CHƯƠNG
BỐN
THIỀN
ĐỊNH
Bấy
giờ Retchung nói, “Bạch Đạo sư, sau khi nghe Pháp, Thầy có
tức khắc đi vào nơi hoang vắng hay thầy còn ở lại với
Lama ?”
Và
Mila tiếp tục :
Lama
nói thầy phải thiền định kiên trì. Ngài cung cấp cho thầy
vật thực dư dả và ra lệnh cho thầy thiền định trong một
hang động gọi là Cọp Nak ở Vách Đá Phía Nam. Rồi thầy
rót đầy một ngọn đèn thờ với bơ, thắp nó lên, và để
trên đầu thầy. Thầy thiền định ngày và đêm theo cách
đó, không cử động, cho đến khi bơ trong đèn cạn sạch.
Mười
một tháng trôi qua. Rồi lama và sư mẫu đến, đem cho thầy
thực phẩm cho một tiệc cúng.
Lama
thốt lên, “Tốt, con ạ, thiền định trong mười một tháng
mà không để cho đệm thiền của con bị lạnh là rất tốt.
Hãy mở cửa thất và ra đây nghỉ ngơi đôi chút để con
có thể nói chuyện với thầy, ông cha già này, về kinh nghiệm
bên trong của con.”
Thầy
thầm nghĩ, “Thật bình an ở đây, nhưng mình phải ra ngoài
bởi vì đó là một mệnh lệnh của lama.”
Thầy
bắt đầu dỡ phá lối vào. Thầy cảm thấy ngần ngại và
thầy dừng lại một chốc, không dám tiếp tục nữa. Nhưng
sư mẫu trở lại và hỏi, “Con đang đến đấy à, hỡi con
?” Thầy trả lời thầy không dám phá bức tường. Sư mẫu
nói, “Không có gì sai cả đâu. Gặp gỡ với lama là một
sự việc tốt lành, nó chỉ có thể có một kết quả tốt
đẹp. Đó là một định luật của con đường bí mật. Từ
chối sẽ làm thầy tức giận và làm hư hỏng sự việc tốt
lành ấy, thế nên hãy phá mở và đi ra.”
Biết
lời sư mẫu nói là sự thật, thầy giật sập bức tường
và bước ra.
Lama
nói, “Hai chúng ta, cha và con, sẽ thiền định chung. Sư mẫu
hãy sửa soạn một bữa tiệc.”
Khi
hai người đang dâng cúng thì lama nói với thầy, “Con của
ta, con đã gặt hái được sự hiểu biết xác thực nào từ
những giáo huấn đặc biệt của thầy ? Hãy để cho tâm thức
con thư giãn và kể cho thầy nghe những kinh nghiệm tri giác
và trực giác và sự thấu hiểu con đã đạt được.”
Trong
một cử chỉ tin tưởng và sùng mộ nồng nhiệt với lama
thầy quỳ gối xuống và chắp tay. Mắt thầy mờ nước mắt,
thầy đảnh lễ ngài vì tất cả điều gì thầy đã hiểu,
và thầy hát tụng Bài Ca Những Sùng Mộ Bảy Phần này :
Ôi
Đạo sư, trong con mắt những người bất tịnh,
Ngài
xuất hiện trong những hình thức khác nhau,
Và
với chúng hội những Bồ tát trong sạch,
Ngài
biểu lộ như là Phật Báo Thân, con xin lễ chào Ngài.
Vang
âm sáu mươi giọng(1) Phạm Thiên, ngài tuyên thuyết
Thánh
pháp trong tám mươi bốn ngàn(2) phương diện.
Cho
mỗi chúng sanh hiểu trong ngôn ngữ riêng của họ.
Con
lễ lạy trước Ngữ của ngài
Nó
không tách lìa khỏi tánh Không bổn nhiên tịch diệt.
Trong
không gian trong trẻo sáng ngời của Pháp thân
Không
chút bóng dáng ô nhiễm của phân biệt,
Mà
trùm khắp muôn pháp được thấu biết.
Con
đảnh lễ Pháp Thân ngời ngời bất động.
An
trụ trong cung điện của tánh Không thanh tịnh,
Dakmema
bất động, với thân huyễn giữa huyễn
Ngài
là Mẹ của chư Phật ba đời
Sư
mẫu Dakmema, dưới chân ngài con xin đảnh lễ.
Bạch
Đạo sư, với lòng tôn kính thuần khiết, con xin lễ lạy
Những
đứa con tâm linh của ngài mà ngài đã hợp nhất,
Những
đệ tử thực hiện những chỉ dạy của ngài,
Và
vô số những người tin theo ngài.
