thế, hãy vui mừng rằng nơi cõi Trên, chắc chắn chúng
ta sẽ gặp nhau trong Cõi của chư Dakini.(5) Một ngày kia, trong
khi thực hành một pháp nào đó, con sẽ gặp một chướng
ngại. Khi đó, hãy xem cái thầy đang đưa cho con đây. Chớ
có xem nó trước đó.” Và lama đưa cho thầy một cuộn giấy
niêm bằng sáp.
Thầy
in sâu trong lòng những lời sách tấn cuối cùng này của lama.
Về sau, mỗi lời nói đó đã làm mạnh thêm lòng sùng mộ
của thầy.
Cuối
cùng, lama nói, “Sư mẫu, hãy sửa soạn cho Mila Kim Cương
Ngọn Cờ Chiến Thắng khởi hành sáng mai. Dù là một dịp
buồn, tôi cũng muốn đi với Mila một đoạn đường.” Và
ngài nói với thầy, “Hãy đến đây và ngủ cạnh thầy đêm
nay. Cha con ta còn được một lần trò chuyện nữa.” Và thầy
ở lại với lama. Khi sư mẫu vào bà sụt sùi khóc.
Lama
nói với sư mẫu, “Dakmema, tại sao bà khóc ? Chẳng lẽ vì
Mila đã có những giáo huấn của truyền thống khẩu truyền
từ lama và vì anh sắp thiền định trong vùng núi non trơ trọi
? Nguyên nhân thực sự để khóc là thấy rằng tất cả chúng
sanh vốn có Phật tánh, vốn là những vị Phật tiềm ẩn
thế mà vẫn không biết được điều đó để uổng oan chết
trong thống khổ, lầm than ; và một nguyên nhân đặc biệt
để khóc là nghĩ rằng một khi chúng sanh đã đạt được
điều kiện làm người, thế nhưng họ vẫn chết mà không
có Pháp. Nếu bà khóc vì điều đó, thì bà sẽ khóc không
bao giờ ngừng được.”
Sư
mẫu trả lời, “Tất cả điều đó đều rất đúng. Nhưng
thật khó cảm thấy lòng bi như thế một cách không ngừng
nghỉ. Đứa con ruột của tôi, nó đã thành tựu trí huệ
và hiểu biết về sanh tử và niết bàn và nó sẽ hoàn thành
mục tiêu của chính nó và của những người khác, đã cách
lìa chúng ta vì cái chết. Bây giờ đứa con này, đầy tín
tâm, tha thiết, trí huệ và đại bi, tuân theo bất cứ thứ
gì nó được đòi hỏi, tuyệt đối không lỗi lầm, lại
sẽ bỏ chúng ta trong khi đang còn sống. Đó là tại sao tôi
không có sức để mang nỗi buồn đau này.”
Nói
xong, bà còn khóc lóc nhiều hơn. Về phần thầy, thầy nghẹn
thở vì nức nở. Chính lama cũng rơi nước mắt. Đạo sư
và đệ tử buồn khổ như nhau trong sự quyến luyến lẫn
nhau và những giọt nước mắt của hai thầy trò đã làm ngưng
mọi lời nói.
Bình
minh của ngày tiếp theo xuất hiện. Mang theo lương thực dư
dả, Đạo sư cùng với khoảng mười ba đệ tử, đi với
thầy nửa ngày đường. Trong suốt thời gian đó họ đi với
nỗi buồn rầu của những trái tim thương mến nhau, nói những
lời đằm thắm và bày tỏ những cử chỉ thương yêu.
Rồi
đến một hẻm núi từ đó trông thấy Sống Đất của Đạo,
mọi người ngồi xuống và tham dự một lễ cúng. Và lama
cầm tay thầy trong tay ngài, nói rằng :
“Con
sắp vào UŠ và Tsang. Ở đèo Silma vùng Tsang dễ gặp bọn
cướp lắm. Thầy không muốn để con đi mà không có bạn
đồng hành, nhưng đã đến lúc con phải đi một mình. Bây
giờ thầy cầu nguyện với lama và yidam của thầy và bảo
những dakini giữ gìn con của thầy khỏi bị hại trên đường
đi. Về phần con, quan trọng là con phải cẩn thận trong cuộc
hành trình. Từ đây hãy đến Lama Ngokpa. Hãy đối chiếu so
sánh những giáo huấn của các con để xem có khác biệt nào
không. Sau đó, hãy nhanh chóng lên đường. Chớ dừng lại
quá bảy ngày ở quê nhà của con, và lập tức đi vào nơi
hoang vắng. Sự việc này là cho lợi lạc của chính con và
cho lợi lạc của tất cả chúng sanh.”