Con
cúng dường Ngài thân thể của con
Và
bất cứ cái gì khác xứng đáng cúng dường
Trong
tất cả cõi của khắp cả vũ trụ.
Con
sám hối mọi tội lỗi của con, từng cái một.
Và
tùy hỷ mọi công đức của hết thảy chúng sanh.
Con
cầu xin Ngài chuyển Pháp luân xa rộng.
Con
cầu nguyện rằng lama tuyệt đối toàn thiện sống mãi
Cho
đến ngày nào còn có những chúng sanh mắc trong lưới sanh
tử
Nguyện
những công đức này làm lợi lạc tất cả chúng sanh.
“Sau
khi ngâm Bài Ca Những Sùng Mộ Bảy Phần, con, một kẻ tầm
thường đi theo thầy, muốn được tỏ bày cái hiểu yếu
ớt của con. Sự hiểu biết đó có được là do hoạt động
toàn thiện và thần lực của ảnh hưởng tâm linh khởi từ
lòng bi vô biên của lama – ngài không cách hở với Phật
Vajradhara Kim Cương Trì – cùng với sư mẫu và chư huynh đệ,
với lòng biết ơn sâu xa, con mang nợ các vị.
“Từ
bản tâm bất biến, xin hãy nghe con. Con đã hiểu rằng thân
xác này, làm bằng thịt và máu cùng với ý thức, được
nhóm họp với nhau bởi mười hai mắt xích của nhân và quả
– mà một cái là hành tức ý muốn – đều phát sanh từ
vô minh. Thân thể này là một thuyền bè được ban phước
đối với những ai phước đức, mong muốn giải thoát, nhưng
nó cũng dẫn những người tạo nghiệp vào ba cõi thấp.
“Con
hiểu rằng trong thân thể này có sự chọn lựa sống chết
giữa lợi ích và mất mát khổng lồ, liên hệ đến hạnh
phúc hay thống khổ vĩnh cửu, trên bờ ranh của tốt và xấu.
Nương nhờ vào bi lực của Thầy như người hướng dẫn tôn
quý của chúng sanh, con hy vọng nỗ lực thành đạt giải thoát
khỏi đại dương khổ đau ràng buộc mà sự trốn thoát nó
rất là khó khăn.
“Trước
hết tìm sự quy y nơi Tam Bảo và cẩn thận tuân thủ những
giới luật, con hiểu rằng nguồn của mọi hạnh phúc là Lama,
và bởi thế nguyên lý đầu tiên là làm tròn mọi giáo huấn
của ngài và duy trì một ràng buộc tâm linh không tì vết
với ngài.
“Hơn
nữa, một đời sống làm người là một điều khó được.
Bằng cách khởi lên tâm thức rất mãnh liệt soi xét về vô
thường và cái chết, những hậu quả của hành động và
sự khổ đau của sanh tử, người ta khai triển một lòng mong
mỏi giải thoát và phải theo đuổi nó qua sự tuân thủ nhân
quả. Đó là nền tảng mà người ta phải lập.
“Từ
điểm này, dần dần bước lên Con Đường, cần thiết phải
tuân thủ những lời thệ nguyện của mình như giữ gìn con
mắt. Dù trong thất bại, những phương thuốc đối trị phải
được dùng. Không tìm kiếm sự giải thoát cho riêng mình
trên con đường của Tiểu thừa, người ta khai triển Bồ
đề tâm,(3) tâm tìm cách làm việc cho sự giải thoát của
tất cả chúng sanh. Cái hiểu của con là sự khai triển một
tâm thái giác ngộ đưa người ta đến việc hồi hướng từ
lòng từ bi kết quả của hành động của mình cho lợi lạc
của tất cả.
“Để
ôm trọn con đường Đại thừa, người ta từ bỏ con đường
Tiểu thừa. Đặt nền trên nền tảng của cái thấy toàn
hảo, người ta đi vào con đường tối thượng của Kim Cương
thừa.
“Để
thành tựu cái thấy toàn hảo về thật tánh, người ta cần
có một vị thầy toàn hảo biết làm sao để trao truyền trọn
vẹn và không lầm lẫn bốn phương diện của Quán đảnh,(4)
ngài thiện xảo làm cho đệ tử thấy Thật Tánh do lòng đại
bi của ngài. Quán đảnh đánh thức tỉnh người ta trước
thực tại tối hậu và từ đó trở đi người ta thiền định
qua mọi giai đoạn khác nhau của Con Đường. Đã nỗ lực
khám phá tánh vô ngã của cá nhân, đó là điều chung cho mọi
truyền thống hiển giáo, người ta khảo sát cái ngã bằng
lý luận, giáo lý và những tỷ dụ, và không tìm kiếm cái
ngã nữa, người ta thấu hiểu vô ngã. Bấy giờ người ta
phải đem tâm thức vào trạng thái tĩnh lặng. Khi tâm thức
được an tĩnh nhờ phân tích lý luận, tư tưởng phân biệt
dừng dứt và tâm thức đạt đến trạng thái vô niệm. Nếu
người ta tiếp tục ở trong trạng thái này nhiều ngày, tháng
và năm, quên mất thời gian trôi qua nên cần có người nhắc
nhở, bấy giờ người ta đạt được sự an định của tâm
thức.
“Trạng
thái an định này được duy trì nhờ chú ý và tỉnh giác
liên tục, không cho phóng dật hay hôn trầm. Tăng cường sức
mạnh của tỉnh giác, người ta kinh nghiệm thức thanh tịnh
không có sự phân biệt – trần trụi, sống động và tươi
mát. Đây là những tính chất của sự an định tâm thức.
“Thức
thanh tịnh có thể được xem là một tia chớp của quán chiếu
hoàn hảo ; người ta không thực sự kinh nghiệm nó cho đến
khi nào họ đạt tới giai đoạn thứ nhất của giác ngộ
Phật tánh (sơ địa). Ở giai đoạn này, người ta thiền định,
quán tưởng những hình tướng của hóa thần bổn tôn. Làm
như thế, người ta có thể kinh nghiệm những cái nhìn thấy
và những hình tướng, nhưng những cái ấy đều vô tự tánh
và chỉ là những sản phẩm của tâm thức thiền định.
“Tóm
lại : Thứ nhất, một trạng thái sống động linh hoạt của
an định tâm thức và năng lực duy trì cùng với một trí
năng phân biện là những đòi hỏi cần thiết để đạt đến
quán chiếu toàn hảo. Chúng giống như những nấc đầu của
một cầu thang.
“Thứ
hai, mọi thiền định, với hình tướng hay không có hình tướng,
phải bắt đầu từ lòng từ bi sâu thẳm. Bất cứ điều
gì người ta làm đều phải khởi từ thái độ thương yêu
cho lợi lạc của những người khác.
“Thứ
ba, qua cái thấy toàn hảo, mọi phân biệt tan biến vào trạng
thái vô niệm.
“Cuối
cùng, với tỉnh giác về tánh Không, người ta chân thành hồi
hướng những kết quả cho lợi lạc của những người khác.
Con nghĩ đây là con đường tốt nhất trong mọi con đường.
“Như
một người đói không thể no được bằng sự hiểu biết
về thức ăn, cũng thế người ta cần kinh nghiệm trong thiền
định thật nghĩa của tánh Không. Con càng hiểu rằng để
đi đến quán chiếu hoàn hảo, cần thiết thực hành những
việc làm công đức và tự tịnh hóa, không ngừng nghỉ, giữa
những thời thiền định.
“Tóm
lại, con thấy rằng cái hiểu của thiền giả về tánh Không
của các pháp, về sự không khác nhau của các pháp và tánh
Không, về sự bất khả tư nghì của chúng và về sự bất
nhị tuyệt đối của chúng tương ứng với bốn cấp độ
nhập môn quán đảnh theo Kim Cương thừa.
“Để
làm cho sự hiểu biết này biểu lộ trong thân tâm con, con
phải điều phục thân thể, lấy bớt thực phẩm của nó,
cầm cương tâm thức và thản nhiên trước mọi hoàn cảnh
kể cả hiểm nguy và cái chết.
“Con
đã không đến trước lama và sư mẫu, người cha và người
mẹ tốt lòng không gì hơn của con, để đền đáp công ơn
bằng sự phục vụ và của cải. Nhưng con dâng cúng cái tốt
nhất con sẽ có thể đạt được trong thực hành thiền định
của con ngày nào con còn sống, và con xin các ngài chấp nhận
cái thấu hiểu tối hậu mà con sẽ đạt được trong cung
điện Ogmin :
“Đại
Lama, ngài là Phật Vajradhara,
Mẹ
Dakmema, người cưu mang chư Phật,
Và
các anh, những đứa con của những bậc Chiến Thắng,
Xin
mời các vị nghe ít lời này
Phát
sanh từ thấu hiểu và tri giác chân thật trong tâm thức con,
Con
xin chư vị từ bi nhẫn nhục chịu đựng những lỗi lầm
của con,
Vô
minh, tà kiến và những sai lầm của con.
Xin
sửa sai chúng hợp theo với Pháp.
Dưới
sự ban phước của những tia sáng chói chang
Trút
xuống từ mặt trời của lòng đại bi các ngài,
Đóa
hoa sen của tâm thức con đã nở.