Khi
từ giã, thầy cúng dường lama Bài Ca Lên Đường đến Tsang
thế này :
“Bạch
Đạo Sư Phật Vajradhara, bậc Bất Động.
Lần
đầu tiên con đến Tsang như một người khất thực
Lần
đầu tiên con đến quê hương như một hành giả đơn thuần.
Nhờ
ân sủng của cha con lama bi mẫn,
Trên
đỉnh Đèo Silma vùng Tsang
Mười
hai dakini của núi sẽ đến gặp con.
Con
nguyện cầu Đạo sư, bậc Thế Tôn.
Con
đặt sự tự tin của con nơi Tam Bảo.
Những
người hộ tống con là những dakini của ba bậc của Con Đường(6)
Con
đi với Bồ đề tâm như một bạn đồng hành.
Bát
Bộ Thiên Long sẽ đón tiếp con.
Con
không sợ gì kẻ thù đối nghịch.
Dù
thế con vẫn hướng đến Thầy,
Con
xin Thầy gặp lại và hướng dẫn con trong đời này và đời
tới.
Xoay
mọi hiểm nguy xa khỏi con.
Hộ
trì cho thân, ngữ, tâm con.
Xin
hãy làm cho những thệ nguyện của con thành hiện thực.
Đưa
con vào thần lực của đại bi,
Làm
mạnh cho con trong hiểu biết Tantra và trong việc trao truyền
nó.
Ban
cho con một đời sống thọ không bệnh tật.
Thầy
biết rõ số phận kẻ ăn mày này,
Xin
ban phước có con có sức mạnh
Để
sống trong hoang vắng núi non.”
Thầy
cầu nguyện như thế và lama trả lời, “Con ơi, sự việc
sẽ như thế. Hãy giữ trong trí nhớ của con những lời cuối
cùng từ lòng người cha già của con. Chớ có quên chúng.”
Rồi
đặt tay lên đầu thầy, ngài hát bài ca này :
“Kính
lễ chư Lama Tôn Quý,
Nguyện
cho đứa con phước đức của con, người cầu Pháp, chứng
đạt Pháp Thân.
Qua
âm thanh im lặng bất hoại của thần chú với vị cam lồ
của nó,
Nguyện
cho con chứng đạt Báo thân.
Nguyện
cho cây Bồ đề tâm của con, với rễ cắm sâu trong tỉnh
giác giữa đời,
Được
bao phủ bằng muôn ngàn lá của Hóa thân.
Mong
rằng những lời kim cương của lama của con
Sống
trong lòng con, không bao giờ quên mất.
Nguyện
sự ban phước của chư Yidam và dakini
Thâm
nhập tận những gốc rễ của đời con.
Nguyện
những thần thủ hộ của đạo pháp
Không
ngừng trông coi cho con.
Nguyện
lời cầu nguyện sâu xa và phước lành này
Được
nhanh chóng trở thành hiện thực
Nguyện
lòng bi mẫn của tất cả hành giả
Nâng
đỡ con trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Trên
Đèo Silma vùng Tsang
Mười
hai thiên nữ(7) sẽ đến gặp gỡ con.
Ngày
mai trên đường đi của con,
Chư
daka và dakini sẽ thúc dục khuyến khích con.
Trong
đất đai nhà cửa yêu dấu của quê hương con
Là
guru của huyễn hóa vô thường.
Trong
thím con, em con, và bà con
Con
có một đạo sư làm tan biến huyễn mộng.
Trong
hang động hoang vu
Con
có một ngôi chợ rộng mở nơi con có thể đổi sanh tử lấy
niết bàn.
Trong
tu viện của tâm thân con
Con
có một ngôi chùa nơi tất cả chư Phật hợp nhất.