Với
hương thơm này tỏa ra từ kinh nghiệm,
Con
không có gì ngoài sự biết ơn,
Con
quy lòng tôn kính thường trực về các Ngài.
Nguyện
những quả của sự thiền định của con lợi lạc cho tất
cả chúng sanh,
Trong
cố gắng đạt tới hoàn thiện.
Con
xin các ngài, nghe và thứ lỗi cho sự nhiều lời của con.”
Thầy
nói như vậy. Rồi lama nói, “Con ơi, thầy đặt hy vọng lớn
lao nơi con và hy vọng của thầy đã được thực hiện.”
Và ngài đầy hân hoan.
Sư
mẫu nói, “Đứa con này của ta có sức mạnh tâm thức để
thành tựu lớn.”
Sau
nhiều chuyện trò về đạo, cha và mẹ trở về nhà. Phần
thầy, thầy xây tường lại và thiền định.
Khoảng
thời gian này, lama thăm viếng vùng bắc xứ UŠ. Một đêm,
sau khi cử hành một lễ cúng ở nhà Marpa Golak, một dakini
giải thích cho Lama Marpa một thông điệp tượng trưng do Tổ
Naropa truyền cho mà ngài không hiểu. Khi lama đang chiêm nghiệm
về một chuyến đi thăm đức Naropa như những dakini yêu cầu,
thì một cô gái trẻ xuất hiện với thầy trong một giấc
mộng. Cô màu xanh như bầu trời và đẹp đẽ trong áo thêu
và trang sức bằng xương, lông mày và lông mi lấp lánh ánh
sáng. Cô nói với thầy, “Con của ta, con đã có giáo Pháp
Đại Ấn (Mahamudra)(5) và giáo huấn về Sáu Pháp Mật Truyền.(6)
Những cái ấy dẫn đến Giác Ngộ Tối Thượng qua thiền
định liên tục. Nhưng con không có giáo pháp đặc biệt về
Chuyển Di Tâm Thức vào Xác Chết,(7) nó dẫn đến Phật tánh
trong một phút chốc thiền định. Hãy cầu xin pháp này.”
Nói xong cô biến mất.
Thầy
thầm nghĩ, “Cô gái trẻ này mặc y phục dakini. Đó là một
mách bảo của chư thiên hay là một lường gạt của ma quỷ
? Ta không biết. Dầu là gì thì Đạo sư của ta, ngài là một
vị Phật của ba đời, chắc chắn ngài biết. Ngài không chỉ
biết một sự việc mà tất cả sự việc, từ những phương
tiện để trở thành một vị Phật xuống đến chú thuật
kết hợp lại một cái lu bị vỡ. Nếu đây là một chỉ
bảo từ chư Thiên, ta phải hỏi xin Pháp Chuyển Di Tâm Thức
vào Xác Chết.”
Thầy
phá đổ bức tường thất và đến trước lama, ngài kêu lên,
“Tại sao con đi ra đang khi ẩn cư nhập thất ? Điều này
có thể ngăn chặn sự tiến bộ của con. Tại sao con làm thế
?”
Thầy
diễn tả lại về cô thiếu nữ và điều cô đã nói với
thầy trong giấc mộng, và thầy hỏi, “Đó là một tiên tri
kêu gọi hay là dấu hiệu của một sự chướng ngại ? Con
không biết. Nếu là một tín hiệu, con phải đi xin Pháp Chuyển
Di Tâm Thức.”
Lama
suy nghĩ một chốc rồi nói, “Đó chắc chắn là một điềm
báo từ những dakini. Trước khi thầy bắt đầu trở về từ
Ấn Độ, Đạo sư Naropa có nói về giáo pháp Chuyển Di Tâm
Thức vào Xác Chết. Bởi vì thầy sắp đi, thầy không hỏi
pháp đó. Thế nên chúng ta phải kiếm nó trong tất cả mọi
kinh sách từ Ấn Độ.”
Hai
người, Đạo sư và đệ tử, cần cù tìm kiếm ngày đêm
bản văn ấy. Hai thầy trò tìm ra nhiều cuốn về chuyển di
tâm thức, nhưng không tìm ra một chút nào đề cập đến
Chuyển Di Tâm Thức vào Xác Chết. Lama nói với thầy, “Dấu
hiệu thầy đã nhận ở vùng bắc của miền Trung Tây Tạng
đòi hỏi thầy phải làm cùng một cầu xin như vậy. Bởi
vì có những giáo pháp khác thầy chưa hiểu, thầy sẽ đi
đến đức Naropa và cầu xin chúng.”
Thầy
nhắc nhở ngài về tuổi tác của ngài, nhưng không thuyết
phục nổi ngài từ bỏ ý định. Ngài chuyển đổi những
lễ vật của các đệ tử thành vàng, đựng đầy một bình,
và đi Ấn Độ.
Đức
Naropa đã ra đi để dấn thân vào thực tập những đại thần
lực thiền định. Marpa mong muốn gặp được ngài dù phải
hy sinh tánh mạng, tham vấn nhiều điềm triệu, và biết rằng
ngài sẽ tìm thấy Tổ. Cầu nguyện nhiệt thành, ngài liên
tục tìm kiếm Tổ. Ngài gặp đức Naropa trong một rừng nguyên
sinh và mời Tổ đến chỗ ẩn cư Puhlla Hari. Ở đó ngài cầu
xin giáo huấn về Chuyển Di Tâm Thức vào Xác Chết.
Đạo
sư Naropa trả lời, “Con có nghĩ đến nó hay con nhận một
dấu hiệu ?”
“Chuyện
này không vào tâm thức con, con cũng không có một dấu hiệu.
Một đệ tử của con, tên là Tin Lành đã nhận một khuyến
khích từ những dakini và đến hỏi xin con giáo huấn ấy.”
“Kỳ
diệu thay !” Tổ Naropa kêu lên. “Trong xứ sở tối tăm Tây
Tạng, người đệ tử này giống như mặt trời mọc trên
những đỉnh tuyết.”
Tổ
đưa hai tay chắp lên trên đầu tôn kính và nói :
“Hỡi
đệ tử tên gọi Tin Lành,
Ta
lễ lạy trước người,
Như
mặt trời mọc lên trên tuyết
Trong
những bóng đen của miền bắc âm u.”
Khi
nói thế, Tổ nhắm mắt và cúi đầu ba lần. Và ở Ấn Độ
những núi non và cây cối nghiêng mình ba lần về hướng Tây
Tạng. Đến ngày nay, những đỉnh núi và ngọn cây của Puhlla
Hari vẫn hướng về Tây Tạng. Đức Naropa ban cho ngài Marpa
trọn vẹn giáo pháp bí mật được những dakini trao truyền.
Rồi Tổ giải thích một số điềm triệu. Chẳng hạn, cung
cách lễ lạy của Marpa nói trước rằng dòng dõi gia đình
riêng của ngài sẽ ngắn ngủi, nhưng dòng phái tâm linh mà
dòng chảy được tạo thành bởi hoạt động ban trải giáo
pháp sẽ được miên trường như một dòng sông vĩ đại.
Sau đó Marpa trở về Tây Tạng.
Một
thời gian sau, những nhà sư và đệ tử tưởng niệm ngày
mất của con ngài Marpa là Darma Doday, chuyện này đã xảy ra
như đã được tiên báo trong điềm triệu. Khi tất cả tụ
họp làm lễ giỗ, những đệ tử hỏi ngài Marpa, “Lama Rinpoche,
con trai ngài giống như một vị Phật. Giờ đây niềm hy vọng
nhất của anh em chúng con đã ra đi, và Thầy cũng không còn
trẻ. Dòng Pháp Kagyuš quý báu sẽ được truyền thừa như
thế nào ? Xin hãy nói cho chúng con kỷ luật và công việc
chúng con cần phải theo.”
Lama
trả lời, “Thầy và tất cả những người dòng dõi của
Đạo sư Naropa có khả năng tiên tri nhờ những giấc mộng.
Đức Naropa đã cho một tiên tri tốt lành về Dòng Pháp Kagyuš.
Hỡi các đệ tử chánh của thầy, bây giờ hãy đi và chờ
đợi những giấc mộng của các con.”
Sau
đó, những đệ tử trình lại những giấc mộng của họ.
Dù tất cả đều có những giấc mộng thiện lành, nhưng không
thể rút ra một dấu hiệu báo trước nào trong đó. Thầy
có một giấc mộng về bốn cây trụ cột mà thầy trình lại
với lama như sau :
“Vâng
lời dạy của Lama Phật Vajradhara,
Đêm
qua con đã thấy một giấc mộng.
Con
xin kể giấc mộng đó cho lama,
Kính
mong thầy nghe với lòng từ ái.
Con
đã mộng rằng trong phía Bắc bao la của thế giới
Một
ngọn núi tuyết hùng vĩ vươn cao,
Đỉnh
trắng ngần chạm đến bầu trời,
Xoay
quanh nó là mặt trời mặt trăng,
Ánh
sáng nó tỏa đầy khắp không gian,
Và
chân núi trùm cả địa cầu.
Những
dòng sông chảy xuống trong bốn hướng chánh,
Giải
cơn khát cho hết thảy chúng sanh,
Và
những dòng nước ấy đổ vào đại dương bát ngát.