Từ
những đồ cúng dường bằng thực phẩm tươi
Con
sẽ làm thành cam lồ khiến chư dakini hài lòng.
Bằng
cách cầm cương những trung tâm năng lực
Con
sẽ gặt hái quả quý báu.
Trong
thôn làng nơi người ta ít thương yêu con
Con
sẽ thực hành đức hạnh không xao lãng.
Trong
ẩn cư nghiêm nhặt, không có người hay chó,
Con
sẽ có ngọn đuốc để nhanh chóng thấy những dấu hiệu
tu hành.
Trong
tự do có được thực phẩm mà không phải khất thực
Là
sự ban phước của chân tâm cho một tấm lòng bình an.
Trong
cung điện pha lê của xứ sở không nhiễm ô
Con
sẽ làm chứng cho chiến thắng của riêng mình.
Trong
sự thực hành toàn tâm Pháp tối thượng
Con
sẽ thành tựu mối ràng buộc tâm linh thanh tịnh.
Trong
sự thực hiện những giáo huấn của thầy
Con
sẽ có kho tàng của Giác Ngộ.
Trong
những giáo lý thiêng liêng là trái tim sống của những dakini
Con
sẽ tìm ra biên giới giữa sanh tử và niết bàn.
Đối
với những đệ tử của Marpa Dịch Giả,
Sẽ
có nhiều đại lộ vinh quang.
Qua
tấm lòng kiên trì của Milarepa
Trụ
cột của Phật pháp sẽ sừng sững lâu dài.
Nguyện
cho con bảo vệ được trụ cột của Pháp
Được
gia hộ bởi dòng cao quý.
Nguyện
cho con được những đạo sư Kagyuš ban phước.
Nguyện
cho con được những yidam tuyệt vời ban phước.
Nguyện
cho con được ban phước bởi Havajra, Chakrasamvara và Guhyasamaja.
Nguyện
cho con được ban phước bởi Pháp thiêng liêng.
Nguyện
cho con được chư dakini ban phước.
Nguyện
cho con được chư dakini của ba giai đoạn của Con Đường
ban phước.
Nguyện
cho con được chư thần bảo vệ ban phước.
Nguyện
cho con được dakini Dusolma(8) ban phước.
Nguyện
cho con được ban phước bởi những môn đồ tốt lành.
Nguyện
cho con hoàn thành những lời dạy của lama của con.
Nguyện
những đệ tử tương lai trong tất cả mọi đời được ban
phước.
Nguyện
tất cả những ban phước này được thường hằng không biến
đổi.”
“Con
hãy giữ những lời này trong trí nhớ của con và thực hành
không quên mất.” Nói thế, lama rất vui vẻ. Sau đó sư mẫu
cho thầy nhiều lương thực dồi dào, áo quần và những đôi
giày mới. Rồi bà nói :
“Con
ơi, như một sự từ giã của thế gian, những vật này mẹ
cho con chỉ là những đồ vật chất. Bởi vì đây là lúc
chấm dứt sự sum họp của chúng ta như mẹ và con trong đời
này, mẹ mong sự ra đi của con được vui vẻ tốt đẹp. Mẹ
cầu nguyện rằng nơi cõi Trên chúng ta sẽ tái ngộ với nhau
trong cõi Urgyen của chư dakini. Như một sự từ giã tâm linh,
mẹ mong con chớ quên những lời này phát từ tấm lòng của
người mẹ của con.”
Sư
mẫu cho thầy một kapala và một bình đầy rượu cúng, và
hát bài ca này :
“Tôi
lễ lạy dưới chân Marpa vô cùng tử tế.
Con
tôi, có thần lực kiên trì và chịu đựng,
Người
dịu dàng kiên định trong tình thương,
Hỡi
đứa con phước đức nhất của ta,
Hãy
uống trọn cam lồ của lama, một thứ rượu trí huệ toàn
hảo,
Cho
sự thỏa mãn sâu thẳm nhất của con,
Và
rồi ra đi.
Nguyện
chúng ta gặp lại trong Tịnh Độ của Phật
Như
những người bạn tái hội cùng nhau.
Không
quên chúng ta, cha con và mẹ con,
Hãy
kêu cầu chúng ta không dứt trong khi cùng kiệt.
Hãy
ra đi sau khi hưởng thọ những giáo pháp nuôi dưỡng tấm
lòng.
Hãy
ăn trọn phần con và dung hóa chúng.
Nguyện
chúng ta gặp lại trong Tịnh Độ của Phật
Như
những người bạn tái hội cùng nhau.
Không
quên cha mẹ bi mẫn của con,
Nhớ
lòng tốt của họ và hãy kiên trì trong thiền định.
Hãy
mặc cái áo choàng hơi thở sâu kín của những dakini,
Hãy
để nó sưởi ấm con trong cuộc hành trình.
Nguyện
chúng ta gặp lại trong Tịnh Độ của Phật
Như
những người bạn tái hội cùng nhau
Không
quên những chúng sanh vô vọng,
Hãy
để tâm con an lập trong con đường của tánh Giác viên minh.
Hãy
phát sanh thôi thúc đưa đến sự giải phóng cho tất cả
Và
hãy vác mang gánh nặng của Pháp
Với
một sức mạnh vĩ đại khi con lên đường.
Nguyện
chúng ta gặp lại trong Tịnh Độ của Phật
Như
những người bạn tái hội cùng nhau
Con
ơi, mẹ Dakmema phước đức,
Đang
nói với con từ trái tim của mẹ.
Hãy
giữ những lời của mẹ trong tim con và chớ quên chúng.
Mẹ
của con sẽ nhớ đến con.
Mẹ
và con, tâm và lòng hòa hợp,
Nguyện
chúng ta gặp lại trong Tịnh Độ của Phật
Như
những người bạn tái hội cùng nhau.
Mong
lời cầu nguyện của mẹ được hoàn thành.
Mong
con đền đáp lòng tốt của lama của con bằng sự thực hành
Phật pháp.”
Nói
thế, sư mẫu rơi nhiều nước mắt. Và mọi người có mặt
đều khóc và buồn rầu. Về phần thầy, thầy lạy trước
cha và mẹ, chạm đầu thầy vào chân các ngài. Thầy cầu
xin sự ban phước của các ngài. Thầy đi thụt lùi mặt hướng
về hai ngài cho đến khi không còn thấy mặt bổn sư nữa.
Mọi người có mặt đều khóc trông theo thầy. Thầy miễn
cưỡng bước. Cuối cùng, lama và mẹ xa khỏi tầm mắt, thầy
bắt đầu lên đường và sau khi qua một thung lũng nhỏ, thầy
quay nhìn lại. Lama và những người đi theo vẫn còn nguyên
chỗ cũ, chỉ còn là một khối màu nâu ở xa xa. Thầy tự
nhủ hay là trở lại. Rồi thầy nghĩ, “Ta đã có được
trọn bộ giáo huấn. Ta sẽ không bao giờ làm cái gì dính
dáng đến công việc phàm thế nữa. Ta sẽ không bao giờ cách
lìa lama của ta, chừng nào ta có thể quán tưởng ngài trên
đỉnh đầu của ta trong thiền định. Thậm chí ta có được
lời hứa rằng chúng ta sẽ gặp lại trong Tịnh Độ của
Phật. Một khi mình đã thấy bà mẹ sinh ra mình, trọn vẹn
thân tâm, bấy giờ mình sẽ quay về với lama.”
Ý
nghĩ này chấm dứt nỗi buồn của thầy và thầy cất bước
lại. Thầy đến nhà Lama Ngokpa. Hai huynh đệ so sánh những
giáo huấn của hai người. Trong sự giải thích Tantra, ông
hơn thầy. Trong thực hành cụ thể, thầy không thua ông lắm,
nhưng trong giáo huấn bí mật của dakini thì thầy vượt ông.
Sau
khi làm lễ từ giã, thầy đi về làng. Thầy đến đó chỉ
mất ba ngày.(9) Thầy hân hoan khi biết rằng thầy đã phát
động được những thần lực khiến cho điều đó có thể.
Milarepa
nói như thế. Đây là chương thứ năm, trong đó ngài thông
thạo mọi giáo pháp tổng quát và như những giấc mơ tiên
tri yêu cầu, ngài có được những giáo huấn khẩu truyền
bí mật truyền từ một thầy đến một trò và ngài từ giã
lama để về làng mình.