Có
vô số đóa hoa lấp lánh.
Đó
là tổng quát giấc mơ con thấy.
Con
xin nói ra cho Lama Phật của Ba Đời.
Con
đã mộng thấy nơi hướng Đông ngọn núi hùng vĩ kia
Một
cột trụ khổng lồ dựng đứng.
Trên
đỉnh trụ một con sư tử lớn đang co mình.
Bờm
nó xanh lục phất bay muôn hướng,
Giương
những móng vuốt dài trên tuyết,
Đôi
mắt nó chăm chắm nhìn trời cao,
Và
hiên ngang dạo chơi trên mênh mông tuyết trắng.
Con
xin nói ra cho Lama Phật của Ba Đời.
Con
đã mộng thấy phía Nam núi một cột trụ vĩ đại.
Trên
đỉnh trụ một con hổ cái đang gầm
Lông
vằn dày phủ đầy thân.
Nó
mỉm cười ba lần.
Giương
những móng vuốt trên rừng núi,
Đôi
mắt nó chăm chắm nhìn trời cao,
Và
kiêu hãnh lướt trên rừng dầy đặc.
Những
cây tuyết tùng trong rừng đan nhau rậm rạp.
Con
xin nói ra cho Lama Phật của Ba Đời.
Con
đã mộng thấy phía Tây núi một cột trụ vĩ đại.
Trên
đỉnh trụ một con chim garuda(8) khổng lồ bay vút.
Đôi
cánh chim garuda trải rộng,
Hai
mào của nó hướng lên những tầng trời,
Đôi
mắt nó chăm chắm nhìn trời cao
Và
vỗ cánh bay qua không gian vô hạn.
Con
xin nói ra cho Lama Phật của Ba Đời.
Con
đã mộng thấy phía Bắc núi một cột trụ vĩ đại,
Trên
đỉnh trụ một con kên kên vụt bay,
Đôi
cánh nhọn của nó dang rộng,
Tổ
kên kên nằm trên vách đá.
Nó
có một con chim non mới biết bay
Và
trên trời đầy những con chim nhỏ.
Chim
kên kên chăm chắm nhìn trời cao
Và
tự mình vút qua không gian cao rộng.
Con
xin nói ra cho Lama Phật của Ba Đời.
Con
cho rằng đây là một điềm lành
Và
sung sướng với điều tốt lành ấy.
Bạch
Thầy, con mong thầy giải nghĩa cho con.”
Thầy
nói như thế, và lama vui vẻ trả lời, “Giấc mộng này là
một giấc mộng phước đức ! Sư mẫu, hãy sửa soạn cho
một tiệc lễ.”
Sư
mẫu đem ra những vật cần thiết, và khi bà sửa soạn, những
đệ tử và những đứa con tâm linh nhóm lại.
Lama
nói với họ, “Mila Kim Cương Ngọn Cờ Chiến Thắng đã có
một giấc mơ kỳ diệu !”
Những
đại đệ tử hỏi, “Thầy biết cách giải những điềm
báo của giấc mộng, xin thầy nói cho bọn con.”
Bấy
giờ Đạo sư toàn thiện và Đại Dịch Giả, ca bài kệ này,
vén màn giấc mộng cho những đệ tử :
“Đức
Phật của Ba Đời, Đạo sư Naropa
Con
xin lễ lạy dưới chân Ngài.
Tất
cả đệ tử ngồi ở nơi đây,
Hãy
nghe những điềm triệu kỳ lạ của tương lai
Do
giấc mộng báo cho biết
Mà
ta, người Cha già của các con, sắp nói cho nghe.
Vùng
Bắc của thế giới là Tây Tạng
Nơi
Phật pháp sẽ truyền rộng thịnh hưng.
Ngọn
núi phủ tuyết kia
Là
Đại Dịch Giả Marpa già nua
Và
Giáo Pháp Kagyuš.
Đỉnh
núi tuyết chạm đến bầu trời
Là
cái quán chiếu vô song không gì sánh.
Mặt
trời mặt trăng xoay quanh chót đỉnh
Là
thiền định tỏa chiếu trí huệ và đại bi.
Ánh
sáng đầy khắp không gian
Là
lòng bi trừ diệt bóng tối của vô minh.
Chân
núi trùm cả địa cầu
Là
hoạt động tỏa khắp của giáo pháp mở bày.
Bốn
dòng sông chảy trong bốn hướng chính
Là
bốn phương diện của quán đảnh và giáo huấn.
Những
sông này giải cơn khát của hết thảy chúng sanh
Là
để cho sự tiến bộ và giải thoát của những hành giả.
Tất
cả sông đổ vào biển cả
Là
sự hợp nhất trở lại của bổn giác mẹ và thủy giác con.
Tất
cả đóa hoa khác nhau lấp lánh
Là
sự hưởng thụ quả thanh tịnh không tì vết.
Nói
chung giấc mộng rất tốt lành
Hỡi
các sư và sư đệ hội tụ nơi đây.
Cột
trụ vĩ đại dựng đứng ở phía Tây
Trên
ngọn núi tuyết cao vời hùng vĩ
Là
Tshurtošn Ouangnge xứ Došl.
Con
sư tử ngự trị trên đỉnh cột
Nghĩa
là Tshurtošn có bản tính sư tử.
Bờm
xanh lục phất phơ của nó
Là
sự chứng ngộ giáo huấn Mật thừa.
Bốn
móng vuốt giương dài trên tuyết
Là
sở hữu Bốn Vô Lượng Tâm.
Nó
chăm chắm nhìn trời cao
Là
sự lìa khỏi thế giới của sanh và tử.
Dạo
chơi hiên ngang trên mênh mông tuyết trắng
Là
sự vào trong cõi giới giải thoát
Giấc
mộng phía Tây rất tốt lành,
Hỡi
các sư và đệ tử hội tụ nơi đây.
Cột
trụ vĩ đại dựng đứng ở phía Nam
Là
Ngokton Chodor xứ Shung.
Con
hổ cái gầm trên đỉnh trụ
Nghĩa
là Ngokton có bản tính hổ cái.
Lông
vằn dày phủ khắp thân
Là
sự chứng ngộ giáo huấn Mật thừa.
Ba
lần nó mỉm cười
Là
sự thấu suốt Ba Tạng kinh điển.
Bốn
móng giương trên rừng núi
Là
sự thành tựu bốn hoạt động.
Nó
chăm chắm nhìn trời cao
Là
sự lìa khỏi thế giới của sanh và tử.
Đi
kiêu hãnh trên rừng dày dặc
Là
sự vào trong cõi giới giải thoát.
Những
cây tuyết tùng trong rừng đan nhau rậm rạp
Nghĩa
là một dòng con cháu kế thừa.
Giấc
mộng phía Nam rất tốt lành,
Hỡi
các sư và đệ tử hội tụ nơi đây.
Cột
trụ vĩ đại dựng đứng nơi mặt trời lặn
Là
Đại Metošn xứ Tsangrong
Chim
garuda khổng lồ bay vút trên đỉnh trụ
Nghĩa
là Metošn có bản tính chim garuda.
Đôi
cánh chim garuda trải rộng
Là
sự chứng ngộ giáo huấn Mật thừa.
Hai
mào của nó hướng lên những tầng trời
Nghĩa
là sự hoàn thiện trong thiền định và quán chiếu.
Nó
chăm chắm nhìn trời cao
Là
sự lìa khỏi thế giới của sanh và tử.
Nó
bay qua không gian vô hạn
Là
sự vào trong cõi giới giải thoát
Giấc
mộng phía Tây rất tốt lành,
Hỡi
các sư và đệ tử hội tụ nơi đây.
Cột
trụ vĩ đại dựng đứng ở phía Bắc
Là
Milarepa xứ Gungthang
Con
kên kên vút bay trên đỉnh trụ
Nghĩa
là Mila giống như kên kên.
Đôi
cánh nhọn của nó dang rộng
Là
sự chứng ngộ giáo huấn Mật thừa.
Tổ
chim của nó trên vách đá
Nghĩa
là đời Mila sẽ còn cứng hơn đá.
Con
chim non đủ lông cánh của kên kên này
Nghĩa
là anh sẽ có một đệ tử lỗi lạc.
Những
con chim nhỏ đầy không gian
Nghĩa
là sự truyền rộng Giáo Pháp Kagyuš.
Nó
chăm chắm nhìn trời cao
Là
sự lìa khỏi thế giới của của sanh và tử.
Đường
bay qua không gian bao la
Là
sự vào trong cõi giới giải thoát.
Giấc
mộng phía Bắc rất tốt lành,
Hỡi
các sư và đệ tử hội tụ nơi đây.
Công
việc của lão già sắp hoàn tất.
Với
các con, hỡi những đệ tử, giờ của các con đã tới.
Nếu
lời tiên tri của lão già này hiện thực,
Thì
giáo pháp toàn hảo được truyền thừa đến đây,
Sẽ
mở rộng và kéo dài trong mai hậu.”
Ngài
nói như thế. Bấy giờ tất cả mọi người có mặt ngập
đầy vui mừng. Lama cho những đại đệ tử xem kho tàng giáo
pháp và giáo huấn đặc biệt. Ngài dạy cho bọn thầy ban
ngày và bọn thầy vui mừng thiền định về chúng vào ban
đêm.
Một
đêm, khi ngài đang ban Quán Đảnh Anatmata(9) lama bắt đầu
suy nghĩ về giáo huấn đặc biệt nào cần phải cho mỗi đệ
tử được tiền định để đảm trách công việc hoằng dương
giáo pháp. Ngài quyết định tham khảo các điềm triệu vào
lúc bình minh.
Ngày
hôm sau, khi bình minh ló dạng, ngài thấy những đại đệ
tử của mình. Ngokton Chodor xứ Shung đang bình giảng về bản
văn của Yidam Hevajra. Tshurtošn Ouangnge xứ Došl đang thiền
định về Chuyển Di Tâm Thức, Đại Metošn xứ Tsangrong đang
thiền định về sự Thanh Tịnh của Tánh Giác.(10) Về phần
thầy, thầy đang thiền định về lửa Tummo. Như thế lama
biết công việc đặc biệt nào cho mỗi người trong huynh đệ
thầy.
Bấy
giờ ngài truyền cho Ngokpa sáu cách và bốn phương pháp(11)
để giải thích Giáo pháp Mật thừa, nó phơi bày giáo pháp
như một chuỗi hạt trai đẹp đẽ. Và ban cho ông sáu viên
ngọc của Naropa, xâu chuỗi hồng ngọc, một cái muỗng và
một cái lọc là đồ để cúng, và một bình giải tiếng
Phạn về Tantra Hevajra. Rồi ngài nói với ông, “Hãy làm việc
cho lợi lạc của tất cả chúng sanh bằng thuyết giảng về
giáo pháp.”
Tshurtošn
Ouangnge xứ Došl được truyền cho Chuyển Di Tâm Thức, như
một con chim bay qua cửa sổ mở ; ngài ban cho ông một lọn
tóc của Naropa, những móng tay của Naropa, những viên thuốc(12)
cam lồ, và một vương miện gọi là Năm Bộ Phật(13) Rồi
ngài nói, “Hãy làm việc cho sự thông thạo Chuyển Di Tâm
Thức.”
Đại
Metošn xứ Tsangrong được truyền cho sự thông thạo về sự
Thanh Tịnh của Tánh Giác, nó giống như một ngọn lửa được
thắp lên trong bóng tối ; ngài ban cho ông chuông và chày kim
cương của Naropa, trống và kapala(14) nối với hạt trai lớn
của ngài. Và ngài nói với ông, “Hãy tự giải thoát con
khỏi trạng thái trung ấm của Bardo.”
Với
thầy, ngài truyền cho giáo huấn truyền miệng bí mật Lửa
Tummo, giống như một ngọn lửa củi tốt, và ban cho thầy
cái mũ của Maitrepa và y phục của Naropa. Rồi ngài nói, “Hãy
đi và lang thang trong những vùng núi cằn cỗi và những miền
tuyết trắng, và hãy thực hành cái thấy toàn hảo và thiền
định.”
Cuối
cùng, trước tất cả nhà sư tụ hội cho buổi tiệc lễ,
ngài nói, “Ta đã cho các con những giáo huấn của ta như
những điềm triệu đã báo trước. Ta đã truyền cho mỗi
đệ tử cao cấp nhất của ta công việc của từng người
cũng như lợi lạc lớn lao của giáo pháp. Bởi vì con ruột
của ta, Darma Doday Bušm, không còn ở đây nữa, ta đã trao
cho các con Giáo Pháp Kagyuš và sự truyền chuyển năng lực
giác ngộ của ta như di sản thừa kế. Bởi thế, hãy đầy
siêng năng và sự lợi lạc cho tất cả chúng sanh sẽ tăng
trưởng.” Rồi những đại đệ tử ra đi, mỗi người về
vùng riêng của mình.
Lama
nói với thầy, “Về phần con, hãy ở gần thầy ít năm.
Thầy sẽ cho con quán đảnh và giáo huấn đặc biệt. Con cần
cũng cố kinh nghiệm bên trong của con với sự có mặt của
lama của con. Bởi thế, hãy ở lại trong nhập thất trọn
vẹn.”
Như
đức Naropa đã tiên tri, thầy rút vào hang động tên là Dzangpušhk
Drok. Cha và mẹ cho thầy lương thực, gồm phần chia những
lễ cúng. Và các vị làm điều này bằng lòng nhân hậu vĩ
đại.
Milarepa
nói như thế. Đến đây là hết chương thứ tư, nói về Milarepa
qua thiền định với lama đã làm nẩy mầm hạt giống sự
tỉnh thức của ngài.